PDA

View Full Version : Các đời Sukhoi Đã và đang được thí nghiệm (sưu tầm trên Wikipedia.org)


Flanker2.5
10-09-2008, 09:08 AM
Sukhoi Su-1

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17884&d=1223595187

Sukhoi Su-1 hoặc I-330 (tiếng Nga: Сухой Су-1) là một mẫu thử nghiệm máy bay tiêm kích bay cao của Liên Xô được chế tạo khi chiến tranh thế giới II bắt đầu. Su-3 (I-360) là một phiên bản cải tiến của thiết kế ban đầu

Phát triển

Vào năm 1939, Sukhoi nhận nhiệm vụ thiết kế thử nghiệm một mẫu máy bay tiêm kích có thể bay trên độ cao lớn. Kết quả là Su-1, đây là mẫu máy bay một tầng cánh quy ước với khung gỗ và cánh được làm bằng hợp kim nhôm. Buồng lái không được điều áp. Đặc điểm nổi bật của máy bay là một cặp tăng nạp cho chế hòa khí TK-2 được điều khiển bởi khí thoát ra từ động cơ Klimov M-105P. Nguyên mẫu được hoàn thành vào tháng 5-1940. Chuyến bay thử đầu tiên được diễn ra vào ngày 15 tháng 6-1940 với sự điều khiển của A.P. Chernyavsky, nó còn trải qua các cuộc thử nghiệm giới hạn bay đến tháng 4-1941, đạt đến vận tốc 641 km/h (345 knots, 400 mph) trên độ cao 10000 m (32,810 ft). Tuy nhiên, thiết bị tăng nạp cho chế hòa khí tỏ ra không đáng tin cậy và người ta quyết định thay thế bằng Yakovlev Yak-1.

Sukhoi Su-3

Mẫu thứ 2 của Su-1 được chế tạo được gọi tên là Su-3, nó được thay đổi một số điểm ở cánh, diện tích cánh giảm xuống còn 17 m² (183 ft²). Nó được hoàn thành vào năm 1941 nhưng không bay. Dự án được hủy bỏ vì những vấn đề với hệ thống tăng áp chế hòa khí TK-2.

Thông số kỹ thuật (Su-1)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 1
Chiều dài: 8.42 m (27 ft 8 in)
Sải cánh: 11.50 m (37 ft 9 in)
Chiều cao: 2.71 m (8 ft 11 in)
Diện tích cánh: 19 m² (205 ft²)
Trọng lượng rỗng: 2495 kg (5,500 lb)
Trọng lượng cất cánh: 2875 kg (6,340 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: n/a
Động cơ: 1× Klimov M-105P, 820 kW (1,100 hp)

Hiệu suất bay

Vận tốc cực đại: 640 km/h (345 knots, 400 mph) trên 10000 m (32,810 ft)
Tầm bay: 720 km (390 nm, 445 mi)
Trần bay: 12500 m (ft)
Vận tốc lên cao: 10.33 phút lên 10000 m (32,810 ft)
Lực nâng của cánh: n/a
Lực đẩy/trọng lượng: n/a

Vũ khí
1x pháo ShVAK 20 mm (0.79 in)
2x súng máy ShKAS 7.62 mm (0.30 in)

Flanker2.5
10-09-2008, 09:14 AM
Sukhoi Su-2

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17910&d=1223705292

Sukhoi Su-2 (tiếng Nga: Сухой Су-2) là một máy bay trinh sát và ném bom hạng nhẹ được sử dụng đầu chiến tranh thế giới II. Đây là chiếc máy bay đầu tiên được thiết kế bởi Pavel Sukhoi. Thiết kế cơ bản có 1 động cơ, trang bị vũ khí nâng cấp (Su-4) và giảm bớt vai trò tấn công mặt đất (ShB).

Phát triển

Năm 1936, Joseph Stalin đồng ý phát triển một loại máy bay đa chức năng. Nó có tên mật là Ivanov, chiếc máy bay này có thể dùng để trinh sát và tấn công mục tiêu. Sukhoi lúc này đang làm việc tại Tupolev OKB và thực hiện thiết kế "Ivanov" dưới sự giám sát của Andrei Tupolev. Thành quả là ANT-51, nó bay lần đầu vào 25 tháng 8-1937 với phi công điều khiển là M.M. Gromov. Động cơ tròn Shvetsov M-62 ] cung cấp 820 sức ngựa (610 kW), ANT-51 đạt tốc độ 403 km/h (220 knots, 250 mph) trên cao 4,700 m (15,420 ft). Sau đó nó được thay thế động cơ khác khỏe hơn, Tumansky M-87 với công suất 1,000 hp (745 kW), ANT-51 có vận tốc 468 km/h (255 knots, 290 mph) trên cao 5,600 m (18,370 ft) và được sản xuất với tên gọi BB-1 (Blizhniy Bombardirovschik; tiếng Nga: Ближний Бомбардировщик — máy bay ném bom tầm ngắn). Năm 1940, máy bay được đổi tên thành Su-2 và động cơ M-87 được thay thế bằng động cơ Tumansky M-88.

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17908&d=1223705292

Su-2 được thiết kế pha trộn. Thân máy bay được làm bằng gỗ và gỗ dán ngoài. Cánh được làm bằng nhôm và thép. Phi công và xạ thủ được bảo vệ với vỏ giáp bao bọc dày 9 mm (0.35 in). Bánh sau của máy bay có thể thu vào được.

Lịch sử hoạt động

Mặc dù có hơn 800 chiếc Su-2 và Su-4 được chế tạo, nhưng nó vẫn bị coi là cũ và chỉ được sử dụng vào đầu chiến tranh thế giới II, và sau đó nhanh chóng bị thay thế bởi máy bay ném bom Petlyakov Pe-2 và Tupolev Tu-2. Sau đó phiên bản hạng nhẹ với một động cơ M-88B có vận tốc 512 km/h (275 knots, 320 mph) được dùng để thử nghiệm, một số chiếc Su-2 được sử dụng để chiến đấu trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại khi Liên Xô mất quá nhiều máy bay.

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17913&d=1223705598

Phiên bản

Su-4ShB (tiếng Nga: ШБ)
Một phiên bản tấn công mặt đất với động cơ M-88A, bộ phận tiếp đất được giảm nhẹ, có thể xoay 90° trước khi thụt vào cánh. Nó có thể mang 600 kg (1,235 lb) bom. Được hoàn thành vào năm 1940, máy bay này chưa bao giờ được sản xuất, do không cạnh tranh được với Ilyushin Il-2.

Su-4

Một phiên bản nâng cấp, đầu tiên nó được trang bị động cơ Urmin M-90 với công suất 2,100 hp (1,565 kW), nhưng sau đó nó lại được trang bị động cơ Shvetsov M-82 (một số Su-2 cũng được lắp M-82). Cánh của nó được làm bằng gỗ do thiếu kim loại. Nó được trang bị 4 súng máy ShKAS 7.62 mm sau đó được thay thế bởi 2 súng máy Berezin UB 12.7 mm

Thông số kỹ thuật

Su-2
Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 2
Chiều dài: 10.46 m (34 ft 4 in)
Sải cánh: 14.3 m (46 ft 11 in)
Chiều cao: 3.75 m (12 ft 3 in)
Diện tích cánh: 29 m² (312 ft²)
Trọng lượng rỗng: 3,220 kg (7,100 lb)
Trọng lượng cất cánh: 4,700 kg (10,360 lb)
Động cơ: 1× Shvetsov M-82, công suất 1,044 kW (1,400 hp)

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 485 km/h (260 knots, 300 mph)
Tầm bay: 1,100 km (595 nm, 685 mi)
Trần bay: 8,400 m (27,560 ft)
Vận tốc lên cao: 9.8 phút/ 5,000 m (16,405 ft)

Vũ khí
6× súng máy ShKAS 7.62 mm (0.30 in) (4 trong cánh, 2 trên buồng lái)
Mang 400 kg (880 lb) bom hoặc mang 10x tên lửa RS-82 hoặc 8x tên lửa RS-132.

Flanker2.5
10-09-2008, 09:17 AM
Sukhoi Su-5

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17922&d=1223836041


Sukhoi Su-5 hay I-107 là một máy bay chiến đấu có 2 loại động cơ (cánh quạt và phản lực) được chế tạo trước khi chiến tranh thế giới II kết thúc.

Phát triển

Sự xuất hiện của loại máy bay phản lực Messerschmitt Me 262 của Đức quốc xã vào cuối cuộc chiến tranh thế giới II, đã khiến các lãnh đạo Liên Xô yêu cầu phải phát triển một loại máy bay tiêm kích thật nhanh. Nhưng lúc đó Liên Xô thiếu một dây chuyền sản xuất động cơ phản lực, những nỗ lực được định hướng về phía máy bay có 2 động cơ, dùng một động cơ đẩy pít-tông truyền thống để cung cấp phần lớn công suất, cộng với một động cơ tên lửa hoặc động cơ phản lực nhỏ để tăng thêm tốc độ.

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17923&d=1223836041

Su-5 (ban đầu là I-107) và Mig I-250 (N) có cùng khái niệm, thiết kế vào năm 1944. Su-5 bay lần đầu tiên vào ngày 06-4-1945. Nó đạt đến vận tốc 793 km/h (428 knots, 493 mph) trên cao 4.350 m (14,270 ft) với động cơ phản lực. Ngày 15-6-1945 sau 1 chuyến bay thử nghiệmm động cơ pít-tông Klimov VK-107A bị hư hỏng phải thay mới. Sau đó máy bay thực hiện tiếp các chuyến bay thử nghiệm cho đến 18 tháng 10 khi động cơ đạt đến giới hạn sử dụng của nó. Sau đó dự án bị hủy bỏ do không có động cơ VK-107A.

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17924&d=1223836041

Su-5 là một máy bay một lớp cánh quy ước có khung làm bằng kim loại. Động cơ phản lực VDRK (tiếng Nga: Воздушно-Реактивный Двигатель Компрессорный) ở phía sau được thiết kế dựa trên động cơ pít-tông VK-107 và tăng thêm tốc độ 100 km/h (54 knots, 62 mph) chỉ trong 3 phút.

Thông số kỹ thuật (Su-5)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 1
Chiều dài: 8.51 m (27 ft 11 in)
Sải cánh: 10.56 m (34 ft 8 in)
Chiều cao: 3.53 m (11 ft 7 in)
Diện tích cánh: 17 m² (183 ft²)
Trọng lượng rỗng: 2954 kg (6,510 lb)
Trọng lượng cất cánh: 3804 kg (8,390 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: n/a
Động cơ:
1× động cơ phản lực VDRK, 2.9 kN (660 lbf)
1× động cơ pít-tông Klimov VK-107A, 1230 kW (1,650 hp)

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 810 km/h (437 knots, 503 mph) trên cao 7800 m (25,590 ft)
Tầm bay: 600 km (325 nm, 375 mi)
Trần bay: 12000 m (39,370 ft)
Vận tốc lên cao: 5.7 phút/ 5000 m (16,405 ft)
Lực nâng của cánh: n/a
Lực đẩy/trọng lượng: n/a

Vũ khí
1x pháo 23 mm (0.91 in) Nudelman-Suranov NS-23
2x súng máy 12.7 mm (0.50 in) Berezin UB

Flanker2.5
10-09-2008, 09:21 AM
Sukhoi Su-6

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17914&d=1223706428

Sukhoi Su-6 là một máy bay cường kích của Liên Xô được phát triển trong suốt chiến tranh thế giới II. Máy bay đánh chặn Su-7 2 động cơ (tên lửa và pít-tông) được phát triển dựa trên mẫu Su-6 một chỗ.

Thiết kế và phát triển

Công việc phát triển Su-6 bắt đầu vào năm 1939, khi phòng thiết kế Sukhoi bắt đầu làm việc thiết kế một loại máy bay cường kích một chỗ bọc giáp. 2 mẫu được chế tạo vào 4 tháng 3-1940, và 1 chiếc đã bay thử nghiệm vào 1 tháng 3-1941 và phi công điều khiển là A.I. Kokin.

Những chuyến bay thử nghiệm chỉ ra Su-6 hơn Ilyushin Il-2 trong mọi hiệu suất, tuy nhiên động cơ của nó bị giới hạn tuổi thọ trước khi việc thử nghiệm được hoàn tất, không có động cơ Shvetsov M-71 nào được cung cấp thay thế.

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17917&d=1223706428

Mẫu thứ 2 chỉ bay 1 lần vào tháng 1-1942, vì OKB phải sơ tán khi bắt đầu chiến tranh vệ quốc. Nó được trang bị 2 pháo 23 mm, 4 súng máy và 10 rãnh phóng tên lửa. Những kết quả thử nghiệm rất thuận lợi, Viện nghiên cứu khoa học AFRA giành được một lô sản xuất nhỏ thử nghiệm với vai trò máy bay tiêm kích tiền tuyến. Một quyết định phác thảo sản xuất 25 máy bay đã sẵn sàng, tuy nhiên không may cho Sukhoi, nó không bao giờ được ban bố.

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17915&d=1223706428

Kinh nghiệm chiến đấu trên Il-2 đã chỉ ra sự cần thiết của xạ thủ phía sau. Do đó, mẫu thứ 3 được thiết kế với tổ lái hai người, giảm tải trọng mang bom (giảm từ 400 kg {880 lb} xuống 200 kg {440 lb}), và trang bị động cơ khỏe hơn M-71F. Những cuộc thử nghiệm chính thức đã phát hiện ra rằng Su-6 hai chỗ có tốc độ lớn hơn Il-2 là 100 km/h, dù với một trọng tải nhỏ đáng kể.[2] Khi rắc rối với M-71 chấm dứt, Sukhoi được lệnh dùng động cơ Mikulin AM-42. Trong chuyến bay thử nghiệm vào ngày 22-02-1944, động cơ thay thế của Su-6 tỏ ra kém hơn động cơ cùng loại trên ] do bổ sung 250 kg (550 lb) áo giáp để bảo vệ động cơ và công suất hao phí của AM-42 thấp hơn M-71F.

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17918&d=1223706428

Dù Su-6 chưa bao giờ được sản xuất, vào năm 1943, Sukhoi được tặng Giải thưởng Stalin cho việc phát triển máy bay.

[I]Thông số kỹ thuật (Nguyên mẫu Su-6 thứ 3 với động cơ M-71)

Đặc điểm riêng
Phi hành đoàn: 2 (phi công và xạ thủ)
Chiều dài: 9.24 m (30 ft 4 in)
Sải cánh: 13.50 m (44 ft 3 in)
Chiều cao: 3.89 m (12 ft 9 in)
Diện tích cánh: 26 m² (280 ft²)
Trọng lượng rỗng: 4 000 kg (8,820 lb)
Trọng lượng cất cánh: 5 534 kg (12,200 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa:
Động cơ: 1× Shvetsov M-71F, 2,200 hp (1,620 kW)

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 514 km/h (280 knots, 320 mph) trên 3,800 m (12,465 ft)
Tầm bay: 973 km (525 nm, 605 mi)
Trần bay: 8,100 m (26,575 ft)
Vận tốc lên cao: 10.6 phút/5,000 m (16,405 ft)
Lực nâng của cánh: n/a
Lực đẩy/trọng lượng: n/a
Đường băng cất cánh: 410 m (1,345 ft)
Đường băng hạ cánh: 730 m (2,395 ft)

Vũ khí
2x pháo 23 mm Nudelman N-37 trong cánh, 90 viên đạn
2x súng máy ShKAS 7.62 mm trong cánh, 1,400 viên đạn
1x súng máy 12.7 mm Berezin UBT ở phía sau, 196 viên đạn
Mang được 200 kg (440 lb) bom

Flanker2.5
10-09-2008, 09:24 AM
Sukhoi Su-8

http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=17967&d=1224111125


Sukhoi Su-8 hay DDBSh (tiếng Nga: Су-8 ДДБШ - Двухмоторный Двухместный Бронированный Штурмовик - Máy bay cường kích 2 động cơ 2 chỗ bọc sắt) là một mẫu máy bay cường kích thử nghiệm hạng nặng của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ 2.

Phát triển

Trong khi Sukhoi đang hoàn thiện máy bay tấn công hạng nhẹ Sukhoi Su-6, OKB cũng phát triển một loại máy bay to lớn, bọc sắt và được trang bị nhiều vũ khí có tên gọi Su-8. Hai mẫu thử đã được hoàn thành vào năm 1943 và đưa vào thử nghiệm năm 1944. Các mẫu này không được chính phủ chấp nhận vì động cơ loại M-71 không dùng được. Mọi sự nỗ lực với động cơ loại Mikulin AM-42 cũng không tạo được kêt quả khả quan hơn.

http://www.enginehistory.org/Museums/TransMusBudapest/mikulin_am-42_2.jpg
Động cơ AM-42


Su-8 được xây dựng pha trộn. Buồng lái bọc sắt, với thân máy bay làm bằng nhôm, đuôi được làm bằng gỗ. Cánh máy bay làm bằng thép và nhôm. Những đuôi lái phía sau được làm bằng kim loại. Ngoài buồng lái, động cơ, thùng nhiên liêu, và bình tản nhiệt bằng dầu hoàn toàn bọc sắt, với trọng lượng giáp lên tới 1680 kg, nhiều hơn 2 lần so với Ilyushin Il-2.

Thông số kỹ thuật (Su-8)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 2
Chiều dài: 13,5 m
Sải cánh: 20,5 m
Chiều cao: 4,035 m
Diện tích cánh: 60 m² (646 ft²)
Trọng lượng rỗng: 9180 kg (20.240 lb)
Trọng lượng cất cánh: 12425 kg (27.390 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 13380 kg (29.500 lb)
Động cơ: 2× Shvetsov M-71F, công suất 1640 kW (2,200 hp) mỗi chiếc

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 550 km/h (300 knots, 340 mph) trên cao 4600 m (15,090 ft)
Tầm bay: 1450 km (785 nm, 900 mi)
Trần bay: 9000 m (29,530 ft)
Vận tốc lên cao: 9 phút/ 5 000 m (16,405 ft)
Lực nâng của cánh: n/a
Lực đẩy/trọng lượng: n/a

Vũ khí
4x pháo 37 mm (1.46 in) Nudelman N-37 hoặc 4x pháo 45 mm (1.78 in) Nudelman N-45
8x súng máy ShKAS 7.62 mm (0.30 in)
1x súng máy 12.7 mm (0.50 in) UBT
1x súng 7.62 mm ShKAS
Tổng trọng lượng đạn dược 232 kg (510 lb)
Mang đựoc 1400 kg (3,085 lb) bom

Flanker2.5
10-09-2008, 09:28 AM
Sukhoi Su-9 (1946)

- Sukhoi Su-9 hay Samolet K (tiếng Nga: Aircraft K), là một máy bay phản lực được chế tạo sớm ở Liên Xô không lâu sau khi kết thúc chiến tranh thế giới II. Su-9 cũng được dùng làm cơ sở để phát triển Su-11 (Samolet LK) và Su-13 (Samolet TK).

- Sukhoi Su-9
Nó có hình dạng bề ngoài tương tự như máy bay Messerschmitt Me 262 của Đức quốc xã, nhưng Su-9 lại không liên quan gì đến loại máy bay kia. Chuyến bay đầu tiên được thực hiện vào ngày 13 tháng 11-1946 và việc thử nghiệm diễn ra liên tục trong tháng đã chứng tỏ một kết quả khá khả quan.[1] Su-9 là một thiết kế tiên tiến tại thời điểm đó với một ghế phóng và một hệ thống phóng rocket JATO (2x 11.27 kN {2,530 lbf} cung cấp lực đẩy trong 8 s). Lần đầu tiên trên một máy bay Liên Xô, Su-9 dùng một dù phanh và phanh hơi trên cánh.[1] Máy bay xuất hiện đầu tiên trước công chúng vào 3 tháng 8-1947 tại sân bay Tushino.

Việc phát triển Su-9 bị hạn chế bởi những thành kiến liên quan về hình dáng của nó với Me 262. Sự cạnh tranh của máy bay thiết kế bởi Aleksandr Yakovlev đã chống lại Sukhoi trước Joseph Stalin.

Su-9 bị hủy bỏ khi Su-11 (LK) xuất hiện.

- Thông số kỹ thuật Su-9)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 1
Chiều dài: 10.57 m (34 ft 8 in)
Sải cánh: 11.21 m (36 ft 9 in)
Chiều cao: 3.72 m (12 ft 2 in)
Diện tích cánh: 20.24 m² (217.87 ft²)
Trọng lượng rỗng: 4 060 kg (8,950 lb)
Trọng lượng cất cánh: 5 890 kg (12,990 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 6 380 kg (14,070 lb)
Động cơ: 2× động cơ phản lực Tumansky RD-10, lực đẩy 8.8 kN (1,984 lbf) mỗi chiếc
Sức chứa nhiên liệu: 1,750 kg (3,860 lb)

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 885 km/h (480 knots, 550 mph) trên 5 000 m (16,405 ft)
Tầm bay: 1.140 km (615 nm, 710 mi)
Trần bay: 12.800 m (41,984 ft)
Vận tốc lên cao: 4.2 phút/ 5 000 m (16,405 ft)
Lực nâng của cánh: 291 kg/m² (60 lb/ft²)
Lực đẩy/trọng lượng: 0.31
Thời gian bay kéo dài: 1 giờ 44 phút

Vũ khí
1x pháo 37 mm Nudelman N-37 với 30 viên đạn (1x pháo 45 mm Nudelman N-45 có thể được thay thế)
2x pháo 23 mm Nudelman-Suranov NS-23 với 200 viên đạn/súng
Mang được 500 kg (1,100 lb) bom (1x FAB-500 hoặc 2x FAB-250)

Flanker2.5
10-09-2008, 09:31 AM
Sukhoi Su-10

- Sukhoi Su-10 hay Samolet E (tiếng Nga: Aircraft E) là mẫu máy bay ném bom phản lực được chế tạo sau chiến tranh thế giới II.

-Phát triển
Vào năm 1947, OKB Sukhoi sáng chế ra một máy bay ném bom phản lực bay ngày. Vì thiếu động cơ đủ mạnh, nên máy bay có một sự sắp xếp khác thường với 2 động cơ phản lực chồng lên nhau ở trên và dưới cánh (thiết kế gốc có 6 động cơ Junkers Jumo 004, 4 trên cánh và 2 trong thân ở dưới buồng lái). Máy bay có không quét theo quy ước và cánh đuôi máy bay truyền thống, mặc dù đuôi giữ thăng bằng có dạng cánh quét góc 45°. Cánh nhỏ và bánh lái được điều khiển bằng hệ thống thủy lực. Hệ thống phòng thủ với 2 pháo trang bị trên các tháp nhô ra.

Một mẫu duy nhất được hoàn thành vào cuối năm 1947 và dự án bị hủy bỏ vào năm 1948, không chuyến bay nào được thực hiện.

- Thông số kỹ thuật (Su-10)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 4 (phi công, hoa tiêu, nhân viên điện đài và quan sát phát hiện mục tiêu kiêm xạ thủ)
Chiều dài: 19.55 m (64 ft 2 in)
Sải cánh: 20.60 m (67 ft 6 in)
Chiều cao: n/a
Diện tích cánh: 71.3 m² (767.4 ft²)
Trọng lượng rỗng: 13 435 kg (29,620 lb)
Trọng lượng cất cánh: 21 135 kg (46,600 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 21 140 kg (46,600 lb)
Động cơ: 4× động cơ phản lực Lyulka TR-1A, lực đẩy 14.7 kN (3,305 lbf) mỗi chiếc.

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 850 km/h (460 knots, 530 mph)
Tầm bay: 1,500 km (810 nm, 930 mi)
Trần bay: 12,000 m (39,370 ft)
Vận tốc lên cao: n/a
Lực nâng của cánh: 297 kg/m² (60.8 lb/ft²)
Lực đẩy/trọng lượng: 0.29

Vũ khí
4x pháo 20 mm Berezin B-20
Mang được 4 000 kg (8,820 lb)

Flanker2.5
10-09-2008, 09:36 AM
Sukhoi Su-15 (1949)

- Sukhoi Su-15 (Máy bay P) là một mẫu máy bay tiêm kích đánh chặn thử nghiệm mọi thời tiết của Liên Xô. Tên Su-15 sau này còn được sử dụng lại cho máy bay tiêm kích những năm 1960 có thiết kế khác hoàn toàn, xem Sukhoi Su-15.

Phát triển
Su-15 là một sự nỗ lực thiết kế một mẫu máy bay đánh chặn phản lực bay được trong mọi thời tiết. Chính phủ Xô Viết đã ra lệnh phát triển nó vào tháng 3-1947. Mẫu đầu tiên hoàn thành vào 25 tháng 10-1948 - chỉ có 4 tháng sau khi việc sản xuất bắt đầu. Nó bay vào 11 tháng 1-1949. Trong các thử nghiệm, Su-15 đạt đến tốc độ 1032 km/h (557 knots, 641 mph; Mach 0.888) trên cao 4,550 m (14,925 ft) và 985 km/h (532 knots, 612 mph; Mach 0.926) trên cao 10,950 m (35,925 ft). Những vấn đề biểu hiện là máy bay bị rung khi bay với tốc độ cao (quá Mach 0.87). Trong suốt 39 chuyến bay, vào 3 tháng 6-1949, máy bay bị rung quá mạnh khiến phi công thử nghiệm S.N. Anokhin đã phải dùng đến hệ thống thoát hiểm. Chương trình sau đó bị chấm dứt, mẫu thứ 2 không được hoàn thành.


Su-15Su-15 là một máy bay một tầng cánh làm bằng kim loại, với cánh cụp góc 35°. Máy bay có vài đặc tính thiết kế rất khác thường. Nó có 2 động cơ Klimov RD-45 được đặt nối tiếp nhau trên một trục dọc thân máy bay khác hẳn với lối đặt 2 chiếc động cơ bên cạnh nhau, vì đường kính lớn của nó. Động cơ trước được đặt thấp với ống xả dưới thân máy bay. Ống xa của động cơ phía sau ở cuối thân máy bay. Buồng lái lệch sang bên trái để tạo khoảng không cho hệ thống các ống khe hút khí của động cơ phía sau.

- Thông số kỹ thuật (Su-15)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 1
Chiều dài: 15.44 m (50 ft 8 in)
Sải cánh: 12.87 m (42 ft 3 in)
Chiều cao: N/A
Diện tích cánh: 36 m² (388 ft²)
Trọng lượng rỗng: 7409 kg (16,334 lb)
Trọng lượng cất cánh: 10437 kg (23,009 lb)
Động cơ: 2× động cơ phản lực Klimov RD-45F, công suất 22.2 kN (5,000 lbf) mỗi chiếc

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 985 km/h (532 knots, 612 mph) (Mach 0.926) trên cao 10,950 m (35,925 ft)
Tầm bay: 1050 km (565 nm, 650 mi)
Trần bay: 15000 m (49,210 ft)
Vận tốc lên cao: 2.5 phút/ 5000 m (16,405 ft)
Lực đẩy/trọng lượng: 0.43

Vũ khí
2× 37 mm (1.45 in) pháo Nudelman N-37, 110 viên đạn

Hệ thống điện tử
Ra-đa Торый

Flanker2.5
10-09-2008, 09:39 AM
Sukhoi Su-17 (1949)

- Sukhoi Su-17 (Aircraft R) là một mẫu thử nghiệm máy bay chiến đấu của Liên Xô trong cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950. Cái tên Su-17 sau này còn được sử dụng lại cho loại máy bay tiêm kích-ném bom hoàn chỉnh khác là Sukhoi Su-17.

- Phát triển
Su-17 được thiết kế gần với các tính toán lý thuyết cho tốc độ siêu âm của TsAGI. Máy bay này có cánh cụp góc 50° kết hợp với phanh khí và những điều khiển. Một đặc tính duy nhất là thêm vào một ghế phóng, toàn bộ phần mũi có thể tách ra từ phần còn lại của khung máy bay. Dự án bị hủy bỏ và không một chuyển bay nào được thực hiện vì những khó khăn trong việc phát triển động cơ phản lực.

- Thông số kỹ thuật (Su-17 theo thiết kế)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 1
Chiều dài: 15.25 m (50 ft 0 in)
Sải cánh: 9.95 m (32 ft 8 in)
Chiều cao: N/A
Diện tích : 27.5 m² (296 ft²)
Trọng lượng rỗng: 6240 kg (13,760 lb)
Trọng lượng cất cánh: 7390 kg (16,290 lb)
Động cơ: 1× động cơ phản lực Lyulka TR-3, 45.1 kN (10,135 lbf)

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 1,152 km/h (622 knots, 716 mph, Mach 1.07) trên 10,000 m (32,800 ft)
Tầm bay: 1080 km (585 nm, 670 mi)
Trần bay: 14,500 m (47,570 ft)
Vận tốc lên cao: 3.5 phút / 10,000 m (32,800 ft)

Vũ khí
2× pháo 37 mm Nudelman N-37, 80 viên đạn mỗi súng

Flanker2.5
10-09-2008, 09:45 AM
Sukhoi Su-47

- Sukhoi Su-47 Berkut (tên tiếng Nga: Су-47 "Беркут" - Đại bàng Vàng), cũng được định danh là S-32 và S-37 trong quá trình phát triển đầu tiên, là một máy bay phản lực chiến đấu siêu âm thực nghiệm do Tập đoàn Hàng không Sukhoi phát triển. Tên ký hiệu của NATO của loại máy bay này là "Firkin". Một đặc điểm dễ phân biệt của Sukhoi Su-47 là cánh cụp phía trước, tương tự như cánh loại Grumman X-29. Cái tên Berkut đã được đặt thêm cho Su-47 từ năm 2002, cho thấy loại máy bay này đã chuyển sang giai đoạn sẵn sàng sản xuất, và có lẽ nó sẽ được thiết kế lại nhiều (như một phần trong chương trình Sukhoi PAK FA (Prospective Air Complex for Tactical Air Forces) của Sukhoi) trước khi công việc sản xuất hàng loạt được bắt đầu. Tên định danh Su-47 có thể hoặc không được dùng lại cho thiết kế PAK FA.

- Lịch sử
Ban đầu được gọi là S-37, Sukhoi đã tái định danh chiếc máy bay thử nghiệm hiện đại của mình thành Su-47 năm 2002. Sự thay đổi phản ánh quyết định của công ty về việc tiếp thị mẫu thiết kế như một máy bay chiến đấu chứ không còn là một nguyên mẫu thực nghiệm nữa. Su-47 cũng thường được gọi là Berkut (Đại bàng Vàng), S-37 ban đầu được chế tạo làm loại máy bay thí nghiệm các vật liệu composite cũng như các hệ thống điều khiển fly-by-wire phức tạp của Nga. Chiếc máy bay này sử dụng cánh nghiêng phía trước cho phép nó có được khả năng thao diễn tuyệt vời cũng như các góc hoạt động và tấn công lên tới 45° hay hơn nữa.
Su-47 bay ngửaTsAGI từ lâu đã biết về tính năng ưu việt của các loại cánh nghiêng phía trước, với việc nghiên cứu gồm cả việc phát triển Tsibin LL và xem xét chiếc Junkers Ju 287 bắt được trong thập kỷ 1940. Các loại cánh nghiêng phía trước có lực cản sóng (wave drag) thấp hơn, giảm mô-men uốn, và giúp máy bay ít chòng chành hơn so với các hình dạng cánh máy bay quy ước. Không may thay, cánh nghiêng phía trước cũng gây ra tình trạng xoắn (phân bố lực không đều) đủ mạnh để làm gãy cánh máy bay nếu chúng chỉ được chế tạo bằng vật liệu quy ước. Chỉ những vật liệu composite mới được khám phá gần đây mới giúp đưa ý tưởng loại cánh nghiêng phía trước trở thành hiện thực.

Giống như đối thủ phương Tây của mình, loại Grumman X-29, S-37 ban đầu chỉ có mục tiêu phô diễn kỹ thuật, và cũng từng được dự định trở thành loại máy bay đầu tiên trong thế hệ máy bay chiến đấu tiếp sau của Nga. Một máy bay chiến đấu như vậy không chỉ đòi hỏi phải hiện đại như F-22 Raptor của Hoa Kỳ và Eurofighter Typhoon của Châu Âu, mà còn phải có tính cạnh tranh cả về chi phí với Dự án MiG 1.44/1.42 mang tính quy ước hơn của Mikoyan. Tuy nhiên, Sukhoi hiện đang nỗ lực tiếp thị loại S-37 tới quân đội Nga và các khách hàng nước ngoài với tư cách một máy bay chiến đấu sản xuất theo quyền riêng của họ. Phản ứng ban đầu không tốt, nhưng tính năng của loại máy bay này gây ấn tượng tới mức chính phủ Nga đã cung cấp đủ số vốn cần thiết cho việc thử nghiệm và thiết kế tiếp theo.

Thiết kế
S-37 không có kích thước tương tự như các loại máy bay chiến đấu lớn của Sukhoi trước đó như Su-35. Để giảm các chi phí phát triển, S-37 mượn phần thân trước, cánh dọc, và bộ bánh đáp từ loại Su-27. Tuy nhiên, máy bay được tích hợp các đặc tính giảm khả năng bị phát hiện bởi ra-đa (gồm cả các vật liệu hấp thụ ra-đa), một khoang vũ khí trong, và khoảng không gian cần thiết cho một hệ thống ra-đa hiện đại. Dù về khái niệm tổng thế nó giống với loại máy bay nghiên cứu X-29 của Mỹ hồi thập niên 1980, S-37 có kích cỡ lớn gấp khoảng hai lần và giống với một loại máy bay chiến đấu thực sự hơn bản thiết kế của Hoa Kỳ.

Cánh nghiêng phía trước của Su-47 được quan sát thấy rõ trong bức ảnh nàyĐể giải quyết vấn đề phân bố lực không đều trên cánh, S-37 sử dụng các vật liệu composite đã được xử lý kỹ để chống lại hiện tượng xoắn trong khi vẫn cho phép cánh có được những tính năng khí động học ưu việt. Vì sải cánh khá lớn của nó, S-37 có lẽ sẽ được trang bị cánh gấp, nhằm tương thích với kích cỡ những nhà chứa máy bay Nga. Giống như mẫu trước của nó, S-37 Berkut sử dụng thiết kế ba tầng cánh, với cánh mũi phía trước và cánh đuôi phía sau. Khá ngạc nhiên, S-37 có hai khoang đuôi với kích thước không bằng nhau bên trên các cửa thoát khí. Khoang ngắn, ở phía trái, là nơi đặt ra-đa sau, trong khi khoang dài là nơi đặt phanh dù.

Bất kỳ loại S-37 được sản xuất nào cũng đều có khả năng mang hầu hết các loại tên lửa đang được sử dụng trong Không quân Nga và Ấn Độ, gồm cả AA-12 Adder, AA-11 Archer, và AA-10 Alamo. Dường như nó không thể mang loại tên lửa tầm dài Novator KS-172 AAM-L, được phát triển để trang bị trên loạt Su-27, MiG-31, và MiG 1.44.


- Thông tin chung

Khả năng thao diễn
Su-47 có tính cơ động rất cao ở tốc độ siêu âm, cho phép nó thay đổi góc tấn công và đường bay nhanh chóng trong khi vẫn giữ được tính năng thao điễn ở tốc độ siêu âm.

Các tỷ lệ quay tối đa, và các giới hạn tốc độ không khí trên và dưới cho việc khai hỏa vũ khí, là những yếu tố quan trọng trong việc giành ưu thế trên không. Máy bay Su-47 có mức độ thao diễn rất cao trong khi vẫn giữ được sự ổn định và khả năng điều khiển ở mọi góc tấn công. Các tỷ lệ quay tối đa là yếu tố quan trọng trong không chiến tầm gần cũng như tầm trung, khi phải đối mặt với nhiều đối thủ ở các hướng khác nhau. Tỷ lệ quay cao của Su-47 cho phép phi công nhanh chóng đổi hướng máy bay sang mục tiêu tiếp sau và chuẩn bị khai hỏa vũ khí.

Cánh nghiêng phía trước, so với cánh nghiêng phía sau có cùng diện tích, mang lại một số ưu điểm:

Tỷ lệ nâng trên lực cản lớn
Khả năng thao diễn cao trong những trận đánh hỗn loạn (dogfight)
Tầm hoạt động cao ở tốc độ siêu âm
Tăng khả năng chống chòng chành và các đặc điểm chống xoay tròn
Cải thiện độ ổn định ở các góc tấn công lớn
Tốc độ bay tối thiểu thấp
Khoảng cách cất, hạ cánh ngắn

Thân
Hình cắt ngang thân Berkut hình oval và khung máy bay được chế tạo chủ yếu bằng nhôm và các hợp kim titan 13% (theo trọng lượng) vật liệu composite. Vòm mũi hơi phẳng ở phía trước, và có cạnh đứng để tăng các đặc điểm chống quay của máy bay.

Cánh

Su-47 bay lênCánh giữa nghiêng phía trước khiến Su-47 có vẻ ngoài (và đặc điểm) không theo quy ước. Một phần lực nâng lớn do cánh nghiêng phía trước tạo ra ở phần phía trong sải cánh. Lực nâng không bị hạn chế bởi hiện tượng uốn (wingtip stall) tại mũi cánh. Các cánh nhỏ - các bề mặt kiểm soát của cánh - vẫn có hiệu lực hoạt động tại các góc tấn công lớn nhất, và khả năng kiểm soát pháp bay luôn được duy trì thậm chí khi dòng không khí tác rời khỏi phần còn lại của bề mặt cánh.

Các rầm cánh được chế tạo bằng gần 90% vật liệu composite. Cánh giữa nghiêng phía trước có tỷ lệ hướng (aspect ratio) cao, góp phần tăng tính năng hoạt động tầm xa. Phần phía trước cánh lượn nhẹ vào các rầm cánh, chúng được lắp đặt các tấm có thể đổi hướng ở phần trước; cánh nắp (flap) và cánh nhỏ trên phần lái đuôi. Cánh mũi di chuyển mọi hướng diện tích nhỏ hình thang được nối với phần kéo dài của gờ trước cánh.

Nhược điểm của kiểu thiết kế cánh đó là nó tạo ra các lực quay mạnh có thể làm cánh gãy khỏi thân, đặc biệt khi hoạt động ở tốc độ cao. Lực xoắn này đòi hỏi phải sử dụng một lượng lớn vật liệu composite nhằm tăng sức bền và tuổi thọ cánh. Dù vậy, ban đầu máy bay bị hạn chế ở tốc độ Mach 1.6. Những sửa đổi kỹ thuật gần đây đã giúp tăng giới hạn này, nhưng mức giới hạn mới vẫn chưa được xác định.

Phụt chỉnh hướng
Dù không phải là kỹ thuật mang tính cách mạng, hệ thống phụt chỉnh hướng (với kiểu biến cải động cơ PFU) từ -20° tới +20° ở 30°/giây theo cả hai hướng dọc và ngang (in pitch and yaw) giúp tăng đáng kể tính cơ động có được của kiểu cánh nghiêng phía trước.

Buồng lái
Thiết kế buồng lái nhấn mạnh trên sự tiện lợi cho phi công và giúp phi công có khả năng kiểm soát máy bay khi thao diễn ở mức độ gia tốc trọng trường cực lớn. Máy bay được trang bị một ghế phóng mới và hệ thống hỗ trợ cứu nạn. Ghế phóng thay đổi hình dạng thích ứng nghiêng một góc 60°, làm giảm tác động của các lực g lên phi công. Ghế cho phép máy bay thao diễn chiến đấu trong các trận đánh hỗn loạn với tác động lực g giảm thiểu. Phi công Su-47 sử dụng thanh điều khiển biên, tốc độ chậm và một bộ điều khiển lực phụt kiểu cảm biến độ căng (tensiometric throttle control).

Đặc điểm kỹ thuật (Su-47)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 1
Chiều dài: 22.6 m (74 ft 2 in)
Sải cánh: từ 15.16 m đến 16.7 m (49 ft 9 in to 54 ft 9 in)
Chiều cao: 6.3 m (20 ft 8 in)
Diện tích: 666 ft² (203 m²)
Trọng lượng rỗng: 36,100 lbs (16375 kg)
Trọng lượng cất cánh: 55,115 lb (25,000 kg)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 77,162 lbs (35,000 kg)
Động cơ: 2x động cơ phản lựa tuabin cánh quạt Lyulka AL-37FU điều khiển số, **Công suất thực: 83.4 kN (18,700 lbf) mỗi chiếc
Công suất khi đốt nhiên liệu lần 2: 142.2 kN (32,000 lbf) mỗi chiếc
Hướng phụt: 20° tới +20° ở 30°/giây theo cả hai hướng dọc và ngang

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: Mach 2.1 ((2,200 km/h, 1400 mph), Mach 1.35 (1,400 km/h, 870 miles) trên biển
Tầm bay: 3,300 km (2,050 mi)
Trần bay: 18,000 m (59,050 ft)
Vận tốc lên cao: 230 m/s (45,300 ft/min)
Lực nâng của cánh: 79.4 lb/ft² (36 kg/m²)
Lực đẩy/trọng lượng: N/A

Vũ khí
1x pháo GSh-30-1 30 mm với 150 viên đạn
Tên lửa: 14 giá treo vũ khí (2 đầu cánh, 6-8 dưới thân, 4-6 dưới cánh)
Không đối không: R-77, R-77PD, R-73, K-74
Không đối đất : X-29T, X-29L, X-59M, X-31P, X-31A, KAB-500, KAB-1500

Flanker2.5
10-09-2008, 09:48 AM
Sukhoi P-1

- Sukhoi P-1 là một mẫu máy bay tiêm kích đánh chặn thử nghiệm của Liên Xô trong thập niên 1950.

- Phát triển
P-1 được thiết kế để sử dụng loại radar đánh chặn Uragan-1 (Bão-1). Vì sự phức tạp của radar, máy bay được đưa vào thêm một phi công nữa trong tổ lái, nâng con số phi công lên 2. P-1 có cánh tam giác giống Sukhoi T-3 với góc vát của cánh trước là 57°. Dù máy bay được dự định dùng động cơ Tumansky R-15, nhưng mẫu thử nghiệm lại được trang bị động cơ Lyulka AL-7F.

P-1 bay lần đầu tiên vào tháng 10-1957 nhưng chỉ trải qua sự thử nghiệm bay hạn chế vì động cơ sử dụng kém hiệu quả và những vấn đề xảy ra với radar và hệ thống tên lửa.

- Thông số kỹ thuật (thiết kế của P-1)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 2
Chiều dài: 21.3 m (69 ft 11 in)
Sải cánh: 9.8 m (32 ft 2 in)
Chiều cao: N/A
Diện tích : 44.0 m² (474 ft²)
Trọng lượng rỗng: N/A
Trọng lượng cất cánh: 10750 kg (23,700 lb)
Động cơ: 1× động cơ phản lực Tumansky R-15

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 2050 km/h (1,105 knots, 1,275 mph, Mach 1.93)
Tầm bay: 2,000 km (1,080 nm, 1,240 mi)
Trần bay: 19,500 m (63,975 ft)

Vũ khí
1× pháo 37 mm Nudelman N-37
2× tên lửa điều khiển radar K-7
50× tên lửa không điều khiển

Flanker2.5
10-09-2008, 09:51 AM
Sukhoi T-3

- Sukhoi T-3 là một mẫu máy bay tiêm kích đánh chặn thử nghiệm của Liên Xô trong thập niên 1950. Nó được thiết kế thử nghiệm để tạo ra mẫu máy bay siêu âm

- Phát triển
Công việc phát triển T-3 bắt đầu từ đầu những năm 1950, nó được phát triển song song với mẫu S-1 mà cuối cùng đã trở thành Sukhoi Su-7. Trong khi S-1 có một đôi cánh cụp thông thường (S viết tắt strelovidniy, стреловидный, cánh cụp), T-3 có một đôi cánh tam giác với góc vát là 57° (T viết tắt treugolniy, треугольный, cánh tam giác).[1] Ngoài đôi cánh khác nhau, 2 chiếc máy bay này có cùng những thiết kế cơ bản là động cơ phản lực Lyulka AL-7. Từ đó T-3 trở thành một máy bay đánh chặn, nó được trang bị radar Almaz (Алмаз, Kim cương) ở đầu mũi. Mẫu đầu tiên bay vào 26 tháng 5-1956.

Để điều tra nghiên cứu những hình dạng vòm radar khác nhau cũng như phát triển radar và hệ thống tên lửa, 2 mẫu nữa đã được thêm vào bổ sung. Nó có tên gọi là PT-7 và PT-8. PT-7 có đầu dốc khe hút khí thay đổi được, trong khi PT-8 có một cái mũi rộng.

T-3 không được sản xuất nhưng nó đã cung cấp các thông số để cho loại Sukhoi Su-9 sau này.

-Thông số kỹ thuật (T-3)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 1
Chiều dài: 16.75 m (55 ft 11 in)
Sải cánh: 8.43 m (27 ft 8 in)
Chiều cao: N/A
Diện tích : 24.2 m² (260.5 ft²)
Động cơ: 1× động cơ phản lực Lyulka AL-7F, 63.7 kN (14,320 lbf) - 88.8 kN (19,960 lbf) khi đốt nhiên liệu lần hai

Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 2,100 km/h (1,135 knots, 1,305 mph, Mach 1.98)
Tầm bay: 1,840 km (995 nm, 1145 mi)
Trần bay: 18,000 m (59,055 ft)
Vận tốc lên cao:
Lực nâng của cánh:
Lực đẩy/trọng lượng:

Vũ khí
2× tên lửa không đối không Kaliningrad K-8 hoặc Raduga K-9
Radar Almaz

Flanker2.5
10-09-2008, 09:55 AM
Sukhoi T-4

- Sukhoi T-4, hoặc "Aircraft 100", hoặc "Project 100", hoặc "Sotka" là một máy bay ném bom chiến lược, trinh sát và đánh chặn tốc độ cao của Liên Xô, nhưng nó không được phát triển xa hơn ngoài mẫu máy bay thử nghiệm. Đôi khi nó còn bị gọi tên sai là Su-100.

- Phát triển
Thiết kế của T-4 khá giống với loại máy bay XB-70 Valkyrie siêu âm, nhưng thiết kế của Liên Xô không phải được dự định cho một máy bay ném bom siêu âm, mà là nó được tạo ra từ những cải tiến hiện đại về hàng không để phát triển thành một loại máy bay trinh sát và đánh chặn nhỏ có thể đạt đến tốc độ Mach 3. Về phương diện này T-4 gần với một nỗ lực phát triển của Liên Xô để tạo ra một loại máy bay tương đương với loại North American XF-108 Rapier được đề xuất của Mỹ.

T-4 được làm phần lớn từ titanium và thép không gỉ, và một hệ thống lái điều khiển fly-by-wire nổi bật nhưng nó cũng có những hệ thống điều khiển cơ khí như một hệ thống dự phòng. Mũi máy bay được hạ thấp xuống để cung cấp tầm nhìn khi hạ cánh và cất cánh. Một kính tiềm vọng được sử dụng để nhìn phía trước khi mũi máy bay được rút lại, và có thể đạt đến tốc độ 373 mph (600 km/h). Ngoài những má phanh truyền thống nó còn có hệ thống phanh bằng dù.

-Thử nghiệm

T-4Chiếc T-4 đầu tiên, có tên gọi "101", bay lần đầu vào 22 tháng 8-1972. Phi công lái máy bay là Vladimir Ilyushin, con trai của nhà thiết kế máy bay nổi tiếng Sergei Ilyushin (Trở trêu là Vladimir không bao giờ làm việc trong phòng thiết kế của cha mình), và phi công dẫn đường là Nikolai Alfyorov. Nó chỉ bay 10 lần với tổng thời gian là 10 giờ 20 phút. Nó có thể đã đạt đến vận tốc Mach 1.3 với 4 động cơ Kolesov RD36-41, công suất mỗi chiếc có thể đạt 16,000 kgf (35,300 lbf hoặc 157 kN) khi đốt nhiên liệu lần hai. Máy bay được thiết kế đạt tốc độ tới Mach 3, nhưng chương trình đã bị đình chỉ trước khi những hiệu suất hoàn thiện của máy bay có thể được xác định rõ. Người ta cũng tin T-4 là "máy bay 101" đã đạt một kỷ lục bay với tốc độ Mach 1.89 trong 2000 km. Điều này cũng chỉ ra rằng T-4 không thể bay tốc độ hành trình theo tốc độ thiết kế gần Mach 3 và có thể đây là một trong số nhiều lý do khiến chương trình bị hủy bỏ.

Lý do khác khiến dự án bị hủy bỏ là do VVS (Военно-воздушные силы, Voenno-Vozdushnye Sily,Không quân Xô viết) đưa ra yêu cầu chế tạo 250 chiếc T-4. Trong lúc đó, một số sỹ quan cao cấp khác đã nghiêng về phía giải pháp tìm kiếm những máy bay chiến đấu khác thực tế hơn thay vì có một chiếc máy bay lớn như T-4 trên không. Khi nguyên soái Andrei Grechko làm bộ trưởng Bộ quốc phòng, ông đã nghe một sĩ quan chỉ huy nói như sau: "Đồng chí có thể có một số lượng lớn MiG-23 chỉ khi T-4 bị hủy bỏ". Sau khi suy nghĩ lại, có lẽ đó là một sự mặc cả khôn khéo bởi vì việc sản xuất một chiếc T-4 không phải là đơn giản và không hề rẻ hơn so với việc chế tạo một chiếc XB-70, một trong những lý do khiến XB-70 bị hủy bỏ là do chi phí vượt quá ngân quỹ và các khó khăn về kỹ thuật.

- Mẫu máy bay còn lại
Có 1 chiếc T-4 vẫn tồn tại đến ngày nay. Chiếc máy bay "101" được trưng bay tại bảo tàng Monino gần Moscow. Số thứ tự cho các nguyên mẫu là từ "101" đến "106". Chỉ 2 mẫu nữa đã được chế tạo hoàn thiện ("101" và "102"), ngoài ra còn có thêm nguyên mẫu số "103" và "104" đã được dựng khung, "105" và "106" chỉ tồn tại trên các bản thiết kế. Chỉ có chiếc "101" hoàn thành mọi chuyến bay thử trước khi dự án bị kết thúc vào 22 tháng 1 năm 1974. Các nguyên mẫu đó đã bị loại bỏ.

- Các phiên bản trong dự án
T-4: Thiết kế đầu tiên cho mục đích trinh sát và đánh chặn.
101: Mẫu chế tạo đầu tiên.
T-4: Máy bay dân dụng loại lớn
T-4M (dự án "100I"): Máy bay ném bom siêu âm.
T-4MS (dự án "200"): Máy bay ném bom siêu âm.

- Thông số kỹ thuật (T-4)

Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 2
Chiều dài: 44.0 m (145,2 ft)
Sải cánh: 22.0 m (72 ft 2 in)
Chiều cao: 11.2 m (36 ft 9 in)
Diện tích cánh: 295.7 m² (3,183 ft²)
Trọng lượng rỗng: 55,600 kg (123,000 lb[2])
Trọng lượng cất cánh: 114000 kg (258000 lb[2])
Trọng lượng cất cánh tối đa: 135,000 kg (297,000 lb[2])
Động cơ: 4× động cơ phản lực cánh quạt đẩy Kolesov RD-36-41, 16,000 kgs mỗi chiếc

Hiệu suất bay (Ước lượng)
Vận tốc cực đại: Mach 3.0 (3,200 km/h 1,987 mph[2])
Vận tốc hành trình: Mach 2.8 (3,000 km/h 1,863 mph[2])
Tầm bay: 7,000 km (4,347 mi[2])
Trần bay: 20,000-24,000 m (66,000-79,000 ft)
Vận tốc lên cao: n/a
Lực nâng của cánh: n/a
Lực đẩy/trọng lượng: n/a

Flanker2.5
10-09-2008, 09:58 AM
Sukhoi PAK FA

- PAK FA (hay PAK-FA) là một máy bay phản lực chiến đấu thế hệ thứ năm của Nga hiện đang được phát triển bởi một consortium do Sukhoi đứng đầu. Đây là tên viết tắt của Perspektivnyi Aviatsionnyi Kompleks Frontovoi Aviatsyi (Перспективный авиационный комплекс фронтовой авиации in Russian) có nghĩa Tổ hợp Hàng không Tương lai cho Không quân Chiến thuật. Nó được dự định thay thế những chiếc MiG-29 và Su-27 trong Không quân Nga. Chiếc máy bay này theo kế hoạch sẽ cất cánh lần đầu năm 2008, và đi vào phục vụ trong Không quân Nga trong khoảng giữa 2012 và 2015 và cũng có thể được xuất khẩu tới các nước khác.

- Lịch sử

Máy bay thực nghiệm Sukhoi Su-47 (máy bay thử nghiệm kỹ thuật cho PAK FA)Cuối thập niên 1980, Liên bang Xô viết đã phác thảo một kế hoạch sản xuất một loại máy thế hệ kế tiếp để thay thế những chiếc MiG-29 và Su-27 của họ trong vai trò máy bay chiến đấu tiền tiêu. Hai dự án đã được đề xuất cho yêu cầu này, Sukhoi Su-47 và Dự án MiG 1.44. Năm 2002, Sukhoi đã được lựa chọn để lãnh đạo thiết kế chiếc máy bay chiến đấu mới. PAK-FA (hay Sukhoi T-50) sẽ tích hợp kỹ thuật từ cả Su-47 và MiG 1.44.

- Đặc điểm kỹ thuật
Dù chưa có những thông tin đáng tin cậy về các đặc điểm kỹ thuật của PAK-FA, nhưng qua những cuộc phóng vấn với các nhân vật trong Không quân Nga mọi người cho rằng đó sẽ là một chiếc máy bay tàng hình, có khả năng bay siêu tốc, được trang bị các loại tên lửa không đối không, không đối đất, và chống tàu thế hệ mới nhất, cũng như sử dụng radar AESA. Nó sẽ được trang bị động cơ AL-41F hay một biến thế hiện đại của loại này. Những thông báo cho thấy nó sẽ hơi lớn hơn MiG-29 nhưng không lớn bằng Su-27.

Hiện ta không chắc chắn loại máy bay nào của Hoa Kỳ sẽ là đối thủ của PAK-FA. Tuy một số người cho rằng đó sẽ là chiếc F-35, các thông tin chưa cho thấy rõ ràng rằng đối thủ có thể là chiếc F-22. Vì chưa có những thông tin chính thức nào khác, hiện không thể kết luận chắc chắn về vấn đề này. Vì thế, các nhà phân tích sẽ phải đợi tới khi những đặc điểm kỹ thuật của nó được công bố; có lẽ sẽ trong năm 2007. Những nhà phân tích dự đoán tốc độ tối đa của nó sẽ gần mức Mach 2.83 (3,255 km/h); và chờ đợi xem làm thế nào chiếc máy bay có thể đạt tới tốc độ đó. Liên bang Nga đã phê chuẩn bản thiết kế cuối cùng của PAK FA, nó vẫn đang được bảo mật và chúng ta sẽ phải đợi tới cuối năm 2007.

- Tàng hình
Hiện chưa biết rõ Diện tích Phản hồi Radar (RCS) của PAK-FA sẽ nhỏ tới mức nào. Đây là nỗ lực đầu tiên của Nga trong việc chế tạo một chiếc máy bay "tàng hình", dù tất cả những biến thể mới nhất của những chiếc máy bay quân sự Mikoyan, Sukhoi và Tupolev đều sử dụng vật liệu hấp thụ radar nhằm đạt mức diện tích phản hồi radar chưa tới 1 m² mỗi chiếc. Và một điều rõ ràng, chiếc máy bay càng có khả năng tàng hình cao, chi phí phát triển và mua nó sẽ càng lớn.

Ta cũng không chắc PAK-FA sẽ sử dụng kỹ thuật tàng hình quy ước như kiểu được áp dụng trên máy bay Hoa Kỳ và chiếc thực nghiệm kỹ thuật Mikoyan Project 1.42/1.44, hay kỹ thuật tàng hình plasma như được thông báo bởi các quan chức rằng đã đã được phát triển và sử dụng thành công.

- Thông tin mới nhất
Liên hiệp Sản xuất Hàng không Novosibirsk Chkalov (NAPO) đã bắt đầu chế tạo chiếc máy bay chiến đấu đa nhiệm vụ thế hệ thứ năm. Công việc này sẽ được thực hiện tại Komsomol’sk-on-Amur và nhà máy chế tạo máy bay tại Komsomol’sk-on-Amur, tổng giám đốc nhà máy, Fedor Zhdanov, đã thông báo trong một chuyến viếng thăm NAPO của thống đốc Novosibirsk Oblast Viktor Tolokonskiy.

“Công việc lắp ráp cuối cùng sẽ diễn ra tại Komsomol’sk-on-Amur, và chung tôi sẽ tiến hành việc lắp ráp thân trước của loại máy bay này,” Zhdanov nói rõ. Chiếc máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm, do văn phòng thiết kế Sukhoi phát triển, sẽ thay thế MiG-29 và Su-27 thuộc thế hệ trước đó.

NAPO Chkalov cũng đã thực hiện việc chế tạo hàng loạt loại máy bay ném bom đa nhiệm vụ mới nhất Su-34 từ năm ngoái. Theo vị thống đốc, chính quyền oblast sẽ chấp nhận một loạt các giải pháp nhằm cung cấp thêm sự hỗ trợ của chính quyền cho NAPO. Tới nay, vấn đề nghiêm trọng nhất của công ty là nhân lực. Trong thập niên '90, nhiều nhân viên kỹ thuật có trình độ đã ra đi trong thời kỳ trì trệ và hiện cần thời gian để đào tạo nguồn nhân lực mới. “Sự hỗ trợ của chúng tôi sẽ là giải pháp cho các vấn đề nguồn nhân lực, và cung cấp nơi ở cho những chuyên gia của nhà máy,” Tolokonskiy nói.

NAPO Chkalov là một trong những nhà máy sản xuất máy bay lớn nhất nước và gồm cả Công ty Cổ phần Sukhoy, ITAR-TASS nói

- Chuyến bay đầu tiên
Ngày 22 tháng 5 năm 2007 Phó thủ tướng Sergei Ivanov đã thông báo rằng chuyến bay đầu tiên của chiếc máy bay mới dự kiến sẽ diễn ra cuối năm 2008, chậm một năm so với kế hoạch trước đó