PDA

View Full Version : Saigon: Bị xâm lược bởi Pháp


Pasudin-10
07-24-2008, 11:34 AM
PHÁP CHIẾM SÀI GÒN VÀ TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC XÂM LƯỢC VIÊT NAM

Tháng 4-1857, Napoléon III quyết định thành lập một ủy ban nghiên cứu về Việt Nam (Commission de la Cochinchine) do hầu tước Brenier đứng đầu và 4 ủy viên Pierre Cintrat, Phó Đề đốc Fourichon, Đại tá hải quân Jamès, đại diện Bộ Thương mại Fleury và thư ký De Mofras.

Qua 7 phiên họp (từ 28-4 đến 18-5-1859), Ủy ban đã thảo luận 4 vấn đề chính: pháp lý, kinh tế, chính trị và quân sự và cuối cùng đã kết luận: Pháp cần xâm chiếm Việt Nam. Trung tướng Rigault de Genouilly được giao nhiệm vụ "chiếm Tourane" (Đà Nẵng) và giữ vững ở đó. Ngày 1-9-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược. Nhưng chiến lũy Liên Trì, chiến thuật vườn không nhà trống và khí hậu khắc nghiệt đã khiến cho Rigault de Genouilly thất bại trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh. Cuối cùng, y quyết định chọn mục tiêu thứ hai là Sài Gòn...

QUÂN PHÁP ĐÁNH CHIẾM SÀI GÒN

Vào giữa thế kỷ XIX, lịch sử Việt Nam bắt đầu những trang đen tối khác. Với dã tâm xâm lược. Pháp đã can thiệp quân sự vào Việt Nam bằng cách đánh chiếm Nam Kỳ rồi Bắc và Trung Kỳ, áp đặt chế độ đô hộ trên toàn bộ lãnh thổ nước ta. Các nước châu Âu, đứng đầu là hai đại đế quốc Anh và Pháp đang tranh giành ráo riết các thuộc địa màu mỡ ở châu Phi, châu Á, vừa để độc quyền khai thác các tài nguyên phong phú, vừa mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp của mình. Riêng đối với Việt Nam, các nước phương Tây đã nhiều lần ngỏ ý muốn thiết lập bang giao, nhất là Pháp, do mối quan hệ đã có từ khi Nguyễn Phúc Ánh chưa thiết lập vương quyền nhà Nguyễn. Yý đồ của Pháp là thực hiện chiến lược bành trướng đế quốc thuộc địa tại châu Á, sau khi bị người Anh gạt ra khỏi Ấn Độ. Cho nên người Pháp rất muốn triều đình Huế dành cho họ đặc quyền buôn bán ở Việt Nam. Khi bị triều đình Huế nhiều lần từ chối (giai đoạn 1817-1831) Pháp liền đưa quân đến xâm lược nước ta.

Đến 1850, Đệ nhị đế chính ở Pháp được thiết lập. Tình hình nội bộ Pháp đã ổn định. Lợi dụng việc cấm đạo của các vua nhà Nguyễn, và tác động của Hoàng Hậu Eugenie Marie De Montixo De Guzman người rất được triều đình Tây Ban Nha ủng hộ, Pháp hoàng Napoléon III quay lại chính sách can thiệp trước đây, với tư cách là người bảo vệ quyền truyền giáo của Hội truyền giáo hải ngoại Paris, người bảo vệ quyền lợi của Đệ nhị đế chính Pháp. Ngoài ra, sự can thiệp bằng vũ lực của Pháp vào Việt Nam còn là một thủ đoạn chính trị hết sức tinh vi của Napoléon III nhằm vô hiệu hóa sự chống đối của quân đội, giới thương nhân và nhất là của giáo hội Thiên chúa giáo với tham vọng độc quyền giáo tại Việt Nam. Hoàng đế Pháp Napoléon III quyết định cho tiến hành "Chính sách ngoại giao pháo hạm" đối với nước ta. Năm 1855, triều đình Pháp cử đặc sứ De Montigni đến các nước châu Á thảo luận ký hiệp ước thông thương.

Trong khi vị đặc sứ này còn đang thương thuyết ở Cao Miên thì ba hộ tống hạm Pháp đã đến Việt Nam trước. Ngày 17-9-1856 hộ tống hạm Catinat cập bến Đà Nẵng gặp phải sự đón tiếp căng thẳng, hạm trưởng Hải quân Trung tá Le Lieur đã cho nổ súng bắn phá các pháo đài phòng thủ cửa biển Đà Nẵng. Thái độ thù địch của lực lượng hải quân Pháp tại Đà Nẵng làm cho các đề nghị thương thảo sau này của đặc sứ Montigni không được triều đình Huế chấp nhận. Giám mục Pellerin vội vã lên đường về Pháp, vận động triều đình Pháp can thiệp vũ lực vào Việt Nam. Napoléon III cho lập ngay "Ủy ban Nam Kỳ" (Commission de la Cochinchine). Trong phiên họp tháng 4-1857. Ủy ban Nam Kỳ khuyến cáo chính phủ Pháp phải chiếm giữ ba thương cảng chính của Việt Nam mà các thương nhân Pháp thường lui tới là: Kẻ Chợ, Đà Nẵng và Sài Gòn. Việc chiếm cứ này sẽ có lợi cho Pháp trên cả ba phương diện: Chính trị, thương mại và uy tín của đế quốc Pháp. Napoléon III chấp thuận đề nghị của Ủy ban và ra lệnh cho vị Tư lệnh hạm đội Pháp ở Viễn Đông, Phó Đô đốc Hải quân Rigault de Genouilly ngày 25-11-1857 phải đưa chiến hạm đến chiếm Đà Nẵng. Nhưng mãi đến 1-9-1858 hạm đội Pháp gồm 14 chiến hạm, 3000 quân mới đến nơi. Quân Pháp với sự hỗ trợ lực của một đơn vị bộ binh Tây Ban Nha do Đại tá Lanzarotte chỉ huy đã cùng tiến đánh cảng Đà Nẵng.

Sau khi chiếm hai đồn phòng thủ của Đà Nẵng, Phó Đô đốc Rigault De Genouilly nhận thấy không thể dùng Đà Nẵng làm căn cứ được, vì tình hình chiến sự trở nên phức tạp, quân triều đình Huế kháng cự mãnh liệt, không giống như các báo cáo của các giáo sĩ Pháp đã gửi cho Bộ hải quân và thuộc địa, do đó ông buộc phải thay đổi phương án chiếm đóng.

Đầu năm 1859, thay vì đem cả hạm đội ra vịnh Bắc Kỳ theo đúng kế hoạch dự kiến, De Genouilly quyết định đem quân vào đánh Nam Kỳ, giao cho Đại tá Toyon chỉ huy một đơn vị nhỏ, giữ các cứ điểm chiếm được ở Đà Nẵng. Việc thay đổi quyết định của De Genouilly được lý giải bởi các yếu tố sau: Nam Kỳ (La Basse Cochinchine) là vựa lúa nuôi cả quân đội nhà Nguyễn và kinh đô Huế.Vị trí Sài Gòn có những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi về mặt giao thông hàng hải, thương mại đã được các nước phương Tây chú ý ngay từ những năm đầu thế kỷ XIX. Thời điểm bấy giờ đang mùa gió Đông Bắc thuận lợi cho việc hạm đội Pháp xuôi Nam.

Hạm đội hải quân gồm các chiến hạm Phlégéton, Primauguet, các pháo hạm L'Alarme, L'Avalanche, La Dragonne, các vận chuyển hạm La Durance, La Meurthe, La Saône và thông báo hạm máy hơi nước El Cano. Tất cả rời Đà Nẵng ngày 2-2-1859, đến ngày 9-2 thì tập kết tại cửa sông Sài Gòn. Sáng ngày 10-2 chiến hạm Pháp pháo kích phá hủy 2 pháo đài phòng vệ trên bờ biển Vũng Tàu. Ngày 11-22 chiến hạm Pháp Phlégéton pháo kích phá hủy đồn Cần Giờ. Soái hạm của R.De Genouilly ngược sông Sài Gòn, dẫn đầu một đoàn chiến thuyền gồm hai chiếc hộ tống hạm máy hơi nước, ba pháo hạm và một thông báo hạm máy hơi nước của Tây Ban Nha, kéo theo nhiều xà-lúp và canô chở quân trang quân dụng. Từ ngày 11-2 đến 15-2 quân Pháp lần lượt triệt hạ đồn phòng vệ của triều đình Huế đóng dọc theo sông Sài Gòn, sẵn sàng đánh chiếm Sài Gòn. Lũy thành Sài Gòn được tổ chức phòng thủ hai mặt: mặt Nam là hai pháo đài phòng vệ, mặt Bắc là một lũy thành với nhiều pháo đài lồi.

Tối 15-2 Rigault de Genouilly cho tấn công và hủy diệt ngay một trong hai pháo đài ở mặt Nam, pháo đài còn lại cũng bị triệt hạ vào sáng 16-2. Tiếp tục việc chiếm đóng Sài Gòn chiến hạm L'Avalanche đi trinh sát hệ thống phòng thủ của lũy thành phía Bắc. 17-2-1859 các tàu chiến Pháp án ngữ đúng vị trí được phân công: chiến hạm Phlégéton trực diện cổng thành, chiến hạm Primauguet và hai pháo hạm L'Alarme, L'Avalanche, bảo vệ mặt trận phía trước, còn pháo hạm La Dragonne, Le Prigrent và thông báo hạm El Cano bảo vệ mặt trận phía sau. Tất cả đồng loạt nổ súng để yểm trợ lực lượng đổ bộ áp sát mục tiêu. Thiếu tá Henri des Paillères cầm đầu hai đại đội bộ binh đánh vào sườn trái. Trong khi đó Đại úy Gallimard dẫn toán công binh có nhiệm vụ đánh sập cửa lớn và các vách thành, hỗ trợ cho bộ binh tràn vào thành. Một đại đội khinh binh Tây Ban Nha dưới quyền của Thiếu tá Palance nằm chờ tăng viện cho hai cánh quân trên. Một tiểu đoàn trừ bị nằm đợi lệnh trên bãi công dưới quyền chỉ huy của Trung tá Raybaud. Trong khi đó lực lượng Tây Ban Nha dưới quyền của Đại tá Lanzarotte cùng một nửa tiểu đoàn hải quân ở cánh tả, được lệnh áp sát vách thành. Quân triều đình bị tấn công dưới hỏa lực ác liệt của quân Pháp sớm bị đánh tan, cùng lúc đó ở sườn mặt, một cánh quân của triều đình hơn 1000 người, vẫn tiếp tục cầm cự dưới trận mưa pháo của đại đội bộ binh Pháp. Đại tá Lanzarotte được lệnh dốc toàn lực đẩy lùi cánh quân này ra khỏi mặt Bắc lũy thành Sài Gòn. Đến 10 giờ ngày 17-2 việc chiếm đóng Sài Gòn coi như hoàn tất, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã chiếm đóng nhiều vị trí, đồn binh của quân triều đình trong thành Sài Gòn.

Chỉ trong vòng một tuần lễ, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã làm chủ một vùng rộng 25 dặm dọc theo sông Sài Gòn và toàn bộ thành Sài Gòn được hòng thủ rất qui mô và kiên cố mà ta có thể thấy được qua số chiến lợi phẩm do quân Pháp thu được sau khi chiếm thành: 200 khẩu đại bác bằng sắt và đồng, một hộ tống hạm và 7 chiến thuyền gỗ còn đang nằm ụ, 20.000 vũ khí, 85.000 kg thuốc nổ, một két sắt chứa 130.000 quan. Tổn thất của triều đình Huế ước tính 20 triệu quan Pháp. Cuộc đánh chiếm Sài Gòn trong năm 1859 thực tế chỉ là một cuộc tấn công quân sự thuần túy. Bởi vì ngay sau đó toàn bộ hạm đội Pháp rút đi cùng với quân Anh đánh Trung Hoa, và chỉ để lại một đội quân trú phóng do Đại tá D'ariès trấn giữ, đánh nhau cầm chừng với quân chi viện của triều đình Huế do ông Nguyễn Tri Phương và Tham tán Đại thần Phạm Thế Hiển tổ chức chiến đấu nhằm khôi phục Sài Gòn.

Cuối năm 1860, nhà Thanh bại tận phải ký hiệp ước bất bình đẳng với Pháp - Anh, hạm đội Pháp do phó Đô đốc Charner chỉ huy quay về hoàn tất việc chiếm đóng Sài Gòn. Đầu năm 1861, quân Pháp tập trung toàn bộ lực lượng với 70 chiến thuyền, 3.500 bộ binh đánh chiếm đồn Kỳ Hòa. Rạng sáng 24-2-1861 liên quân Pháp - Tây Ban Nha tổng tiến công đồn Kỳ Hòa. Chiều ngày 25-2-1861 đồn Kỳ Hòa thất thủ, thiệt hại cả hai bên đều rất nặng nề. (Quân triều đình ông Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển bị thương nặng, ông Nguyễn Duy tử trận. Phía quân Pháp Thiếu tướng Vassoigne, Đại tá Tây Ban Nha Planca bị thương (có tài liệu nói chết). Trận đánh Sài Gòn lần 2 được triều đình Pháp đặc biệt quan tâm vì nó mở đầu cho ý đồ mở rộng thuộc địa tại Nam Kỳ, cho nên ngay ngày 27-2-1861 Phó Đô đốc Chatner gửi báo cáo khẩn cấp vể Bộ Hải quân và Thuộc địa việc hoàn tất chiếm đóng toàn bộ Sài Gòn cùng lúc với việc điều binh chiếm Biên Hòa và Định Tường. Sự thất thủ thành Sài Gòn (1859) rồi thất thủ Kỳ Hòa (1861) đã bộc lộ sự yếu kém của vua quan nhà Nguyễn. Như phần trên đã nêu, dưới triều Minh Mạng hệ thống phòng thủ kiên cố của thành Gia Định được xây dựng từ cuối thế kỷ XVIII bị phá bỏ, nhất là việc thao luyện quân sự không được chú trọng, quân sĩ không quen chiến trận dễ bị tan rã khi lâm trận, dù dự trữ lương thực, vũ khí rất dồi dào. Từ sự yếu kém đó dẫn đến những di hại nghiêm trọng khác trong việc tìm hiểu và đánh giá đúng kẻ địch, chọn đối sách hợp lý trước kẻ địch đầy dã tâm. Cho nên ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy triều đình Huế đã chọn sách lược nhượng bộ rồi đầu hàng, dù tại triều đình cũng có phái "chủ chiến" ngay trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lược Pháp. (Theo sách Sài Gòn từ khi thành lập đến giữa thế kỷ 19 - NXB TPHCM 1998)

(còn tiếp)

(SƯU TẦM)

csx2002
07-24-2008, 04:17 PM
PHÁP CHIẾM SÀI GÒN VÀ TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC XÂM LƯỢC VIÊT NAM

hạm đội Pháp gồm 14 chiến hạm, 3000 quân mới đến nơi. Quân Pháp với sự hỗ trợ lực của một đơn vị bộ binh Tây Ban Nha do Đại tá Lanzarotte chỉ huy đã cùng tiến đánh cảng Đà Nẵng.

Chỉ trong vòng một tuần lễ, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã làm chủ một vùng rộng 25 dặm dọc theo sông Sài Gòn và toàn bộ thành Sài Gòn được hòng thủ rất qui mô và kiên cố mà ta có thể thấy được qua số chiến lợi phẩm do quân Pháp thu được sau khi chiếm thành: 200 khẩu đại bác bằng sắt và đồng, một hộ tống hạm và 7 chiến thuyền gỗ còn đang nằm ụ, 20.000 vũ khí, 85.000 kg thuốc nổ, một két sắt chứa 130.000 quan. Tổn thất của triều đình Huế ước tính 20 triệu quan Pháp.



thế này thì phải xem lại quân nhà mình nhỉ? với trang bị thế này chắc hẳn số lính của VN tối thiểu phải 20.000 người. Chả hiểu đánh đấm thế nào?

Haintz
07-24-2008, 04:45 PM
thế này thì phải xem lại quân nhà mình nhỉ? với trang bị thế này chắc hẳn số lính của VN tối thiểu phải 20.000 người. Chả hiểu đánh đấm thế nào?

Em thử lý giải xem:
Mỗi năm được tập bắn 5 phát. thì làm sao bắn giỏi, và hiện thời điểm đó thì vũ khí lạnh vẫn là chủ yếu nên xông lên mà thấy người bên cạnh cứ hy sinh người này đến người khác ... vì vậy mất tinh thần.

Chưa kể đến chiến lược của nhà ta là phòng thủ bị động ... mà cá này là sở đoản muôn đời rồi. Có bao giờ giữ được cái thành nào đâu mà cứ thủ kiểu đó. Em không dám nói Nguyễn Tri Phương dở (Chiến tướng số 1 thời Tự Đức mà) nhưng mà chắc ổng lúc đó già quá nên đâm ra quá thận trọng không như lúc trẻ.

Tính tiếp là trang bị súng ống của ta là từ thời Gia Long- Quang Trung rồi. Bắn sao lại ^_^

Nói chung thì thua là phải. Em nhớ không lầm thì Hà Nội bị bụp do 1 hay 2 đại của Pháp thôi.

Thân

csx2002
07-24-2008, 05:11 PM
cũng không có tư liệu gì để biết mấy ổng đánh đấm thế nào cả. Nguyễn Tri Phương hồi ở Đà Nẵng cũng bị thua, sau đó đắp thành dọc bờ biển để ngăn Pháp đi vào. Đến lúc SG thất thủ rồi mà đánh đấm thế nào ko biết, cả năm ko lấy lại được mới đau. Chắc ông Phương nghĩ là Pháp chỉ còn từng ấy quân nên bao vây đánh tiêu hao, đâu ngờ 1 năm sau nó lại quay lại.
Nói về chiến thuật thì hồi ở Sơn Tây quân Cờ Đen có phục kích giết được khá nhiều Pháp đấy chứ. Hội này trang bị còn kém hơn quân chính quy, mà lại còn là dân TQ đánh thuê.

Pasudin-10
07-24-2008, 06:19 PM
NGUYỄN TRI PHƯƠNG VÀ ĐẠI ĐỒN CHÍ HÒA
a) Đại đồn Chí Hòa
Đại đồn Chí Hòa (người Pháp đọc là Ki Hoa, rồi ra lại theo đó mà gọi là Kỳ Hòa) được xây dựng trên làng Chí Hòa, có hình thang mà đáy nhỏ ngang Bà Quẹo, đáy lớn ngang với ga Sài Gòn và đường 3 tháng 2 bây giờ. Hai mặt Tây và Đông chạy dọc theo hai bên đường Cách Mạng Tháng Tám (bấy giờ là đường Thiên Lý đi Nam Vang). Đại đồn rộng chừng 3 cây số vuông, chia làm 5 khu. Thành cao 3,5m, dày 2m. Trên mặt thành và sát vách thành có hàng rào tre gai, phía ngoài là hào sâu có cắm chông dày và các hố chữ phẩm. Bố trí quanh thành là 150 đại bác. Từ đại đồn về phía chùa Cây Mai, quân ta đắp một chiến lũy dài và xây dựng đồn Hữu làm điểm tựa. Từ đại đồn về phía rạch Thị Nghè cũng đắp một chiến lũy tương tự với đồn Tả. Từ Bà Quẹo tiến về phía Bắc là các đồn Tham Lương, Thuận Kiều, Rạch Tra... Trong tình thế đó thì Chasseloup Laubat được bổ nhiệm làm Thượng thư Bộ Thuộc địa. Y cương quyết thúc đẩy việc thành lập một thuộc địa vĩnh viễn tại Nam Kỳ. Chiến tranh với Trung Hoa chấm dứt với Hòa ước Bắc Kinh (10- 1860), Đô đốc Charner kéo hạm đội về Sài Gòn. Ngày 7-2-1861, Charner đến Sài Gòn cùng với 3 tiểu đoàn bộ binh, 1.200 lính thủy đánh bộ, 600 dân phu mộ ở Quảng Châu và gần đầy đủ một hạm đội. Thêm 9 đại đội tăng viện từ Pháp, 800 quân Pháp và Tây Ban Nha đồn trú từ trước ở Sài Gòn, 150 kỵ binh từ Philippines đến, quân số dưới quyền chỉ huy của Charner lên đến 5.000 với gần 70 tàu chiến. Rõ ràng là một lực lượng rất mạnh so với quân ta ở Sài Gòn cho dù quân số của quân ta đông hơn: 22.000 khinh binh, 10.000 cơ binh và 15.000 quân đóng ở Biên Hòa như là lực lượng tiếp ứng. Với lực lượng như thế, Charner sẵn sàng đối chiến với quân triều đình để mở rộng vùng chiếm đóng.

b) Trận chiến Chí Hòa
Ngày 24-2-1861, từ 4 giờ sáng, trọng pháo Pháp bắt đầu nhả đạn vào thành lũy ta, khởi đầu cuộc tấn công đại đồn. Quân Pháp không đánh thẳng vào mặt phía Nam là mặt đối diện với bờ sông Sài Gòn mà chọn thế đánh ngang hông xuất phát từ đồn Cây Mai. Lúc 5 giờ sáng, lực lượng chủ lực phát xuất từ đồn Cây Mai bắt đầu tấn công vào đồn Hữu. Pháo ta bắn trả dữ dội, đồng thời cho voi xung trận. Pháp điều động trọng pháp lên trước, chỉ cách đồn Hữu 500m và nhả đạn liên tục vào đồn để yểm trợ cho lục quân áp thành, dùng thang leo vào. Trọng pháo nhả ít nhất 500 viên vào đồn và cuối cùng chiếm được đồn Hữu. Sáng hôm sau, ngày 25-2-1861, từ 5 giờ sáng, quân Pháp chia làm 3 cánh tấn công vào thành phía Tây của đại đồn. Trọng pháo Pháp, vẫn theo một chiến thuật cổ điển, liên tiếp nhả đạn vào đồn để chuẩn bị cho lục quân áp thành. Mặt trời mọc làm trọng pháo không nhắm được. Tên trung tá Crouzat ra lệnh đưa súng vào chỉ cách thành 200m và trực xạ. Thành vỡ, quân ta và địch đánh cận chiến trong từng khu vực.

Về phía địch có 12 tên chết và 300 tên bị thương, có Đại tá Palanca. Trung tá Testard chết sau đó vì vết thương quá nặng. Bên ta, Nguyễn Tri Phương bị thương, Tán lý Nguyễn Duy (em Nguyễn Tri Phương), Tán tương Tôn Thất Chỉ tử trận cùng rất nhiều quân sĩ.

Nguyễn Tri Phương phải ra lệnh lui quân về phía đông Bắc. Ngày 28-2-1861, quân Pháp tấn công Hóc Môn, rồi từ Hóc Môn tiếp tục đánh đồn Tân Thới... Quân ta phải rút lui về Biên Hòa. Đại đồn Chí Hòa thất thủ sau hai ngày cầm cự. Quân Pháp thừa kế đánh chiếm Định Tường (15-4-1861), Biên Hòa (7-1-1862) và Vĩnh Long (23-3-1862). Vậy là Sài Gòn đã hoàn toàn rơi vào tay địch. Sài Gòn tan tác trong cơn binh lửa. Ngậm ngùi thay ba bốn làng Gò Vấp Cây cỏ khô, thân thể cũng khô Bát ngát nhĩ mười tám thôn vườn trầu Hoa trái rụng rời, người cũng rụng Mấy dặm Gò Đen, Rạch Kiến Ngọn lửa thiêu, sự nghiệp sạch không. (Theo sách 300 năm SG-TPHCM - NXB CTQG-98)

(SƯU TẦM)
Đây là sơ lược vài trận đánh của Nguyễn Tri Phương.

csx2002
07-24-2008, 08:06 PM
có 500 hình minh họa nữa thì tốt quá
tại sao quân VN ko tiến công phát nào nhỉ? toàn là phòng thủ thua là phải

Pasudin-10
07-24-2008, 08:28 PM
có 500 hình minh họa nữa thì tốt quá
tại sao quân VN ko tiến công phát nào nhỉ? toàn là phòng thủ thua là phải

À ừ...thực tình mình rất muốn tìm hình, có điều thời ấy thì phóng viên chiến trường chưa có, nên đành chịu coi tài liệu chay vậy :4::4::4:

csx2002
07-25-2008, 07:13 AM
Có vài cái hình để hình dung:
http://mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=16897&stc=1&d=1216944483
http://mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=16898&stc=1&d=1216947022
Saigon 1859
Đọc thêm bài này mới thấy ngay cả NTP cũng bất lực, triều đình thì rối loạn:
http://www.nguyetsanlonghoa.net/b1007VoHuongAn.htm
Súng trường nạp hậu: đến năm 1873 quân Pháp ở trong nước mới được dùng loại này, năm 1859 vẫn xài súng hỏa mai, lấy đâu ra khẩu này (Chassepot 11 mm Model 1866, Fusil Mod 66) mà các bác sử gia nhà mình toàn lấy lý do súng ống để biện hộ.
http://www.rememuseum.org.uk/arms/rifles/armssbar/arm037a.jpg
http://www.rememuseum.org.uk/arms/rifles/armssbar/arm037.jpg

Francis Garnier đánh HN:
http://www.anapi.asso.fr/images/francis_garnier.jpg

http://www.anapi.asso.fr/images/citadelle_hanoi.jpg
Francis Garnier đánh cửa Tây Nam HN ngày 20/11/1873

Thư của Garnier:
Năm giờ rưỡi sáng toán thứ nhất gồm 30 thủy binh và một khẩu pháo 4 do trung úy hải quân Bain de Coquerier chỉ huy rời trại để vào vị trí trước cửa Tây nam thành. 5 giờ 45 phút, toán thứ hai gồm 30 pháo thủ hải quân do ông Trentinian chỉ huy lên đường đến Cửa Đông Nam.
Rồi ông Esmez khi đó cũng dẫn 30 thủy binh và 3 khẩu pháo 4 cũng tiến về hội quân. Theo sau ông ta có một đội dự bị gồm 20 thủy binh. Ngoài sông Hồng, các pháo hạm Scorpion và Espignole chuẩn bị bắn phá...
Đúng 6 giờ sáng, tôi dẫn đầu đơn vị đặt chân lên cầu lũy bán nguyệt Đông Nam. Tiếng súng trường (mousqueton) của ông Bain nổ bên trái tôi cùng những quả đạn đầu tiên của pháo thuyền ngoài sông Hồng bắn thẳng vào thành.
Quân địch hoàn toàn bất ngờ. Bị nhiều đợt tấn công dồn dập, họ không biết điểm nào là điểm thực sự bị tấn công. Chúng tôi giải tỏa cầu khỏi những tấm chông bừa bãi khắp nơi mà không sợ đạn bắn.
Khi các pháo thủ An Nam trên thành lũy vào được vị trí thì chúng tôi đã ẩn được ở sát tường công sự. Những người phòng thủ chỉ còn cách ném đá xuống.
Chúng tôi dùng rìu búa nhưng không phá được cửa thành. Tôi bèn cho đặt khẩu đại bác trên cầu và ba phát đạn liên tiếp đã mở đường cho chúng tôi. Ngay lập tức ông Trentinitan và toán bộ binh của hải quân lao vào bên trong công sự góc. Tại đây quân phòng thủ không ẩn được phải chạy lên thềm đất ở chân thành.
Làn hỏa lực mãnh liệt của chúng tôi hướng vào những người trên mặt lũy và làm thất bại ý định của các pháo thủ địch nhiều lần định chĩa pháo về phía chúng tôi.
... Trong thời gian trên, ông Esmez cho pháo chiếm vị trí trên cầu và bắn thủng cánh cổng trong tiếng rào rào của đá từ trên lũy ném xuống. Chiếc cửa vững chắc này chống đỡ khá lâu. Khi mở được lối vào, tôi lao vào vòm cổng cùng với mấy người lính theo sau, và ngay tức khắc nhận ra trước mặt mình mấy người đang cầm lọng che cho một vị quan đang chỉ huy phòng thủ.

Tôi cũng bất ngờ khi nhận ra vị quan này chính là tướng Nguyễn Tri Phương. Sự ngẫu nhiên khiến vị trí chỉ huy của ông ta lại chính cửa tôi phải tấn công! Một cuộc đụng độ ngắn bằng súng lục đã giải quyết hoàn toàn khu vực phía cổng. Lính An Nam chạy tứ tán.
Một lúc sau ông Esmez cho tung bay trên đỉnh cột cờ lá cờ ba màu của Pháp đồng thời cũng là tín hiệu quy ước để các pháo hạm ngoài sông ngừng bắn phá. Lúc đó là 6 giờ 55 phút. Vài phút sau cờ Pháp bay trên năm cửa thành. Chúng tôi không có nguời nào bị thương…

Giờ mới biết NTP bị đánh úp, chẳng hiểu quản lý thế nào. Trong thành có 7000 quân, trong khi Pháp có 212 lính kể cả lính thợ, lính Việt ... Sau vụ này NTP bị bắt rồi tuyệt thực mà chết ...


Quân số trong thành có tới 7000 người, địch chỉ có một nhúm cỏn con mà thành chỉ giữ được hơn 1 giờ thì mất!

Đâu chỉ vậy, lợi dụng cơ hội F. Garnier còn đưa quân đi đánh chiếm nhiều nơi: như Hưng Yên, Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định.(Ở Hưng Yên, quan chủ tỉnh Nguyễn Đức Đạt không dám đánh, chịu nhổ cọc cho thuyền giặc đi qua, chịu tuân lệnh của giặc- ở Ninh Bình, tuần phủ Nguyễn Thứ đem quân ra ngoài thành xếp hàng nghênh tiếp giặc vv…Đúng là những chuyện đáng cười ra nước mắt)

Thế rồi, trời bất dung gian, tên Garnier và tên Balmy cùng một số binh lính dưới quyền, lọt vào ổ phục kích của quân Cờ Đen và đều bị giết chết ( 21-12-1873).Nghe hung tin, đội quân của chúng ở Hà Nội vô cùng hoảng sợ và còn làm chấn động cả giới cầm quyền tại Sài Gòn.

Lúc này khí thế bên ta lên rất cao. Quân và dân Việt ráo riết bao vây thành Hà Nội. Đội quân Cờ Đen của Lưu vĩnh Phúc đã chuẩn bị hàng trăm chiếc thang dài để chuẩn bị công thành. Đại quân do Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản chỉ huy tiếp tục tổ chức nhiều trận đánh tại Thường Tín , Gia Lâm…

Nhưng ngay chính lúc ấy, vua Tự Đức lại thốt những câu rất chủ bại:

“…Giết được An Nghiệp (Garnier) chỉ là kết quả nhất thời đột xuất, bằng đường đường chính chính tranh thắng với họ, tưởng cũng khó giữ lâu được…”

Thế là nhà vua “ngây thơ” ban lệnh không cho quân tiến công đánh vì sợ giặc phẫn nộ và chỉ thị cho Nguyễn Văn Tường mau chóng nói chuyện thương thuyết với họ.
Cuối cùng vào ngày 15-3-1874 tại Sài Gòn, đất nước ta nhận thêm hiệp ước Giáp Tuất gồm 22 điều khoản, trong đó có khoản thừa nhận cho bọn xâm lược được cai quản toàn bộ Nam Kỳ…

Đúng là Tự Đức không những đã cứu thực dân một bàn thua trông thấy, mà còn dâng hiến miếng mồi hết sức béo bở cho đối phương!...

Vụ này là nhà nước độc quyền chống giặc ngoại xâm đây mà ... hehe, hiện giờ ...


Thử tìm hiểu vì sao nhà Nguyễn bị thất bại…Nxb KHXH. 1995, tr.2:
“Tự Đức chẳng những không có tinh thần quyết chiến mà còn có chủ trương hòa hoãn với giặc, vì nghĩ rằng thà nhân nhượng với chúng mà giữ được ngai vàng, tôn miếu…còn hơn đi với nhân dân quyết chiến thì có thể mất hết cơ đồ!”




Đại thần Phạm Phú Thứ nhận xét:

“Quân sĩ hèn nhát là do chưởng quan bất tài và vô quyền. Quân sĩ nhiều người không có lương bổng, rất đói khổ, phải tìm cách giúp đỡ nhau chớ không trông mong gì đến gạo trong kho.
Quan võ thì thường than thở rằng mình hết sức chống giữ biên cương, rủi ra chết đi thì chỉ thiệt mình, chứ công trạng nào ai nghĩ đến cho…”

... tựu chung cũng bởi dân quá bần cùng vì nạn thuế sưu cao, vì nạn thiên tai gây mất mùa, vì nạn quan lại vừa tham nhũng vừa hà khắc, vì chính sách cấm đạo quá đáng và còn vì âm mưu muốn đồng hóa một số dân tộc ít người …


VN mình hình như thời nào cũng như thời nào


Năm 1870, Pháp bị Đức đánh thua xiểng niểng.Chiều ngày 1-9, hoàng đế Na-pơ-lê-ông III bị bắt cùng mười vạn binh, ngày 27-10, tất cả 173000 quân Pháp ở thành Mết-zơ đầu hàng.
Khoảng thời gian này, tin tức về cuộc thất bại thật thảm hại này lan tới Sài Gòn, tới Huế. Soái phủ Nam Kỳ hoảng sợ vội vàng cho phòng bị nghiêm mật, vì e rằng Huế sẽ nhân cơ hội này để tổ chức phản công.
Cuối cùng, bọn chúng đã thở phào nhẹ nhõm khi nhận được “thơ hỏi thăm và chia buồn” của vua Tự Đức!


http://mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=16899&stc=1&d=1216947067
Ngày 22/12/1873 Francis Garnier bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc mai phục giết gần Ô Cầu Giấy.
Cái xác mất đầu của Garnier được trung sĩ Champion mang về thành cùng xác hai lính thủy bị giết. Jean Dupuis tả lại qua trích dẫn của André Masson:
“Không có gì kinh khủng hơn những cái xác không đầu đó. Cái xác trải dài trên rơm y nguyên như lúc mang về chiều hôm trước. F. Garnier cánh tay phải bị đứt, tay trái để xuôi theo thân.
Chân phải đi giày chân trái chỉ có tất ngắn. Quần áo tả tơi, khắp người đầy vết gươm và giáo. Ngực bị mổ. Tim bị lấy mất. Da bụng bị lột hai tay co quắp. Các thi thể được đóng trong áo quan bằng gỗ rất dày và được chôn gần Hoàng Cung chỗ hai gốc đa lớn....”

Pham Minh Tuan
07-25-2008, 09:25 AM
Thì cũng giống như người Maya đánh nhau với quân Tây Ban Nha thôi, Maya chết hết, Tây Ban Nha chết 1 vì lý do tay này lười không chịu đội mũ giáp bị người da đỏ ném đá trúng đầu. :4::4::4:

Nếu ở VN tay này sẽ bị anh Cảnh phạt 150-200K vì tội tham gia đánh nhau mà không đội mũ bảo hiểm. Cũng có thể nó móc xỉa tại chỗ cho chỉ huy 100K để chỉ huy không bắt nó đội nồi cơm điện => thế là toi. :68:

.... giữ thành mà nó bắn đại bác, mình lấy đá ném vào đầu nó thì thua là phải rồi, nói gì nữa bây giờ!!!!!!! Hình như người VN mình mắc cái bệnh sợ Tây từ xưa đến giờ. :106:

csx2002
07-25-2008, 10:14 AM
bác chưa đọc kỹ, là do nó đến sát gần dùng hỏa lực kiềm chế mấy ụ súng rồi quân VN mới chạy ra, nó đứng dưới chân thành hoảng quá phải ném đá thôi chứ làm thế nào bây giờ?
7000 lính bèo ra cũng phải có 1000 khẩu súng, chia ra mỗi cửa độ 200 khẩu dùng được, còn cung tên nữa. Vậy mà có hơn 100 thằng tấn công hai cửa chưa đến 1h đã thua. Theo lý thuyết 7000 lính đứng nhổ nước bọt không thôi cũng chết khối thằng Pháp :4:
Đọc chỗ NTP bị bắt: lính cận vệ kiểu gì bắn mấy phát súng lục đã bỏ chạy hết để lại ông tướng:102::102:
theo lý thuyết ông tướng nổi tiếng giỏi cỡ này phải có dàn cận vệ xịn lắm chứ nhỉ? Không có nổi mấy khẩu súng lục cho mấy chú đó nữa! mà Nhất Nam đâu sao ko giở ra hehee mấy chục thằng này cho Hoàng Phi Hồng xử là đẹp:4::4::4:

Pham Minh Tuan
07-25-2008, 10:49 AM
bác chưa đọc kỹ, là do nó đến sát gần dùng hỏa lực kiềm chế mấy ụ súng rồi quân VN mới chạy ra, nó đứng dưới chân thành hoảng quá phải ném đá thôi chứ làm thế nào bây giờ?


Hi hi... chẳng nhẽ cái cổng thành không có lỗ châu mai

Ho ho... cái cổng thành Hà Nội nó thụt sâu vào trong tường, từ bờ tường đến cái cửa cũng hơn mét. Lính đứng đấy mà phá cửa thì cho đá ném vô tư. Đáng nhẽ phải quăng lựu đạn hay tệ thì cũng chai molotov chứ còn ném đá thì bó tay rồi.

Tất nhiên là bị đánh úp thì mới không kịp phòng bị, cũng may là cổng đóng chứ nếu không nó vào nó cắt cổ từng người rồi. Đánh nhau như thế cứ mở cha nó cổng thành ra chơi không thành kế với chúng nó cho rồi, đằng nào cái cổng cũng vài phát đại bác là toi. Làm kiểu này biết đâu còn giết được vài thằng. :4::4::4:

Pasudin-10
07-25-2008, 09:19 PM
NAM KỲ BỊ RƠI VÀO TAY THỰC DÂN PHÁP
a) Giai đoạn ban đầu của cuộc xâm lược.
Trước khi cho quân đi đánh phá Đà Nẵng vào năm 1858, nước Pháp đã là một đế quốc hùng mạnh có nhiều thuộc địa rải rác ở nhiều nơi, ở châu Mỹ có Martinique, Dominique..., ở châu Phi có Sénégal, Saint Louis, Tahiti, Algérie... Còn ở châu Á thì chỉ mới lấy được một số thành phố hải cảng và Cadédonie. Sau khi lấy Calédonie vào năm 1853, Pháp thực sự tiến hành việc xâm chiến Việt Nam. Vào ngày 31 tháng 8 năm 1858, lấy cớ phản đối chính sách cấm đạo của triều đình Huế, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng bắn phá hải càng Đà Nẵng để tiến tới tấn công kinh thành Phú Xuân. Quân triều đình chống trả kịch liệt, làm cho Đô đốc của quân Pháp là Rigault de Genouilly thay đổi kế hoạch, đưa quân vào đánh cửa Cần Giờ. Quân Pháp triệt hạ lần lượt 2 đồn từ Cần Giờ đến Gia Định, và ngày 17-2-1859 thì công phá thành Gia Định. Quân Nguyễn bị thua to, quan Đốc thần Vũ Duy Ninh và Án sát Lê Từ tự vẫn, quân lính tháo chạy. Gia Định thất thủ. Trong dịp này quân Pháp cho mìn giật sập thành Gia Định. Nguyễn Tri Phương được Triều đình cử vào phụ trách mặt trận này. Ông cho đắp đại đồn Chí Hòa dài 3.000m, ngang 1.000m, cao 3m5 để chống giữ với quân Pháp. Trong thời gian này, phía Pháp có sự thay đổi. Đô đốc Charner sang thay R.de Genouilly chỉ huy toán quân viễn chinh.

b) Mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ
Ngày 23-2-1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, gặp sự kháng cự quyết liệt của quân Nguyễn. Sau hai ngày chiến sự ác liệt, quân Nguyễn bị tổn thất nặng. Nguyễn Tri Phương bị thương, còn em là Nguyễn Duy thì tử trận. Quân Nguyễn phải bỏ đại đồn Chí Hòa, rút về Biên Hòa. Sau khi phá được đại đồn Chí Hòa, quân Pháp tiến đánh lấy Định Tường (Mỹ Tho), đặt đồn lũy khắp nơi để kiểm soát. Tướng Bonnard sang thay Charner, triển khai việc đánh chiếm Biên Hòa (1861) và Vĩnh Long (1862). Triều đình Huế cử phái bộ do Phan Thanh Giản cầm đầu vào nghị hòa cùng Bonnard và ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp.

c) Mất ba tỉnh miền Tây
Trong khi nhân dân miền Đông đứng lên chống Pháp thì triều đình Huế cũng muốn đòi lại ba tỉnh đã mất, bèn cử một phái bộ do Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm Phó sứ sang Pháp xin chuộc. Việc thương thuyết chưa ngã ngũ thì quân Pháp tiến hành việc đánh chiếm ba tỉnh miền Tây (6.1867). Phan Thanh Giản lúc ấy đã trở về sau chuyến đi sứ không kết quả, đang làm Kinh lược sứ ở đấy. Nghĩ rằng quân Nguyễn không thể nào chống nổi với quân xâm lược, Phan Thanh Giản dâng thành cho đối phương rồi uống thuốc độc tự tử. Từ đấy Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp.

Lời bàn của Pasudin: trong lịch sử VN, ngoài TQ thì Pháp là bọn xâm lượn khốn nạn nhất! Hồi xem xong bộ "Dòng máu anh hùng" tự dưng máu nóng lại nổi lên...định #$%^&*()*&^%$

csx2002
07-27-2008, 12:39 PM
khốn nạn? em nghĩ người Pháp là quân xâm lược mang lại nhiều văn minh nhất thì có
ít nhất nó chưa "nướng con thơ trên ngọn lửa hung tàn" phải không? người việt vẫn được học cao làm chức to
bác cứ nói dòng máu anh hùng, giả sử cho cái ông thủ lĩnh trong phim đó lên làm vua xem ông ấy có khá hơn Tự Đức không?

Haintz
07-27-2008, 12:53 PM
khốn nạn? em nghĩ người Pháp là quân xâm lược mang lại nhiều văn minh nhất thì có

bác cứ nói dòng máu anh hùng, giả sử cho cái ông thủ lĩnh trong phim đó lên làm vua xem ông ấy có khá hơn Tự Đức không?

Cái này đúng nè, phái bảo thủ phe Tự Đức quá đông nên không canh tân được. Không được thì thua, cái ông thủ lĩnh thì của chỉ là thủ lĩnh một nhánh nghĩa quân chống Pháp thôi (không biết thuộc dạng Cần vương hay là cát cứ một phương) phim thì không thể hiện gì nổi bậc ý tứ chính trị như ổngcó vẽ bảo thủ.

Nói chung nhìn nhận, là không có Pháp chưa chắc VN được một số thành tựu như ngày hôm nay. Àh, đọc


ít nhất nó chưa "nướng con thơ trên ngọn lửa hung tàn" phải không? người việt vẫn được học cao làm chức to

Mấy vụ này có đó, nhưng mà mình nhớ là "nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn" (mà văn thơ nghĩa bóng nghĩa đen tùm lum). Còn vụ học cao chức to thời Pháp hơi khó.... Đi lính thì lên Úy này Úy kia là hết, học ngày xưa tốt nghiệp 12 là nghê gớm lắmm là đi làm ngon rồi. Số tốt nghiệp hàng năm khá ít, nếu em nhớ không sai thì cả VN lúc thời Pháp trước 45 chỉ có mỗi HN là có đại học mà đào tạo lại ra rất ít.

Phạm Anh Đức
07-27-2008, 01:23 PM
Bài viết của 1 người tên Kiều Phong ở địa chỉ không nên nói tới......

Người đánh chìm chiến hạm Hy Vọng của thực dân Pháp

Nguyễn Trung Trực sinh năm 1839 còn có tên là Lịch hoặc Chơn, nguyên quán Bình Định. Thân sinh làm nghề đánh cá. Sau khi hải quân Pháp nhiều lần bắn phá duyên hải Trung bộ. Gia đình cụ phiêu bạt vào Nam, định cư ở thôn Bình Nhật nay là xã Bình Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Sinh thời Nguyễn Trung Trực là người nổi tiếng khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, can đảm và mưu lược. Ngày 25-2-1861 cùng với Bình Tây đại nguyên soái Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực tham gia trận đánh đồn Chí Hòa. Sau đó Nguyễn Trung Trực được phân công chỉ huy một số nghĩa quân về quê cũ Tân An hoạt động. Ngày 10-12-1861 nghĩa quân do Nguyễn Trung Trực chỉ huy làm nên một chiến công lừng lẫy, đánh một trận mưu trí và táo bạo - đốt cháy chiến hạm Hy Vọng (Espérence) của thực dân Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (hay còn gọi là sông Nhật Tảo), diệt toàn bộ quân địch trên tàu gồm 17 lính Pháp và 20 tên Việt gian.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tàu chiến bằng sắt thép, đại bác và nhiều vũ khí hiện đại khác khiến nhiều người ngờ chúng là "người nhà trời" không thể đánh thắng. Nắm được tâm lý này, một số lần quân Pháp cho khinh khí cầu trình diễn những màn tấn công từ trên không và quả thật đã làm nhiều người Việt hoảng sợ. Trong bối cảnh ấy niềm tin "người Pháp hoàn toàn có thể bị người Việt giết chết", rằng tàu đồng của Pháp cũng thể bị đánh chìm của Nguyễn Trung Trực thật sự là một bước đột phá trong tư duy. Tin như thế và chứng minh được mình đúng bằng thắng lợi to lớn ngay trong điều kiện còn hết sức hạn chế như Nguyễn Trung Trực đã làm là hết sức oanh liệt.

Không thắng được nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, nhờ sự tham mưu của Việt gian, thực dân Pháp đã bắt mẹ của ông làm con tin để gây sức ép buộc Nguyễn Trung Trực ra hàng. Chịu ảnh hưởng của quan niệm "trai thời trung hiếu làm đầu" Nguyễn Trung Trực đã nộp mình để cứu mẹ. Ngày 19-9-1868 Nguyễn Trung Trực bị bắt và mang về Sài Gòn. Không thể khiến ông làm tay sai, ngày 27-10-1868 thực dân Pháp đưa ông về Kiên Giang xử chém tại chợ Rạch Giá. Trước khi hy sinh, Nguyễn Trung Trực khẳng khái thét vào mặt kẻ thù: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây".

Câu nói nổi tiếng ấy đã phản ánh khí phách hiên ngang, bất khuất, quyết tâm chống giặc ngoại xâm của cụ Nguyễn Trung Trực nói riêng và dân tộc ta nói chung. Cảm kích trước sự anh dũng của cụ Nguyễn Trung Trực. Nhà thơ yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt thảo nên bài "Khóc Nguyễn Trung Trực" để tưởng nhớ cụ, trong bài có câu: "Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa/ Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần".

************ Bài viết này cũng bình thường như các bài khác thôi nhưng đọc cái đoạn bôi đậm em thấy buồn cười quá nên copy về đây. Buồn cười vì cách viết và cách nhìn thôi, không hề nói gì về hành động của Anh hùng Nguyễn Trung Trực nhé. Phải em thì em cũng phải làm vậy thôi.

Hàng Tây vừa to vừa dài, hàng ta vừa ngắn vừa bé.... chơi sao lại mà chơi

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/98/%C4%90%E1%BA%A1i_b%C3%A1c.jpg

csx2002
07-27-2008, 02:05 PM
Cái này đúng nè, phái bảo thủ phe Tự Đức quá đông nên không canh tân được. Không được thì thua, cái ông thủ lĩnh thì của chỉ là thủ lĩnh một nhánh nghĩa quân chống Pháp thôi (không biết thuộc dạng Cần vương hay là cát cứ một phương) phim thì không thể hiện gì nổi bậc ý tứ chính trị như ổngcó vẽ bảo thủ.

Nói chung nhìn nhận, là không có Pháp chưa chắc VN được một số thành tựu như ngày hôm nay. Àh, đọc



Mấy vụ này có đó, nhưng mà mình nhớ là "nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn" (mà văn thơ nghĩa bóng nghĩa đen tùm lum). Còn vụ học cao chức to thời Pháp hơi khó.... Đi lính thì lên Úy này Úy kia là hết, học ngày xưa tốt nghiệp 12 là nghê gớm lắmm là đi làm ngon rồi. Số tốt nghiệp hàng năm khá ít, nếu em nhớ không sai thì cả VN lúc thời Pháp trước 45 chỉ có mỗi HN là có đại học mà đào tạo lại ra rất ít.

ờ thôi thì cứ cho là học cao ít đi, vì thực ra VN đang ở trình độ nho sĩ mà cho đi học thành người giỏi của Tây thì cần có time
nhưng số ngừoi giàu, địa chủ khá nhiều(xét tới việc cải cách ruộng đất năm 54 ảnh hưởng to lớn tới xã hội thế nào thì rõ). Việc sách báo lịch sử quốc doanh miêu tả công nhân lao động khổ cực là quá trình tất yếu của công cuộc tích lũy tư bản sơ khai, ở Anh quá trình này diễn ra tương tự trong TK 18-19. Ngay ở VN hiện nay việc khai thác tàn bạo tài nguyên và thu đất đai cũng đang diễn ra, có vị còn phát biểu "chúng ta đang tạo điều kiện phát triển công nhân" :confused:

Makoto
07-27-2008, 02:22 PM
Vấn đề là:Tây nó chỉ coi VN là thuộc địa,nên việc nó thực hiện chính sách "ngu dân" cũng bình thường,trách là trách đám vua quan dốt nát,ko chịu cải cách,nếu ta có ông vua như Minh Trị thì còn lâu Tây nó mới dám làm vậy.còn giáo dục ta hiện nay,chỉ 2 chữ "potay.com",nói bá láp thì nhìu

Pasudin-10
07-28-2008, 09:11 AM
SÀI GÒN BIẾN ĐỔI VÀ HÌNH THÀNH MỘT THÀNH PHỐ THEO KIỂU PHƯƠNG TÂY
Ngay sau chiếm được thành Gia Định, trên nền binh đao khói lửa vừa tàn phá "của tiền tan bọt nước""tranh ngói nhuốm màu mây", thực dân Pháp đã tính ngay kế sách cắm chốt lâu dài ở đây, muốn lấy đây là bàn đạp, thôn tính Nam Bộ, cướp nước ta. Chúng bắt tay ngay vào xây dựng Sài Gòn như một trung tâm của ba tỉnh miền Đông. Và chừng năm năm sau đó là thủ phủ của cả Nam Kỳ lục tỉnh. Sài Gòn đổi thay mau chóng trở thành "Hòn ngọc Viễn Đông", cũng mau chóng trở thành cái vòi bạch tuộc của thực dân Pháp vơ vét tài nguyên, sản vật của Việt Nam. Và cũng sớm trở thành một trung tâm bị bóc lột, đầu độc và sa đọa...

SÀI GÒN - NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI PHÁP CHIẾM ĐÓNG
a) Sài Gòn với những biến đổi
Sài Gòn là một thành phố nhỏ tọa lạc tại khu vực giới hạn bởi sông Sài Gòn (phía Đông), rạch Thị Nghè (phía Bắc), rạch Bến Nghé (phía Nam). Cư dân sinh sống ở đây ước tính khoảng 100.000 người, phần lớn tập trung tại Sài Gòn và Chợ Lớn. Cho đến năm 1859, Sài Gòn vẫn còn là một trung tâm hành chính quân sự. Các công trình xây dựng lớn chủ yếu phục vụ cho chức năng cai trị và phòng thủ, hoàn toàn chưa có những tiện nghi công cộng, các cơ sở hạ tầng thiết yếu cho một thành phố thương mại, thành phố cảng. Nhằm thực hiện mưu đồ chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ nước ta, tiến tới việc xác lập khu vực ảnh hưởng của đế quốc Pháp tại Viễn Đông, triều đình Paris, đặc biệt là các Đô đốc trực tiếp cai trị tại Nam Kỳ, đã gấp rút xúc tiến việc qui hoạch xây dựng Sài Gòn thành một đô thị lớn nhiều chức năng (hành chính, quân sự, kinh tế, cảng v.v...) với dân số dự kiến lên đến trên nửa triệu người. Mục đích chính của những nổ lực nhằm sớm biến Sài Gòn thành một thành phố sầm uất, ngoài những yêu cầu về lãnh thổ, yêu cầu cạnh tranh ảnh hưởng với các thế lực đế quốc khác ở Viễn Đông, người Pháp còn muốn nhanh chóng khai thác Nam Kỳ, mà các chuyên gia Pháp đã nhìn thấy ở đó tiềm lực kinh tế to lớn. Nguồn lợi kinh tế do Nam Kỳ mang lại sẽ gánh bớt một phần chi phí chiếm đóng Việt Nam, mối băn khoăn của triều đình Napoléon III ngay từ những toan tính ban đầu. Năm 1862 dự án thiết kế thành phố Sài Gòn của Coffyn được phê duyệt bao gồm cả vùng Chợ Lớn. Đến năm 1864, do diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, đặc biệt tình hình trị an đòi hỏi phải thu hẹp phạm vi thành phố, người Pháp cho tách khu Chợ Lớn ra khỏi thành phố Sài Gòn. Đây là một thay đổi cơ bản và thuận lợi nhất để tập trung đầu tư xây dựng khu trung tâm Sài Gòn. Vùng Chợ Lớn trước khi người Pháp tới là điểm trung tâm cư dân người gốc Hoa. Họ là các thương nhân năng nổ, chăm chỉ làm ăn tạo cho Chợ Lớn thành một khu vực phát triển rất nhanh, nhất là sau khi người Pháp đến và xúc tiến việc khai thác thuộc địa. Việc tách Chợ Lớn ra khỏi dự án thiết kế thành phố Sài Gòn còn giúp tạo điều kiện cho khu vực này phát triển nhanh chóng, việc buôn bán ở đây rất thuận lợi, vì khu vực Chợ Lớn khi đã tách ra, đất đai không bị hạn chế do phải dành mặt bằng cho khu hành chánh, công thự, công trình công cộng... những cơ sở thiết yếu của một thành phố thủ phủ. Trước năm 1859, vùng đất nằm giữa Sài Gòn - Chợ Lớn vốn là vùng nông nghiệp trù phú. Chiến cuộc diễn ra, cư dân tại vùng này phải bỏ đi lánh nạn bất hợp tác với người Pháp, nên vùng đất trên bị hoang hóa. Khi người Pháp hoàn tất việc chiếm đóng Sài Gòn và ba tỉnh miền Đông, họ nhanh chóng tiến hành khai thác kinh tế. Hiện trạng hoang hóa một vùng đất rộng lớn giữa Sài Gòn - Chợ Lớn là phí phạm. Để giải quyết vấn đề này, ngoài việc tách Chợ Lớn ra khỏi Sài Gòn giúp Chợ Lớn mở rộng nhanh về phía Sài Gòn, người Pháp còn thực hiện ở đây chế độ tá canh thu tô hoặc bán rẻ đất hoang cho những ai có nhu cầu làm ruộng, lập vườn, sản xuất các loại rau quả nhiệt đới mà người Âu rất ưa chuộng. Một khi vùng đất hoang hóa dần dần có người cư trú, giá đất Sài Gòn cũng sẽ được nâng lên, tốc độ đô thị hóa cũng tăng theo.

Trước khi người Pháp đến, địa hình phạm vi Sài Gòn gồm một vùng cao ở phía Bắc, trải dài từ vùng lũy thành Sài Gòn đến vùng Mả Ngụy, nơi cư dân hầu hết là các nhà phú hộ đại bộ phận còn gọi là đồng ruộng, ao đìa. Cư dân nghèo sống chen chúc dọc theo rạch Bến Nghé trong các căn nhà nhỏ nửa đất nửa sàn. Giao thông trên bộ thời bấy giờ chủ yếu một số lô đất nhỏ được đắp cao lên vừa quá mức nước lúc triều cường. Cho nên, khi người Pháp đưa ra dự án thiết kế thành phố, khó khăn đặt ra là làm thế nào cải tạo mặt bằng phục vụ cho việc thiết lập các cơ sở hạ tầng, xây dựng công thự, các công trình công cộng khác. Nói chung là những yêu cầu tối thiểu phải có trước mắt của một thành phố khả dĩ thích nghi với hoạt động thương mại phương Tây. Giải quyết vấn đề này, người Pháp cho thực hiện một giải pháp tương đối đơn giản. Trước tiên cho đào nhiều kinh ở các chỗ trũng thuộc vùng thấp của thành phố vừa để tạo điều kiện cho ghe thuyền lưu thông thuận lợi, vừa có tác dụng tháo nước làm trong sạch các vùng đầm lầy đồng thời lấy đất lấp các vùng trũng khác. Khi các công trình đầu tiên được xây dựng trên những khu vực vừa được san lấp, người Pháp cho san bằng vùng đồi phía Bắc Sài Gòn, lấy đất lấp các con kinh đào (đường Nguyễn Huệ, đường Lê Lợi, đường vào cổng chính ở Ba Son hiện nay là những kinh đào được lấp lại). Sau hai năm cải tạo và xây dựng bộ mặt Sài Gòn đã thay đổi hẵn. Các vùng trũng đầm lầy, những đường mòn gồ ghề được thay đằng những công trình mới được xây trên một không gian thoáng đãng, ở đó người ta mở những quãng lộ, những con đường ngang, dọc có trải nhựa phẳng phiu, hai bên vỉa hè rộng rãi được trồng cây xanh thẳng tắp. Bến cảng, kho bãi được xây dựng gấp rút đúng qui củ để sẵn sàng đón tàu cập bến bốc dỡ hàng. Từ những thay đổi ban đầu Sài Gòn đã tự thể hiện là một thành phố đẹp với một hệ thống giao thông thủy bộ hết sức tiện lợi. Ngoài ra nhờ những điều kiện tự nhiên thuận lợi và một hậu phương trù phú đầy tiềm năng, Sài Gòn sớm trở thành một trong những thương cảng quan trọng ở khu vực Viễn Đông. (Theo sách Sài Gòn từ khi thành lập đến giữa thế kỷ 19 - NXB TPHCM 1998)

Pasudin-10
07-28-2008, 09:25 AM
b) Sài Gòn trong cuộc sống
Trần Ngọc Thanh và Nguyễn Đức Tánh (không rõ chức vụ) đã gửi về cho triều đình Huế một bản tường trình đề ngày 9-12-1863 (ngày 18 tháng 10 Quý Hợi, Tự Đức năm 16) được lưu lại trong châu bản (Tự Đức, tập 155 trang 114a). Tình hình Gia Định, Bến Nghé được mô tả khá tỉ mỉ: "Nhà văn miếu đã dỡ đem về thôn Tân Khai để dựng phủ nha Tân Bình. Phía hữu tỉnh thành cũ có dựng một nhà lầu rất cao rộng đặt danh là lầu xem lễ, bốn mặt có xây đạo đường, đạo quán, nhà phước. Dân đạo thì ở bao bọc phía ngoài, già trẻ, trai gái theo đạo khá đông. Trường Thi cũ, phía ngoài bốn mặt tường gạch được bồi đắp thêm. Quân xá cũng đều cải tạo. Quan binh Tây ở phía trước Trường Thi, còn nơi phủ Tân Bình cũ có dựng một tòa lầu cho Phủ Soái ở. Bốn bên có nhiều nhà cửa, trại binh, chuồng ngựa. Quan binh lớn nhỏ chia ở chung quanh. Từ thôn Tân Khai Bến Thành cho tới Điếm Lá, họ xây nhà mới hoặc sửa sang lại để trữ hàng hóa. Đối diện chợ hội là thôn Khánh Hội thì giáo dân ở. Đối diện với chợ Bến Thành là thôn Nhai Quới... có lập một phố lầu xanh. Nơi đây gái điếm và giáo dân cùng lẫn lộn. Từ xóm Điếm Lá đến Cầu Kênh Chợ Lớn thì nhà dân và các tiệm mua bán. Ở khu chợ hội đối diện với thôn Khánh Hội mới bắc một chiếc cầu. Chợ Kênh đối diện với Xóm Than cũng có một chiếc cầu. Sang Thị Nghè thông đến sông Xóm Kiều, khúc sông trước bị lấp nay đã cho đào tại, từ cầu Nhiêu Lộc đến chùa Mai Sơn, nối liền hai thôn Bình Tiên và Bình Tây, thông thẳng đến kênh Ruột Ngựa. Đại đồn ngày trước chỉ còn lại một tiền đồn do quan binh Tây đóng ước độ 100. Đồn Tây Thới trước nay vẫn còn và lại xây thêm một đồn rất kiên cố có độ 100 lính Tây đồn trú". Cùng với sự thay đổi về mặt quang cảnh, đường sá, phố phường là sự áp đặt một guồng máy hành chính mới với thuế má, phu dịch. Tại các phủ huyện, chính quyền thực dân tuyển dụng trong giáo dân hay những cử nhân tú tài hiếm hoi cam tâm theo chúng. Bên cạnh viên tri phủ hay tri huyện người Việt chúng đặt một tham biện huyện vụ. Chúng định lại thuế thân, thuế điền thổ, thuế ghe tàu, thuế thuốc phiện, thuế sòng bạc. "Nhân dân thì bất luận già trẻ tàn tật mỗi người phải nộp 1 quan 5 tiền và phải phụ thêm 1 quan. Dân xã Minh Hương mỗi năm phải nộp 2 lạng bạc, người Thanh phải nạp thêm 2 quan. Gái điếm mỗi thị phải nộp 10 quan mỗi tháng. Người Thanh lập phố để nấu a phiến, mở sòng bạc thì phải nộp từ 2.000 đến 5.000 Thuyền buôn các tỉnh cập bến, hạng dài 30 trượng thì bề ngang cứ mỗi thước thu thuế 3 quan, dài 40 trượng, bề ngang mỗi thước 5 quan. Hạng thuyền lớn sau khi dỡ hàng phải lấy đất đổ xuống khoang thì đánh thuế 70 quan, hạng trung 50 quan, hạng nhỏ 30 quan. Thuyền ván độc mộc muốn đi lại phải làm tờ khai, hạng lớn nạp 5 quan, hạng nhỏ 3 quan. Hết hạn 3 tháng phải đổi giấy thông hành, quá hạn phải phạt 5 quan". Tháng 8 âm lịch năm Quý Dậu (1863) giá gạo tăng vọt, mỗi phương hơn 9 quan, dân chúng đói kém, bọn Tây đem bánh mì cũ trong kho đi phát tận các thôn xã. Nhân dân không nhận không được, nhưng khi phái viên của Tây về rồi thì ai cũng vất bánh đó xuống sông hay là cho heo cho chó chứ không thèm ăn. (Theo sách 300 năm SG-TPHCM - NXB Chính trị quốc gia 1998)


Vả, tôi nói cùng các anh em, ai có tai, hãy nghe và ai có mắt, hãy nhìn: "Dân này sẽ nổi dậy chống nghịch dân khác, nước nọ chống lại nước kia và có đói kém, động đất tại nhiều nơi." - Mathiơ 24:7 , những việc ấy phải xảy đến vì cớ sự tham lam vô độ của con người. Kẻ xâm lược mang hình dáng của tiên tri giả, bảo rằng mang văn minh đến cho kẻ khác, thực, chỉ là dối gạt, lừa lọc để bóc lột và bao nhiêu tội lỗi khác. Chúng đã bị trừng phạt đích đáng, chịu sự thất bại nhục nhã và chết chóc.
Này, tôi bảo cùng các anh em, người Pháp xâm lược với môi miệng rằng khai hóa, đem văn minh cho dân tộc ta, cũng như các thầy thông giáo và người Pha-ri-si thời xưa vậy, Chúa Jesus đã phán: "“Khốn cho các ông, những chuyên gia kinh luật và người Pha-ri-si là những kẻ đạo đức giả! Các ông vượt biển băng ngàn để chinh phục một người theo đạo, khi được rồi thì các ông làm cho kẻ ấy trở thành con của hỏa ngục gấp đôi các ông." Sự thảm bại của chúng, như là một điều đã được báo trước vậy.

thumper
11-05-2008, 09:08 PM
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện đang lưu giữ và trưng bày 18 khẩu súng thần công các loại. Súng đa dạng về kiểu dáng, kích cỡ và chất liệu.

Trong số 18 khẩu, phổ biến là súng thần công sản xuất từ thời Nguyễn, thế kỷ thứ XIX và súng do Châu Âu sản xuất (Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha....) đưa vào Việt Nam.

Súng được đưa về bảo tàng từ nhiều tỉnh thành trên cả nước. Đặc biệt có 8 khẩu được phát hiện, khai quật trong khu vực Hoàng thành Hà Nội.


http://www.btlsqsvn.org.vn/Bosuutap/?^?=-1000960


http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/cannon-02.jpg

http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/cannon-01.jpg


http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/cannon-03.jpg


http://img.photobucket.com/albums/v11/thoky/Ancient%20rifles/cannon-04.jpg

Hanakith
01-02-2009, 03:00 PM
Em thử lý giải xem:
Mỗi năm được tập bắn 5 phát. thì làm sao bắn giỏi, và hiện thời điểm đó thì vũ khí lạnh vẫn là chủ yếu nên xông lên mà thấy người bên cạnh cứ hy sinh người này đến người khác ... vì vậy mất tinh thần.



Hehehe, lí giải như vậy e rằng sẽ bị cho là thiếu căn cứ đó nha. Thế chú ní giải làm sao anh hùng dân tộc thiếu niên Kơ pa Kơ Long mới có 15-16 tuổi đc mấy anh du kích thôn phát cho khẩu súng và 3 viên đạn. Chỉ với 2 viên anh đã bắn hạ 7 tên Phớp thối và mang 1 viên còn lại về trả cho anh du kích thôn.Anh Long có tập bắn ngày nào đâu mà vẫn lảm đc đấy thôi, ko lẽ chú bảo báo ĐẢng viết điêu ah ;))

Tính tiếp là trang bị súng ống của ta là từ thời Gia Long- Quang Trung rồi. Bắn sao lại ^_^

Nói chung thì thua là phải. Em nhớ không lầm thì Hà Nội bị bụp do 1 hay 2 đại của Pháp thôi.

Thân


Cái này càng bậy nữa, thế sau này Việt Minh đc trang bị hiện đại hơn thế sao, chắc toàn thomson và M16 ah, cũng toàn dao, rựa, gậy tre thoai. Chú ko biết cách mạng tháng 8 ah. Bác kính yêu đã có mấy câu bất hủ để lại cho chúng ta : " Ai có súng dùng súng, ai có dao dùng dao, cuốc xẻng gậy gộc....." ;)) điều này chứng tỏ đến lúc đó vẫn chưa có nhiều súng.

Thắng hay thua còn xét về chiến thuật, sự lãnh đạo, tinh thần anh em chứ bảo quân ta 20.000 mà thua 1.500 ;)) ắt phải có ní do ;))

Haintz
01-02-2009, 07:11 PM
Hehehe, lí giải như vậy e rằng sẽ bị cho là thiếu căn cứ đó nha. Thế chú ní giải làm sao anh hùng dân tộc thiếu niên Kơ pa Kơ Long mới có 15-16 tuổi đc mấy anh du kích thôn phát cho khẩu súng và 3 viên đạn. Chỉ với 2 viên anh đã bắn hạ 7 tên Phớp thối và mang 1 viên còn lại về trả cho anh du kích thôn.Anh Long có tập bắn ngày nào đâu mà vẫn lảm đc đấy thôi, ko lẽ chú bảo báo ĐẢng viết điêu ah ;))



Cái này càng bậy nữa, thế sau này Việt Minh đc trang bị hiện đại hơn thế sao, chắc toàn thomson và M16 ah, cũng toàn dao, rựa, gậy tre thoai. Chú ko biết cách mạng tháng 8 ah. Bác kính yêu đã có mấy câu bất hủ để lại cho chúng ta : " Ai có súng dùng súng, ai có dao dùng dao, cuốc xẻng gậy gộc....." ;)) điều này chứng tỏ đến lúc đó vẫn chưa có nhiều súng.

Thắng hay thua còn xét về chiến thuật, sự lãnh đạo, tinh thần anh em chứ bảo quân ta 20.000 mà thua 1.500 ;)) ắt phải có ní do ;))

Cái vụ Long gì đó nói với anh qua chat lâu rồi. Nên cũng chẳng muốn nói thêm nữa. Vì ý của anh chỉ thích móc méo về vấn đề đó theo chiều hướng khác.

Còn Việt Minh là một vấn đề khác :soldier: em nghĩ anh nên đọc kỹ lại bài em :) tý xí, đang nói về gì mà anh lái tá lả bùng binh. (nguyên nhân thì không chỉ có 1-2 điều là nói lên tất cả anh)

Câu chữ của em không được như sử học hay luật gia (nhiều khi còn bị sai chính tả nữa). Nên k thể chặt chẽ được. Nên bẽ chữ bẽ câu thì T_T chịu phép thôi.

Em thấy đang thảo luận học hỏi rất nhiều từ những bài trước. Nhưng tới bài của anh này chẳng học được gì mới.

Thân,

P/s: Câu anh trích dẫn của bác không phải trong CMT8 mà là trong lời kêu gọi Toàn Quốc Kháng Chiến (tháng 12 năm 46).

Hanakith
01-03-2009, 01:46 AM
Tại chú cứ nghĩ xấu về anh đấy chứ, tại bản tính anh nó thế, hay thích móc méo nhưng thật ra anh chẳng ác ý điều gì. Bài đó nếu chú cho là đùa và ko có giá trị thì anh sẽ viết 1 bài đàng hoàng vậy:in-love:Xem xong tự bình luận :go-away:

Việc đầu tiên anh sẽ ní giải tại sao quân lính nhà Nguyễn thua cho dù với 20k quân. Những tấm hình dưới kia là câu trả lời.

Việc thứ 2 là tình hình kinh tế xã hội lúc bí chừ như cái bài gần đây của bạn pasudin vik thì cho thấy tâm trạng nhân dân bất ổn chứ đừng nói chi binh lính. Tinh thần yếu kém, kinh tế lạc hậu cộng thêm sự bất tài hèn nhát của đám quan lại thì thắng làm sao nổi. Có ông còn sang Tàu Mẫu Quốc xin cầu viện, pó chíu. Ngay cả trong tư tưỏng cái gì cũng trung thành, cũng nghĩ đến Mẫu Quốc thì khá làm sao nổi. May ra chỉ có cụ Phan Bội Châu là có tầm nhìn sáng suốt nhất ;)) đáng khâm phục cụ. Tiếc rằng sau nì cụ bị bọn xấu bán đứng, thật đau lòng quá :weep:

P.S : ở post của pasudin có đoạn Gái điếm mỗi thị phải nộp 10 quan mỗi tháng. Người Thanh lập phố để nấu a phiến, mở sòng bạc thì phải nộp từ 2.000 đến 5.000 ko ngờ thời ấy đã cho mở kĩ viện và sòng bạc công khai để thu thuế rồi, văn minh quá :clap:

Hanakith
01-03-2009, 02:05 AM
Bài viết của 1 người tên Kiều Phong ở địa chỉ không nên nói tới......

Người đánh chìm chiến hạm Hy Vọng của thực dân Pháp

Nguyễn Trung Trực sinh năm 1839 còn có tên là Lịch hoặc Chơn, nguyên quán Bình Định. Thân sinh làm nghề đánh cá. Sau khi hải quân Pháp nhiều lần bắn phá duyên hải Trung bộ. Gia đình cụ phiêu bạt vào Nam, định cư ở thôn Bình Nhật nay là xã Bình Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Sinh thời Nguyễn Trung Trực là người nổi tiếng khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, can đảm và mưu lược. Ngày 25-2-1861 cùng với Bình Tây đại nguyên soái Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực tham gia trận đánh đồn Chí Hòa. Sau đó Nguyễn Trung Trực được phân công chỉ huy một số nghĩa quân về quê cũ Tân An hoạt động. Ngày 10-12-1861 nghĩa quân do Nguyễn Trung Trực chỉ huy làm nên một chiến công lừng lẫy, đánh một trận mưu trí và táo bạo - đốt cháy chiến hạm Hy Vọng (Espérence) của thực dân Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (hay còn gọi là sông Nhật Tảo), diệt toàn bộ quân địch trên tàu gồm 17 lính Pháp và 20 tên Việt gian.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tàu chiến bằng sắt thép, đại bác và nhiều vũ khí hiện đại khác khiến nhiều người ngờ chúng là "người nhà trời" không thể đánh thắng. Nắm được tâm lý này, một số lần quân Pháp cho khinh khí cầu trình diễn những màn tấn công từ trên không và quả thật đã làm nhiều người Việt hoảng sợ. Trong bối cảnh ấy niềm tin "người Pháp hoàn toàn có thể bị người Việt giết chết", rằng tàu đồng của Pháp cũng thể bị đánh chìm của Nguyễn Trung Trực thật sự là một bước đột phá trong tư duy. Tin như thế và chứng minh được mình đúng bằng thắng lợi to lớn ngay trong điều kiện còn hết sức hạn chế như Nguyễn Trung Trực đã làm là hết sức oanh liệt.

Không thắng được nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, nhờ sự tham mưu của Việt gian, thực dân Pháp đã bắt mẹ của ông làm con tin để gây sức ép buộc Nguyễn Trung Trực ra hàng. Chịu ảnh hưởng của quan niệm "trai thời trung hiếu làm đầu" Nguyễn Trung Trực đã nộp mình để cứu mẹ. Ngày 19-9-1868 Nguyễn Trung Trực bị bắt và mang về Sài Gòn. Không thể khiến ông làm tay sai, ngày 27-10-1868 thực dân Pháp đưa ông về Kiên Giang xử chém tại chợ Rạch Giá. Trước khi hy sinh, Nguyễn Trung Trực khẳng khái thét vào mặt kẻ thù: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây".

Câu nói nổi tiếng ấy đã phản ánh khí phách hiên ngang, bất khuất, quyết tâm chống giặc ngoại xâm của cụ Nguyễn Trung Trực nói riêng và dân tộc ta nói chung. Cảm kích trước sự anh dũng của cụ Nguyễn Trung Trực. Nhà thơ yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt thảo nên bài "Khóc Nguyễn Trung Trực" để tưởng nhớ cụ, trong bài có câu: "Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa/ Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần".

************ Bài viết này cũng bình thường như các bài khác thôi nhưng đọc cái đoạn bôi đậm em thấy buồn cười quá nên copy về đây. Buồn cười vì cách viết và cách nhìn thôi, không hề nói gì về hành động của Anh hùng Nguyễn Trung Trực nhé. Phải em thì em cũng phải làm vậy thôi.

Hàng Tây vừa to vừa dài, hàng ta vừa ngắn vừa bé.... chơi sao lại mà chơi

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/98/%C4%90%E1%BA%A1i_b%C3%A1c.jpg

Oh, có bài viết về Bình Tây Đại Nguyên Soái Nguyễn Trung Trực bạn thân của điện hạ đây mà. Bạn Trực đã nàm lên 1 thiên anh hùng ca Lửa hồng Nhật Tảo, tài như bạn Trực bạn điện hạ lẽ ra có thẻ tụ tập nghĩa sĩ hùng cứ 1 phương, hay cao hơn có thể nghĩ đến việc đuổi Phớp thối giành lại bờ cõi ngồi lên ngai vàng. Nhưng đáng tiếc cái tư tưởng ngu trung nó đã làm hại bạn ý, rốt cuộc bạn Trực ko nghe lời điện hạ lại tự mình xuôi tay chịu trói để bọn vua quan thối nát nó chém bạn ý trước cổng Ngọ Môn. Thương thay cho mấy chữ " quân xử thần tử, thần bất tử bất trung "...hic hic

Lịch sử là ko thể thay đổi, cứ giả sử là có 1 vị anh hùng nào đó có gương mặt đẹp chai như vị thủ lĩnh tinh thần trong bộ phim kinh điển Dòng Máu Anh Hùng dẫn dắt dân tộc ta khởi nghĩa thắng lợi, đuổi Phớp đi và......sau đó lại lên ngôi vua và..............VN mình sẽ ra sao nhỉ khi cái tư tương bế quan toả cảng vẫn nghị trị trong đầu các vị ý :sarcastic:

tutinit
03-06-2009, 10:20 AM
bác chưa đọc kỹ, là do nó đến sát gần dùng hỏa lực kiềm chế mấy ụ súng rồi quân VN mới chạy ra, nó đứng dưới chân thành hoảng quá phải ném đá thôi chứ làm thế nào bây giờ?
7000 lính bèo ra cũng phải có 1000 khẩu súng, chia ra mỗi cửa độ 200 khẩu dùng được, còn cung tên nữa. Vậy mà có hơn 100 thằng tấn công hai cửa chưa đến 1h đã thua. Theo lý thuyết 7000 lính đứng nhổ nước bọt không thôi cũng chết khối thằng Pháp
Đọc chỗ NTP bị bắt: lính cận vệ kiểu gì bắn mấy phát súng lục đã bỏ chạy hết để lại ông tướng
theo lý thuyết ông tướng nổi tiếng giỏi cỡ này phải có dàn cận vệ xịn lắm chứ nhỉ? Không có nổi mấy khẩu súng lục cho mấy chú đó nữa! mà Nhất Nam đâu sao ko giở ra hehee mấy chục thằng này cho Hoàng Phi Hồng xử là đẹp
Thời đó làm gì đã biết được súng sử dụng ra sao đâu
đầu óc của lính thì làm sao nghĩ ra được
nếu là 7000 lính đó có được khoảng 100 tên có đầu của NTP thì giống như ông bạn tưởng tượng rùi
giống như các bố già đến bây h làm gì đã biết đến máy tính, đây là đã nói đến thời đại công nghệ tt rùi đó nha
hihi