PDA

View Full Version : Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương



sakaifan
11-10-2009, 04:47 PM
:highfive: mấy bác thích nghiên cứu về hải chiến chắc chắn sẽ thích quyển sách này.
:act-up: quyển này của hạm trưởng khu trục hạm nổi tiếng của Nhật Bản trong WWII, có thể xem đây là một tập hồi kí.
Mình có trọn bộ 2 quyển mấy hôm trước mang ra xem thấy giấy muốn nát cả rồi sợ tiêu tùng bộ sách quý nên mày mò đánh máy lại nhằm lưu giữ lại và share cho anh em cùng thưởng thức.
Mình giữ nguyên cách dịch của Dịch Giả Nguyễn Nhược Nhiễm, cách hành văn theo phong cách người Miền Nam trước 75 nhằm tỏ lòng tôn kính đối với ông.
Mời mọi người cùng thưởng thức! Nếu bác nào có thể tìm thêm được tài liệu về những chiến hạm, bản đồ trận đánh trong quyển sách này xin mời góp vui cùng anh em.
--------------------------------
[I]
LỜI NÓI ĐẦU

Khi Nhật Bản bắt đầu hồi sinh sau đệ nhị thế chiến, dân chúng Mỹ có cái nhìn vô tư hơn đối với cuộc chiến, và càng ngày càng có nhiều người bắt đầu đòi hỏi những câu chuyện xoay quanh cuộc chiến nầy được nói thẳng ra. Nhiều quyển sách có giá trị đã được một số cựu phi công Hải Quân Hoàng Gia viết, phản ảnh trung thực sự hiểu biết về những trận không chiến mà các tác giả đã từng tham dự.
Nhiều người bạn đã thúc giục tôi kể lại câu chuyện về hải chiến thời ấy. Đây không phải là một việc làm dễ dàng, bởi các thủy thủ khu trục hạm chỉ được huấn luyện để chiến đấu mà không được huấn luyện về viết văn. Thật vậy, quyển sách nầy không thể ra đời nếu không có sự hợp tác hết lòng của một số đông thân hữu mà tôi không thể nào đề cập hết ra đây. Tuy nhiên tôi có thể nói là tất cả những người có tên trong quyển sách nầy đã được tôi đích thân phỏng vấn, hoặc đã tình nguyện cung cấp chuyện riêng của họ cho tôi.
Tôi đặc biệt ghi ơn người bạn của tôi, Ko Nagasawa, giữ chức vụ Tổng Tư Lịnh của Tân Hải Quân Nhựt khoảng thời gian từ 1954 đến 1958, là người không chỉ sẵn lòng cung cấp cho tôi các câu chuyện của chính ông, mà còn chỉ thị cho Phân Bộ Lịch Sử của hải quân hợp tác với tôi.Tất cả các sử gia của hải quân đã đóng góp rất nhiều vào quyển sách nầy bằng cách cho phép sử dụng các kết quả tìm tòi và nghiên cứu của họ, điều khiến tôi luôn luôn nhớ đến.
Tôi tin quyển sách nầy sẽ cung hiến một quan điểm trung thực của phía Nhật Bản, có thể bổ túc cho nhiều quyển sách giá trị của người Mỹ đã viết trước đây, nhưng có một điều đáng buồn là hầu hết các tài liệu liên quan đến Nhật Bản đều thiếu chính xác. Khi viết, các tác giả người Mỹ dựa vào các cuộc thẩm vấn những người còn sống sót hoặc cựu chiến binh, do chính những kẻ chiến thắng thực hiện vào thời gian sơ khởi của cuộc chiếm đóng, thành thử những chứng liệu của họ thường quá chủ quan.
Khi viết quyển sách nầy, tôi đã cố gắng tránh chủ quan càng nhiều càng tốt, và để làm như thế, tôi phải đưa ra sự phê phán nghiệt ngã, không chỉ đối với chính tôi, mà còn đối với những thân hữu đã giúp đỡ tôi hết lòng. Thói quen của con người, và cũng là sự thất bại của mọi sĩ quan trong quân đội, là thường cố che đậy mọi lỗi lầm nếu không của chính mình thì cũng của bạn bè. Thật vậy , tôi đã thấy khổ tâm khi phải tránh sự thất bại nầy.
Sự phê phán và sự chân thật của tôi có thể gây nhiều tổn thương cho các đồng nghiệp của tôi, và có thể cho những người đã chiến đấu chống lại tôi.Tuy nhiên, tôi hy vọng rằng những đọc giả như thể sẽ có một cái nhìn bao dung, và xin cố hiểu rằng thâm tâm tôi không muốn gây phiền lòng cho riêng ai một ai.
Được sống sót sau khi chiếc tuần dương hạm Yahagi của tôi bị đánh chìm ở Okinawa vào tháng 4 năm 1945, tôi được bổ nhiệm về trường huấn luyện Ngư Lôi Đỉnh Kawatana gần Sasebo và Nagasaki. Chức vụ chỉ huy mới của tôi là trông coi về công cuộc huấn luyện du kích chiến, dự phòng chống lại các cuộc đổ bộ của người Mỹ lên lãnh thổ của Nhật Bản.
Lịnh đầu hàng của Nhựt Hoàng Hirohito ngày 15 tháng 8 năm 1945 đã đến tôi trong khi tôi đang đảm trách công việc huấn luyện một số thanh niên Nhựt cải trang thành phụ nữ hoặc tăng ni, cũng có mục đích dự phòng chận lại các lực lượng xâm chiếm, ở căn cứ Kawatana. Tôi đã giao nộp căn cứ nầy cho một lực lượng đặc nhiệm thuộc hải quân Hoa Kỳ, do Đại Tá Francis D.McCorkle chỉ huy, vào ngày 25 tháng 9 năm 1945.
Viên Đại Tá Hoa Kỳ đối xứ tôi trong tư cách một người bạn hơn là một kẻ chiến thắng, điều nầy làm tôi ngạc nhiên. Ông ta yêu cầu tôi tặng ông ta một máy tính tốc độ của một trong những chiếc Ngư Lôi Đỉnh tự sát Shinyo đang đậu ở quân cảng Kawatana. Tôi bắt buộc phải làm hài lòng ông ta.
Từ khi chiến tranh chấm dứt, tôi làm việc cho một công ty chuyển vận muối. Hai đứa con gái lớn của tôi kết hôn năm 1954, chồng của chúng, một là sĩ quan hàng hải, một là công chức. Con trai tôi, Mikito, đã vào Đại Học, vợ tôi, Chizu, mạnh khỏe và hạnh phúc.

Đông Kinh, ngày 25 tháng 2 năm 1958 TAMEICHI HARA

Phần đầu truyện
1
Toàn thể Hải Quân Hoàng Gia Nhật gồm: 25 hàng không mẫu hạm, 12 Thiết giáp hạm, 18 tuần dương hạm hạng nặng, 26 tuần dương hạm hạng nhẹ, 175 khu trục hạm và 95 tiềm thủy đỉnh.
Nhưng các khu trục hạm nhỏ bé, bất kì thời gian nào cũng không quá 130 chiếc, mới đích thực gánh mọi nặng nhọc nhất của cuộc chiến. Chúng là con ngựa của Hải Quân hoàng gia.
Những các khu trục hạm nhỏ bé này không chỉ đơn giản được giao nhiệm vụ của các tầu chiến mà còn phải lãnh nhiệm vụ hộ tống cho các cuộc chuyển vận và có khi phải hộ tống hàng nhiều tháng trong cuộc chiến, đặt biệt từ đầu năm 1943 đến giữa năm 1944, khi hầu hết các đại chiến hạm của Nhật được “giữ gìn cẩn thận” tại một địa điểm an toàn cách xa các khu vực chiến đấu.
Khu trục hạm Nhật đã từng tham dự rất nhiều trận hải chiến dữ dội và đạt nhiều thắng lợi vẻ vang vào những ngày đầu của cuộc chiến. Những chiến thắng này đã chứng minh tài điều động khu trục hạm của người Nhật vượt trội hằn Đồng Minh
Tuy nhiên, từ giữa năm 1943 các khu trục hạm Nhật đã hoạt động hết tháng này sang tháng khác mà không được bảo trì hoặc tu bổ đúng mức và vấn đề bồi dưỡng thủy thủ cũng khiếm khuyết cho nên các tàu chiến hữu hiệu này dần mất ưu thế trước các tàu chiến đồng loại của Đồng Minh. Hơn nữa, công việc phát triển các trang bị khoa học của Đồng Minh đã đạt đến mức độ đáng kinh ngạc, và họ hơn nữa đã dần dần nắm ưu thế trên không.
Tuy nhiên, các Khu Trục Hạm Nhật vẫn chiến đấu dũng cảm và ngoạn mục cho đến tàn cuộc chiến. Tôi nghĩ những thành tích của chúng đáng được ghi nhắc lại cho hậu thế. Mặc dầu những trận chiến của khu trục hạm không thể so sánh được với những trận hải chiến qui mô và lừng danh chẳng hạn như biển San Hô, Midway, Mariana hoặc Leyte Gulf có cả sự tham gia của phi cơ và các chiến hạm chủ lực, nhưng những nổ lực và thành công của các khu trục hạm trong các trận hải chiến hơn, đang dần dần bị quên lãng, cũng có tầm mức giá trị đáng kể cần phải được ghi lại chi tiết.
Các hàng không mẫu hạm đã giữ vai trò đầu trong trận Trân Châu Cảng, có thể nói một thành công, cũng như các cuộc hành quân qui mô song đã đưa đến thảm bại hoàn toàn cho Nhật ở Midway, Marianas và Vịnh Leyte.
Các tàu chiến lớn của Nhật được Bộ Tư Lệnh Tối Cao nâng niu và “giữ gìn” bằng mọi giá, cho dù ngay khi gặp phải những tình thế tồi tệ nhứt. Như đại chiến hạm Musashi 72400 tấn, tiêu thụ nhiên liệu gấp 80 lần chiếc khu trục hạm lớn, chỉ tham chiến một lần và bị đánh chìm ở vịnh Leyte mà không có dịp may để sử dụng 9 khẩu 450 ly nhằm vào bất kì một mục tiêu giá trị nào.
Yamato 72800 tấn chiếc tàu chị của Mushashi, chỉ tham chiến được 2 lần. Tại Leyte, chiếc tàu này bị các hàng không mẫu hạm hạng nhẹ của Hoa Kỳ chận đứng. Và cùng năm đó trên đường tham dự nhiệm vụ tự sát ở Okinawa, nó bị đánh chìm ở Đông Hải, cách bờ biển Nhật Bản hơn 100 dặm.
Chỉ có những khu trục hạm nhỏ của Nhật hoạt động liên tục trong suốt cuộc chiến và trong nhiệm vụ hộ tống các đại chiến hạm. Chúng đã đánh chìm nhiều chiến hạm, tàu ngầm, các chuyển vận hạm chuyển vận tiếp tế và binh sỹ của địch quân
Nhiệm vụ thích thú nhất của tôi trong Hải Quân Hoàng Gia có lẽ là khoảng thời gian lênh đênh trên các khu trục hạm và cũng có thể nói đó là nhiệm vụ mà tôi theo đuổi trong suốt cuộc chiến. Lúc ấy các bạn hữu trong Hải Quân Hoàng Gia đã gọi tôi là “hạm trưởng huyền diệu” và chiếc khu trục hạm Shigure của tôi mang biệt danh “Kiên cố”. Tôi không nghĩ rằng tôi đáng được hưởng những lời khen ngợi nầy. Những sỹ quan thuộc 129 khu trục hạm của Nhật bị đánh chìm, cũng giống như nhiều lực lượng hải quân khác đã ra đi vĩnh viễn lúc tài ba của họ còn đang phát triển và nhiều người trong số nầy vượt xa tôi. Thật ra sự sống sót của tôi chẳng qua là vấn đề may mắn.
Giữa những kẻ sống sót như tôi, tôi tin rằng có những người tài ba bằng hoặc hơn tôi, nhưng họ không được để cập đến các thành tích chiến đấu của họ, dĩ nhiên họ đã làm theo câu châm ngôn: “ Bại tướng không nên nhớ đến các cuộc chiến đấu của mình”.
Riêng tôi, tôi quyết định “thách thức” với câu châm ngôn này, không phải cho chính tôi, mà để những chiếc khu trục hạm và những người đã từng chiến đấu với chúng, mà gây cho họ niềm tin thích đáng. Cho họ thấy rằng cuộc bại trận nầy không hề gây tổn thương đến niềm tin và thành quả họ đạt được. Nếu quyển sách này có vẻ như đã nói về cái tôi quá nhiều, xin đọc giả hiểu một cách đơn giản là tôi chỉ muốn cố gắng thể hiện một “mẫu người khu trục hạm của Nhật Bản ”, với những việc làm thích đáng, cũng như các lỗi lầm của hắn, ngoài ra chẳng còn hàm ý nào khác.
Quyển sách nầy không thể nào ghi lại tất cả câu chuyện của từng khu trục hạm một. Đặt biệt, tôi đã bỏ qua không để cập đến khu trục hạm Yukikaze, chiếc tàu đã dự tám cuộc hành quân và các trận hải chiến quan trọng trong những ngày cuối của cuộc chiến, nhưng vẫn còn tồn tại. Bởi lẽ theo ý kiến của tôi, các thành tích của Yukikaze trong khoảng thời gian từ 1941 đến 1944, đại tá Hải Quân Hoàng Gia Ryokichi Ranma, là người đủ tư cách để làm việc này. Tôi hi vọng ông sẽ viết đầy đủ chi tiết về chiếc Yukikaze qua các dữ kiện của riêng ông.
2
Vào ngày 7 tháng 4 năm 1945, tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi đã chịu đựng một cuộc tấn công kéo dài 90 phút của các phóng pháo Avenger và chiến đấu cơ Hellcat của Hoa Kỳ. Chiếc tàu đã trúng 6 thủy lôi, 12 quả bom 250 cân Anh, và nhiều loại bom khác. Hình phạt này tỏ ra quá nhiều cho chiếc tàu dù nó đã chiến đấu dũng cảm .
Sáng sớm hôm đó, Yahagi khởi hành từ biển Nhật Bản với 8 khu trục hạm và thiết giáp hạm khổng lồ Yamato. Mục tiêu của các chiếc tàu này là Okinawa. Nơi đây, một cuộc tấn công tự sát sẽ được tung ra nhằm vào các lực lượng xâm chiếm của Hoa Kỳ. Rõ ràng đây là một cuộc tấn công tự sát, bởi các tàu chiến của Nhật chỉ mang theo đủ nhiên liệu cho lượt đi mà thôi.
Bấy giờ cách bờ biển Nhật Bản không đầy 100 dặm, địch quân đã tung ra một cuộc tấn công dữ dội, chận đầu lực lượng đặc nhiệm Yamato và hạ gục tuần dương hạm hạng nhẹ Yahagi.
Là hạm trưởng của Yahagi, tôi đứng trên đài chỉ huy vào lúc các lượn sóng đã mấp mé đến chân. Cùng đứng với tôi là Phó Đô Đốc Keizo Komura, Tư Lệnh lực lượng hộ tống. Quanh chúng tôi đầy rẩy sự hủy diệt do cuộc tấn công của địch gây ra. Trong lòng chiếc Yahagi, xác người lẫn lộn với các mảnh vỡ, không một vật gì còn nguyên vẹn sau cuộc không kích như vũ bảo. Chiếc tàu nghiêng về tả mạn 30 độ và chìm nhanh chóng. Phó Đô Đốc Komura không bị thương, riêng tôi mặc dù máu chảy xuống ướt bàn tay trái, tôi cũng không hề có cảm giác gì gọi là bị trúng đạn.
Nhìn quanh lần cuối cùng, tôi thấy thiết giáp hạm Yamato, cách phía trước tôi khoảng 6 km, vẫn còn chiến đấu. Hai trong số các khu trục hạm của chúng tôi chìm. Ba chiếc khác đang bốc cháy dữ dội, hạ dần xuống nước và sau đó mất tăm hẳn. Ba chiếc còn lại đang chạy theo hình chữ chi một cách tuyệt vọng.
“Đi”, Phó Đô Đốc Komura nói. Tôi gật đầu. Chúng tôi tháo giày và nhảy xuống nước. Ngay lúc đó chiếc tàu chìm xuống, cuốn chúng tôi theo tận dưới đáy Đông Hải. Vực nước xoáy chiếc tàu chìm tạo ra đã nắm cứng lấy chúng tôi như một bàn tay vô hình có sức mạnh khủng khiếp. Tôi vùng vẫy một cách vô ích. Tôi ngộp thở và nuốt liên hồi. Oanh tôi tối đen như mực. Tôi đã chết? Chưa, tôi lại cố gắng vùng vẩy. Tôi không sao nhớ được đã trãi qua bao nhiêu phút, nhưng đó là một thời gian rất dài đối với tôi, thình lình bàn tay có sức mạnh khủng khiếp đó buông tôi ra. Một làn ánh sáng mỏng manh phía trên tôi, chứng tỏ tôi đang trồi lên mặt nước. Một dòng bọt từ mũi tôi túa ra và tôi lại uống nước. Tôi đạp mạnh và vùng vẩy để bắt buộc bóng tối nhường lối cho bầu trời xanh và ánh nắng. Tôi giật nẩy mình vì trồi lên mặt nước một cách quá đột ngột. Choáng váng đầu óc trống rổng, tôi chỉ biết thả trôi trên mặt nước. Nhưng tôi nghe và nhìn thấy chiếc Yamato vẫn còn đang chiến đấu. Phi cơ của Hoa Kỳ quây quần như một bầy muỗi phía trên và chung quanh chiếc tàu, và những trái hỏa tiển chỉ tử được phóng ra, nhưng chiếc tàu vẫn tiếp tục chống trả. Cảnh tượng đầy phấn khởi nầy đã giúp tôi rời khỏi con ngơ ngác. Nhưng cảnh tượng trước mắt chẳng tồn tại lâu, vì tiếp liền đó, một cột lửa và khói trắng vĩ đại từ chiếc tàu bốc lên, che khuất mọi vật. Riêng cuộn khói bốc cao khoảng 6000 thước. Khi khói tan, tôi không còn thấy gì trên mặt nước nữa. Đại chiến hạm Yamato, niềm kiêu hãnh của Hải Quân Hoàng Gia Nhật, đã biến mình vào biển cả, điều này có nghĩa là vận mạng của Hải Quân Hoàng Gia đã cáo chung.
Tôi rùng mình. Những giọt lệ nóng dâng đầy đôi mắt và chảy xuống má tôi. Tôi bám lấy một mảnh vụn và trôi lênh đênh một cách buồn bả.
Vận mạng của tôi cũng cáo chung. Từ đầu cuộc chiến Thái Bình Dương cho đến nay, tôi đã thực hiện hơn 100 hải xuất và, trong khi một số bạn bè của tôi đã vĩnh viễn ra đi, tôi luôn luôn trở về với những chiến thắng. Giờ đây tôi mới nếm mùi cay đắng của chiến bại lần đầu tiên trong đời binh nghiệp của tôi.
Khi tôi biết mình chẳng có bất kì dịp may sống sót nào ở hiện tại, những hình ảnh của quá khứ bổng nhiên tràn ngập trong trí tôi.
Tôi nhớ lại cuộc thảo luận đầy sôi động trong ngày hôm qua giữa 3 vị Đô Đốc và 10 hạm trưởng về mạng lịnh được gọi là chuyến đi cuối cùng của hải quân Nhựt. Không ai trong chúng tôi hi vọng nhiệm vụ thành công. Thiết giáp hạm Yamato cùng với tuần dương hạm Yahagi của tôi và 8 khu trục hạm khác phải trực chỉ Okinawa với số nhiên liệu vừa đủ cho lượt đi. Chúng tôi, với nhiệm vụ tự sát, sẽ tiêu diệt những gì mà chúng tôi có để chống lại hạm đội của Hoa Kỳ ở Okinawa. Nhưng chúng tôi đã bị đánh gục ngay trên khỏng không tới nửa đường đến mục tiêu.
Tôi thấy hình ảnh những người trong gia đình tôi một cách sống động. Bổng nhiên khuôn mặt của tôi như bị một màng mưa mờ che phủ. Tôi ứa nước mắt. Tôi gào to: “Vĩnh biệt Chizu. Em là một người vợ hiền, một bà mẹ tốt của các đứa con của chúng ta. Vĩnh biệt 2 chị em Yoko và Keiko, và Mikito, con trai của ba. Sau khi cha của các con ra đi vĩnh viễn, quê hương của các con trở thành xứ chiến bại, các con sẽ phải chịu đựng cảnh khốn cùng không sao nói được. Ôi! Hãy quên người cha của các con! Hãy cố nhớ lại ba là một kẻ chiến đấu và đã làm tất cả những gì tốt nhứt mà một người có thể làm được.”
Sau đó, tôi nghe một giọng hát cất cao. Tôi không cô độc. Tôi nhìn quanh, nhận thấy nhiều chiến hữu khác đang lập lờ trên sóng nước. Dần dần tiếng hát của họ họp đoàn, bất chấp các tiêu lịnh huấn luyện đã cấm chỉ họ làm như thế. Qua tiếng hát đầy dẫy thê lương, tôi nghe như thấp thoáng bài “Chiến sỹ ca” xưa cũ”
Nếu tôi rời xa biển cả
Tôi trở về như một xác chết nổi trôi
Nếu nhiệm vụ gọi tôi lên núi
Đồng cả xanh sẽ là áo khoác thân tôi
Và đã nguyền hiến thân phục vụ Thiên Hoàng
Tôi sẽ không chết yên bình giữa thê nhi êm ấm
Lệ tôi ngừng ứa, và tôi khép đôi mắt lại để hồi tưởng các con thơ, những ngày còn cấp sách đến trường, những người bạn sinh viên sĩ quan của tôi, những cuộc chiến đầy vinh quang ở biển Java, Solomon….

sakaifan
11-10-2009, 07:29 PM
PHẦN MỘT
MỘT SAMURAI CHÀO ĐỜI
I
Tôi chào đời vào ngày 16 tháng 10 năm 1900, ở ngoại ô thành phố Takamatsu, nằm trên bờ biển phía bắc đảo Shikoku, đối diện với quang cảnh ngoạn mục của biển Nhật Bản .
Gia đình tôi thanh bạch. Tôi là con út trong số năm anh chị em. Cha mẹ tôi cắm cúi trên mảnh đất nhỏ bé của hai người từ sáng sớm đên mờ tối. Như hầu hết nông dân Nhật Bản, một trong những xứ có mực độ dân số cao nhất thế giới. Huê lợi kiếm được không đủ nuôi sống gia đình, vì vậy mà cha tôi phải thức trắng đêm để làm thêm một số nông cụ thô sơ mang đi bán.
Hình ảnh vất vả đêm ngày của song thân tôi có lẽ là hình ảnh mà tôi không bao giờ quên được. Hai người có rất ít hoặc không có thì giờ để chơi đùa với anh chị em chúng tôi. Ngay khi còn bé nhỏ, hai anh trai và hai chị gái tôi đã phải sớm tiếp tay tìm miếng sông cho gia đình.
Lúc tôi ra đời, ông nội tôi, Moichiro Hara, đã gần 70 tuổi. Ông trông nom và chơi đùa với tôi. Hồi còn trai trẻ, ông nội tôi là một Samurai với đầy đủ ý nghĩa, và tôi là đứa cháu chịu rất nhiều ảnh hưởng của ông.
Từ năm 1871, dân chúng Nhật được chia làm bốn thứ bậc hoặc bốn giai cấp. Các lãnh chúa phong kiến đều thần phục Thiên Hoàng.
Trước thời gian đó, giai cấp cầm quyền là giới Samurai. Giòng họ tôi cũng thuộc giai cấp nầy, và đã phục vụ cho lãnh chúa Takamatsu hàng nhiều thế kỷ. Nhiệm vụ của các Samurai thời bình là quản trị các vấn đề địa phương và đảm nhiệm công việc huấn luyện quân sự liên tục để đề phòng khi tai biến. Ngược lại, đời sống của họ được các lãnh chúa bảo đảm. Cũng vì vậy giới Samurai có vẽ kiêu hãnh, và sống tách rời hẳn với 3 giai cấp khác là sĩ, nông, thương.
Với địa vị vác các đặc ân, một Samurai sẽ nhận thấy khó mà thích ứng với một nghề mới nào khác. Vì vậy, hầu hết Samurai khi từ giã nghề cũ để chuyển saqng nghề buôn bán đều gặp thất bại hoàn toàn. Ông tôi cũng không thoát khỏi thông lệ. Bám vào mảnh đất nhỏ bé do lãnh chúa chu cấp, là tất cả những gì mà ông tôi có thể làm sau khi giã từ nghề cũ. Kỳ lạ làm sao, cuộc đời tôi lại có những nét gần gũi với cuộc đời người ông hóa lẫn nầy. Rời khỏi Hải Quân Hoàng Gia sau khi Nhật Bản đầu hàng trong cuộc chiến thế giới thứ hai, ngoài danh nghĩa cựu đại tá hải quân ra, tôi không còn một cái nghề nào khác.
Lực lượng Đồng Minh chiếm đóng không chỉ bãi bỏ hẳn tất cả ngân khoảng cấp dưỡng cho các cựu sĩ quan mà còn cấm họ giữ bất kì chức vụ công nào. Do đó, nhiều năm sau chiến tranh gia đình tôi đã phải sống đấp đổi bằng cách cầm cố đồ đạc và làm các công việc lao động chân tay. Dù vậy, tôi không bao giờ hối tiếc sự chọn lưa nghiệp dĩ hải quân của tôi. Ông tôi đã dạy tôi nhiều bài học mà tôi luôn ghi ơn. Những bài học nầy giúp tôi chiến thắng và cho phép tôi tồn tại trong chiến bại ở cuộc đại chiến đó. Lời cáo phó của các thuộc cấp tôi trong suốt thấp hơn bất kì hạm trưởng nào khác tương đương kinh nghiệm chiến đấu thuộc Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản.
Ông nội tôi đối xử tốt với tôi lạ lùng. Vì mẹ tôi bận rộn, ông phải săn sóc và trông nom tôi trong suốt thời thơ ấu. Khi tôi bắt đầu đi chập chững, ông thường dẫn tôi loanh quanh cạnh các ngôi đền, dỗ dành, chơi đùa và mua bánh cho tôi.
Khi tôi bắt đầu biết nói, ông kể cho tôi nghe các câu chuyện của giới võ sĩ đạo không bao giờ dứt. Sau này mẹ tôi có nói lại lúc ấy ông đã hi vọng tôi sẽ phục hồi danh vọng của dòng họ, vì theo ông, tôi là đứa trẻ thông minh nhứt trong những đứa trẻ lên năm.
Bây giờ tôi có thể nhắm mắt nhớ lại hình ảnh ông lão đầu bạc như bông ngồi thật thẳng, trong dáng điệu của một Samurai, mỗi sáng và mỗi chiều trước bàn thờ của giòng họ. Bàn thờ với các bài vị của tổ tiên chúng tôi cũng như của vị lãnh chúa vùng Takamatsu, là Vorichika Matsudaira. Nghi lễ hàng ngày nầy không bao giờ thay đổi hoặc gián đoạn, cho đến khi ông tôi ngã bệnh nặng.
Trước giờ phút lâm chung, với sự hiện diện của tất cả những người trong gia đình, ông gọi tôi đến và ra dấu cho tôi lại gần. Lúc đó tôi lên sáu, song thân đã dẫn tôi lại đứng cạnh giường bệnh, cầm đôi tay nhỏ bé của tôi đặt lên đặt vào tay người ông. Ông quơ tay nắm lấy thanh kiếm võ sĩ đạo của ông và đặt vào đôi tay nhỏ bé của tôi. Ông thều thào: “ Tamei, thanh kiếm này là của cháu. Hãy lắng nghe lời dặn dò cuối cùng của ông.”
Mọi người vẫn yên lặng. Giọng người sắp chết đứt quảng: “ Tameichi Hara! Cháu là cháu một người Samurai, cháu phải nhớ điều này: một Samurai đã chọn đời sống như vậy, hắn luôn luôn phải chuẩn bị để chết. Nhưng cháu đừng có diễn dịch sai lầm lời dạy nầy. Không bao giờ nên cố theo đuổi chăm chăm một cái chết dễ dàng như vậy, vì việc này sẽ chống lại tinh thần thực sự của Bushido.
Ông đã nói với cháu nhiều lần về sự toàn vẹn ở một Samurai là cố gắng hết sức để hoàn thành các nhiệm vụ của họ. Cháu hãy cố gắng để làm như thế. Luôn luôn ý tứ và nổ lực gấp đôi những gì tốt nhứt mà cháu đã có.”
Mặc dù lúc ấy tôi quá nhỏ để hiểu thấu đáo những gì mà ông tôi nói, nhưng lời nói của người hấp hối đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi, khiến tôi nhớ rõ và không sao quên được.
Năm sau đó, tôi vào học trường mẫu giáo và đều dẫn đầu lớp trong suốt sáu năm theo học, và tôi đã đem danh dự đầu tiên đến cho gia đình khi rời khỏi trường nầy.
Gia đình tôi vẫn khốn khổ. Hai anh tôi, một người lớn hơn tôi 10 tuổi 1 người lớn hơn tôi 8 tuổi, đã tiếp tục phụ việc với cha mẹ tôi. Hai người anh nầy và hai người chị của tôi, không ai học quá bậc tiểu học. Nhìn thành tích học tập của tôi, các anh chị tôi đã thuyết phục cha tôi cho tôi tiếp tục lên bậc trung học. Họ nói: “Chúng có sẽ cố gắng kiếm tiền cho em con ăn học.”. Vì đó mà tôi mới có thể tiếp tục con đường học vấn. Tôi không bao giờ quên sự hi sinh to lớn này của gia đình tôi.
Tôi phải qua một kì thi tuyển vào trung học và may mắn thay, tôi có tên trong năm học sinh được chấm điểm đậu. Trường này làm một trong những trường danh tiếng nhứt của Nhật Bản , chỉ thâu nhận những học sinh ưu tú. Trải qua năm năm theo học ở đây, tôi không thể nào chiếm nổi các hạng danh dự, nhưng tôi cũng đứng được ở mười hạng đầu trong số 150 học sinh của lớp.
Khi qua khỏi bậc trung học, tôi phải nghĩ đến một nghề nghiệp nào đó. Hiển nhiên tôi thích theo đuổi việc học lên cao hơn nữa. Nhưng muốn theo học tại các trường cao đẳng và đại học, cần phải có nhiều tiền, mà gia đình tôi thì không thể nào chịu đựng nổi. Tôi chỉ có thể tiếp tục con đường học vấn ở các viện do Chánh phủ đài thọ tài chánh. Điều nầy lúc ấy có nghĩa là tôi phải chọn một trường đào tạo giáo sư hoặc quân sự. Tôi có dòng máu Samurai, tôi đã chọn một trường quân sự. Tôi không quên những lời cuối cùng của ông nội tôi.
2
Tôi tốt nghiệp trường trung học Takamatsu và tháng 3 năm 1938. Tôi ghi danh dự thi vào cả hai trường Hàn Lâm Viện Lục Quân ở Đông Kinh và Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima, gần Hiroshima. Sở dĩ tôi ghi danh cả hai trường vì tôi ít có hi vọng được Hải Quân tuyển chọn…
Sở thích của tôi là hải quân, nhưng nếu thất bại, Lục Quận sẽ thâu nhận tôi, bởi vì tôi không thể chờ đợi thêm một năm nữa để tham dự kì thi tuyển tới.
Ông nội tôi là một kị sỹ, tại sao hải quân lại hấp dẫn tôi nhiều như vậy? Có lẽ tinh thần của tôi đã đơn giản đáp ứng truyền thống địa phương của tổ tiên tôi. Thành phố Takamatsu và ngoại cảnh của nó có một ý nghĩa đặc biệt cho binh chủng hải quân, vì chính nơi nầy đã khai sanh ra hải quân Nhật Bản.
Biển Nhật Bản đã cung hiến cho nước Nhật những mà Aegean (vùng biển nằm giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hi Lạp) đã cung hiến cho Hi Lạp.
Đời sống sơ khởi của dân chúng Nhật đều phát triển và xoay quanh biển này, với hàng nhiều ngàn hòn đảo nhỏ đầy cảnh sắc của nó, giống như nền văn hóa của Hy Lạp đã bắt đầu trên các bờ biển Aegean.
Trận hải chiến quan trọng đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản xảy ra gần bờ biển Takamatsu vào tháng giêng 1185. tháng sau đó, một lực lượng hải quân được thành lập gồm toàn những người Takamatsu, và lực lượng nầy đã giữ vai trò chánh trong cuộc chiến thắng ở Dan-no-ura thuộc biển Nhật Bản, một trận đánh lớn chưa từng thấy trong lịch sử của quốc gia Nhật Bản.
Vào thế kỷ thứ XIII, khi một hạm đội Mông Cổ khổng lồ với 200.000 binh sỹ của Thành Cát Tư Hãn âm mưu đổ bộ lên Nhật Bản từ phía Bắc Kyushu, một lần nữa, lực lượng hải quân Takamatsu đã giữ vai trò chánh yếu trong tiêu diệt địch quân ở bờ biển Nhật Bản. Michiari Kono, một vị Đô Đốc lừng danh của Nhật, sinh quán gần Takamatsu, là người đầu tiên leo lên soái hạm Mông Cổ sau khi đắc thắng trong trận hải chiến khủng khiếp vào năm 1281. tất cả các quyển lịch sử của Nhật đều có ghi lại kì tích này. Lần đó, toàn thể hạm đội Mông Cổ bị đánh tan ở vịnh Hakata. Sau nầy, các hạm đội Nhật còn thực hiện nhiều “hải xuất phục thù” từ biển Nhật Bản tiến đánh lục địa Trung Hoa.
Hạm đội Nhật Bản thời trung cổ nầy đã thi hành các nhiệm vụ có tính cách giống như xung kích quân của thời tân tiến. Khác với hạm đội Mông Cổ vì không có ý định chiếm giữ thường trực đất Trung Hoa, nên hạm đội Nhật không mang theo số lượng quân đông đảo. Các thủy thủ cảm tử Nhật sẽ bất thần đổ bộ lên đất liền, đột kích chớp nhoáng các lực lượng Trung Hoa, và rút lui ngay sau khi đốt phá. Lịch sử Trung Hoa đã cho thấy những xung kích quân Nhật nầy đã đạt được nhiều kết quả trong các cuộc tấn công vào duyên hải Trung Hoa ở thế kỷ thứ XVII và đã tiếp tay lật đổ nhiều triều đại của họ, trong đó có triều đại nhà Minh nổi tiếng là cường thịnh.
Di sản hải quân của tỉnh lỵ sinh quán chắc chắn là yếu tố chính gây cảm hứng cho sự chọn nghiệp của tôi.
Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima là một trong những trường có kì thi tuyển chọn kỹ càng với điểm số cao nhất ở Nhựt. Những thanh niên nhiệt huyết, những người thi rớt kì thi tuyển chọn đầu tiên ở trường này phải đợi đến 1 năm sau hoặc có thể là hai năm để đợi thêm cơ hội khác để thi lại. Nhưng gia đình của tôi thì không thể để tôi đợi thêm 1 năm sau nếu không qua được kì thi. Vì vậy tôi cũng ghi danh vào Hàn Lâm Viện Lục Quân.
Kì thi tuyển chọn vào học viện Lục Quân chỉ được tổ chức ở các thành phố chính trên toàn quốc. Vào tháng 4, một tháng sau khi tôi tốt nghiệp trung học Takamatsu. Tôi đến Marugame để dự thi tuyển chọn vào Hàn Lâm Viện Lục Quân, bài thi dễ dàng với tôi và tôi chắc rằng tôi sẽ vượt qua với số điểm cao.
Tháng sau đó tôi đến Honshu bằng đường thủy từ thành phố Takamatsu để dự kì thi tuyển chọn vào Hàn Lâm Viện hải quân được tổ chức ở Hiroshima. Cùng lúc này trường trung học Takamatsu có tổ chức một chuyến tham quan Honshu, nhưng tôi không thể tham gia được vì lí do tài chánh.
Chuyến đi đầu tiên trong đời của một thanh niên thôn quê 18 tuổi thật sự sôi động, một mình lên thành phố lớn Hiroshima, một thành phố lớn nhất phía Bắc Honshu, sầm uất nhộn nhịp, các con đường sang trọng rộng rãi đã làm tôi ngơ ngác.
Tôi ở trong một khách sạn trong có vẻ hiện đại nhất nhưng nằm xa những khu nhộn nhịp. Kinh nghiệm thuê phòng lần đầu tiên của tôi tỏ ra kém khôn ngoan. Ở các khách sạn của Nhật các bữa ăn của khách được người phục vụ nữ phục vụ ngay trong phòng. Người phục vụ cho tôi khoảng 20 tuổi, đẹp và thân thiện. Nhưng vì quá thân thiên đã làm tôi căng thẳng.
“Anh có muốn uống chút rượu mạnh không?” cô gái hỏi.
“ Không, thưa cô. Tôi chưa đủ tuổi uống rượu và hơn nữa ngày mai tôi phải dự thi vào Hàn Lâm Viện hải quân Eta Jima.” Tôi trả lời.
“Oooo!” cô gái trầm trờ. “ Anh chuẩn bị thi vào Hàn Lâm Viện hải quân! Tuyệt vời! Anh sẽ trở thành một sĩ quan chói sáng! Anh sẽ quay lại khách sạn này trong bộ quân phục hải quân chứ! Em rất muốn gặp lại anh.”
Cuộc nói chuyện này làm tôi không được thoải mái. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với người con gái nào từ trước đến giờ ngoài các chị tôi. Điều đó là tôi nổi nóng khi cô gái cứ đặt ra những câu hỏi cho tôi. Khó khăn lắm tôi mới phun ra từng từ khi trả lời cô ấy, và thở phào nhẹ nhõm khi cô quay gót đi. Tôi mở vài quyển sách mang theo ra, tâm trạng lo âu và cố gắng học thêm chút ít trước khi thi. Tôi lật sách tới lui hàng giờ mà vẫn không tập trung được. Người khách phòng kế bên đang uống rượu thi với người phục vụ. Giữa những lúc uống họ hát. Thật kinh khủng. Tôi nhận ra là mình đã chọn sai khách sạn.
Tôi chịu thua đến nửa đêm và gọi xuống lễ tân yêu cầu họ chuẩn bị giường ngủ cho tôi. Các khách sạn ở Nhật Bản không có giường ngủ trong phòng. Khi khách cần nghỉ ngơi người phục vụ sẽ trãi một tấm nệm ở giữa phòng cho khách nghỉ.
Người nữ phục vụ năng nổ lại xuất hiện để chuẩn bị giường ngủ cho tôi. Thay vì rút lui sau khi xong việc, cô ta lại giúp tôi thay đồ và chuẩn bị quần áo cho tôi, tôi thật sự bối rối.
Cô ta phớt lờ giọng nói cà lăm tỏ vẻ không đồng ý của tôi và bắt đâu masage lưng cho tôi. Tôi đành nhượng bộ.
“Anh chàng trai trẻ ơi!” cô ta nói với giọng chế nhạo “Trông anh rất căng thẳng, anh cần được massage. Nếu anh không thư giãn và thoải mái ngày mai anh sẽ thi trượt”
“Tên em là Noriko người tỉnh Yamaguchi” cô nói tiếp. “Em đã làm việc ở khách sạn này suốt 3 năm rồi. Thỉnh thoảng cũng gặp nhiều rắc rồi vì không phải khách nào cũng lịch sự như anh.”
Tôi lặng im, mặc dù cô ta massage rất thoải mái nhưng lời nói của cô ta còn gây căng thẳng cho tôi hơn.
“Em không có nhiệm vụ tối nay” cô ta thì thầm “ Anh có thể giữ em lại.”.
Tiếng nói của cô gái thật trầm, nhưng đối với tôi lại vang như tiếng sấm động. Tôi hoảng sợ. “Cô muốn nói gì?” tôi to giọng.
“Ồ! Nầy anh chàng tuổi trẻ ơi, anh đừng nên đóng trò thì hơn! Một anh chàng đẹp trai như anh phải biết qua hàng tá gái là ít. Tốt hơn là đêm nay anh nên giải trí để ngày mai đủ bình tỉnh mà đối phó với các bài thi.”
“Ồ! Xin cô rời đây giùm tôi,” tôi van nài. Tôi chưa bao giờ biết qua một cô gái nào cả. Trong đời tôi, tôi cũng chưa từng nói chuyện với một cô gái nào cả, ngoại trừ các chị tôi. Cuộc thi ngày mai tối quan trong đối với tôi.”
“Anh có vẻ nghĩ em là một con điếm,” nàng nói, giọng xúc động và giận dữ. “Em tự nguyện ở đây với anh bởi vì em cảm thấy yêu anh khi mới gặp. Em cũng biết theo luật của nhà trường anh sẽ bắt buộc phải từ chối các cô gái khác trong bốn năm anh theo học ở Eta Jima. Em sẽ không tiết lộ vụ nầy cho các đồng nghiệp của em đâu. Anh nghe đó! Tất cả các phòng kề cần đều yên lặng. Họ ngủ hết rồi.”
Tình cảnh nầy đối với tôi thật quá lắm. Tôi thành thật van xin cô gái rời khỏi phòng. Cuối cùng, cô ta bước ra với một cái nhìn đầy vẻ khinh thị.
Tai nạn nầy đã phá rầy giấc ngủ của tôi. Hôm sau tôi vào trường thi một cách uể oải vì thiếu ngủ. Tôi không cảm thấy một chút tin tưởng nào vào các bài thi mà tôi đá làm. Tôi trở về Takamatsu với sự chán nản và thất vọng.
Khoảng mười ngày sau tôi nhận được giấy báo cho biết đã qua được kì thì ở hàn lâm viện Lục Quân và sẽ trình diện Đông Kinh vào tháng 8. Nhưng tôi đã đạt được ước nguyện: hải quân đã nhận tôi. Tôi la hét và nhảy nhót vui mừng khi nhận được điện tín thông báo sau nầy.

sakaifan
11-11-2009, 10:46 PM
3
Eta Jima, Annapolis (thành phố của tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ) của Nhật Bản là một thánh địa, một điểm hội tụ của những mộng ước cho nhiều triệu thanh niên Nhật thời chiến. Mỗi năm, nhiều trăm thanh niên đầy nhiệt huyết, mỗi người đều có thành tích học vấn và những giấy tời chứng nhận tốt, đã đổ xô đến Eta Jima để tranh nhau vài chức vụ công hoặc tư. Người ta hy vọng một thế hệ chọn lọc như thế cũng sẽ sản xuất các sĩ quan hải quân sáng chói. Nhưng nhiều người đã tốt nghiệp từ ngôi trường huấn luyện sĩ quan hải quân duy nhứt nầy đã không tỏ ra một cái gì gọi là sáng chói, và một số đã hoàn toàn thất bại trong các hành động mà quốc gia đã đặt hy vọng vào họ.
Những gì tôi nói về Hàn Lâm Viện hải quân và một hệ thống của nó không phải nhằm để đưa ra một sự buộc tội. Tôi chỉ trình bày tất cả sự thật để tùy nghi đọc giả phán xét.
Tôi nhập học ngày 26 tháng 8 năm 1918. ngày đó tôi vận một bộ quân phục màu trắng với bảy nút đồng sáng chói, mang một thanh đoản kiếm xinh xắn, giống như ông nội tôi đã mang lúc còn trẻ. Tôi đã trở thành một Samurai thật sự.
Ba ngày sau khi tôi nhập học, hôm đó lúc tôi sắp sửa bước vào phòng ngủ, một sinh viên năm thứ 3 đã hét lớn. “Nghiêm!” khi tôi làm theo lời hắn, hắn nhanh nhẹn tiến đến và hỏi một cách giận dữ: “Tại sao anh không chào tôi?”
Tôi không biết trả lời sao. Tôi có gặp hắn trước đó bao giờ đâu.
“Coi chừng!” hắn gầm lên. “Đứng cho vững và chuẩn bị. Tôi bắt đầu tẩy sạch tánh vô lễ của anh đây.”
Hắn nắm tay và đánh vào mặt tôi hơn một chục lần. Nếu tôi không được lưu ý trước, tôi đã đo đất với cú đấm đầu tiên của hắn. Sự đối xử nầy đã gây cho tôi sự xúc động mảnh liệt. Với mặt mày bầm vập và rướm máu, tôi lê bước vào phòng ngủ.
Ngày kế đó, trong bữa ăn sáng, một sinh viên huynh trưởng khám phá ra bộ quân phục của tôi cài nút không đúng cách, và tôi lại nhận thêm một chục cú đấm vào khuôn mặt đã sưng vù của tôi. Lần trừng phạt thứ nhì nầy mạnh tay hơn lần đầu. Tai trái tôi trở nên điếc câm.
Khi một sinh viên vi phạm kỷ luật, tất cả các sinh viên khác trong trung đội của anh ta phải đứng xếp hàng và lãnh mỗi người một cú đấm vào mặt. Tất cả các sinh viên đều nếm mùi hệ thống kỷ luật độc đoán nầy, hầu như không có lúc nào “thiếu thốn”. Mỗi ngày Chúa Nhựt, 180 sinh viên mới nhập học phải lên võ trường để nghe “thuyết pháp” hàng bốn năm tiếng đồng hồ liền dưới ánh nắng mặt trời. Sĩ quan quân trường và các phụ tá của họ, tức các các sinh viên huynh trưởng, đảm trách cuộc thuyết pháp. Bài học ngày Chúa nhựt nầy hầu hết được chấm câu bằng những cú đấm như mưa bấc.
Sau vài tháng trui rèn theo kiểu đó, những kẻ mới đến đều trở thành những con cừu non ngoan ngoãn. Khuôn mặt của mọi người đều mang dấu vết tàn phá của những mà họ phải chịu đựng. Tai tôi điếc hẳn từ đó đến bây giờ.
Một số người đã từng bị đối xử theo lối kỷ luật nghiêm khắc nầy lúc còn ở ngoài đời, họ sẽ không lấy gì làm xúc động. Trong một số gia đình Nhật Bản, người cha muốn trừng trị con mạnh tay cách nào cũng được. Nhiều trường học thôn quê thầy giáo đối xử với học sinh có thể nói là tàn nhẫn.
Tôi lại khác hơn. Tôi là một đứa con hãnh diện của một gia đình Samurai. Không ai trong gia đình muốn đánh tôi đến một roi. Trường tôi theo học cũng không bao giờ áp dụng các phương pháp kỷ luật nghiệt ngã như vậy.
Có lẽ vì vậy tôi có phần nào hư hỏng, và có lẽ vậy mà tôi không thích ứng kiệp với nghiệp binh. Bất cứ kỷ luật nào ở Eta Jima đối với tôi cũng đầy vẻ xúc phạm khiến cho tôi phải hờn giận. Ngay cả hiện tại tôi vẫn còn nhớ lại những ngày ở Hàn Lâm Viện hải quân với dư vị chua chát.
Chắc chắn các sinh viên huynh trưởng của tôi là lũ vô tri, thích thú khi được hành hạ kẻ khác, hả dạ khác thường lúc ra tay khủng bố những người mới vào. Cả bây giờ tôi vẫn thấy chán ghét khi gặp lại mấy khuôn mặt nầy, ngay cả khi chúng tôi đang chia sẽ các công việc nặng nhọc, sự khốn khổ do chiến tranh gây ra, và có cùng sự may mắn được sống sót.
Tiếng kèn đánh thức chúng tôi vào lúc 5h30 sáng, và chúng tôi học hỏi tập tành kéo dài đến 9h tối mà không có một phút giây nào để nghỉ ngơi. Trong thời gian nầy, ngày Chúa nhựt vẫn phũ phàng như những ngày thường.
Những người mới vào chấm dứt giai đoạn 1 và sinh hoạt có phần thoải mái hơn, các hình phạt thường lệ chấm dứt theo với năm nhứt của chúng tôi.
Cuối tuần không có sinh viên nào được phép đi ra khỏi các vùng phụ cận của thành phố. Thường thường ngày Chúa nhựt chúng tôi phải leo núi, lội bộ quanh đảo hoặc ngồi cú rủ trong câu lạc bộ.
Một trong những bạn đồng khóa xuất sắc nhứt của tôi là Ko Nagasawa, quê ở miền Bắc nước Nhật. Anh ta có thể nói là một tay có nhiều đặt tính vượt trội, và hình như hăn chẳng thèm lưu ý đến kỷ luật bịnh hoạn của Hàn Lâm Viện. Sau mỗi lần nhận lảnh hình phạt tàn bạo bởi các huấn luyện viên hoặc các sinh viên huynh trưởng, Ko Nagasawa vẫn pha trò một cách tỉnh bơ, khiến tôi phải “kinh hoảng”.
Ko Nagasawa và tôi thay phiên nhau dẫn đầu 180 sinh viên. Khi ra trường, Ko Nagasawa phục vụ xuất sắc ở lanh vực tham mưu và chỉ huy trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương. Năm 1954, anh gia nhập vào tân hải quân Nhật Bản và trở thành Thủy sư Đô Đốc vào năm 1956 (giử chức vụ Tổng Tư Lịnh Tân Hải Quân Nhựt từ năm 1954 đến năm 1958). Những ngày ở Eta Jima, Ko Nagasawa được tất cả bạn đồng khóa kính mến, nhưng không một ai tiên đoán con đường hoạn lộ của anh lại tiến đến bực ấy.
Tôi biết có một số bạn tôi đã nhìn những ngày ở Hàn Lâm Viện hải quân của họ với nhiều luyến tiếc. Nhưng riêng tôi, bởi vì “cô độc” chịu đựng hình phạt thể xác ở đây, tôi không thể nào chia xẻ cảm nghỉ của họ.
Lúc đó, tôi thường nhận được thơ nhà mang đến những tin tức rối rắm. Đó là những phiền muộn khác trong những ngày tôi ở Hàn Lâm Viện hải quân. Bức thơ đầu tiên báo cho biết tin buồn người chị lớn của tôi là Uta chết vì bệnh lao. Và bởi lẻ chị tôi đã bỏ lại hai đưa cháu thơ dại, nên gia đình thuyết phục người chị kế của tôi là Kiyo chấp nối với người anh rể. Kiyo viết cho tôi biết chị không đồng ý, nhưng sau đó chị bất ngờ nhượng bộ. Vì tôi rất được chị Kiyo thương mến, nên việc nầy đã gây lo nghĩ cho tôi rất nhiều.
Một năm sau, chị Kiyo bỏ chồng và các cháu, trở về với gia đình. Vào lúc đó một hành động như vậy không thể chấp nhận được với một người đàn bà Nhật có đức hạnh. Nhưng tôi không bao giờ qui tội cho chị tôi. Tôi biết rằng chị tôi có những lý lẽ riêng mà chị ấy cho là phải.
Những biến cố như vậy, cộng thêm đời sống ép thể xác như hiện tại khiến hầu hết ba năm học đầu tiên của tôi đắm chìm thường xuyên trong âu sầu và chán nản. Trong năm cuối cùng, Hàn Lâm Viện có một tân chỉ huy trưởng. Đó là Phó Đô Đốc Kantaro Suzuki, một vĩ nhân thực sự trong đời tôi.
Phó Đô Đốc Suzuki vừa nhận chức đúng 3 ngày, ông đã triệu tập ngay một phiên họp toàn trường. Mở đầu buổi nói chuyện, với một giọng phẩn nộ, ông cấm chỉ tất cả những kỹ luật khắc nghiệt đã được áp dụng. Ông nói: “ Trường nầy được thành lập để đào tạo những sỹ quan ưu tú, không phải là chuồng nuôi súc vật.”
Từ đó, Suzuki đưa ra một loạt cải tổ, quét sạch toàn thể hệ thống cũ của Hàn Lâm Viện. Ông tìm cách khuyến khích sáng kiến của sinh viên, vì vậy họ rất hứng khởi trong việc học hỏi. Dĩ nhiên tất cả hình thức đối xử dã man không còn nữa.
Do đó, tôi có cảm giác Phó Đô Đốc Suzuki sẽ còn làm được nhiều việc hơn nữa. Nhưng chẳng may cho nhà trường Suzuki không ngồi lâu. Kích thước ông quá lớn đối với Eta Jima và ngay cả Hải Quân Hoàng Gia. Ông về hưu sớm để trở thành nội thần của Thiên Hoàng. Năm 1945, ông cầm đầu Nội Các trong thời gian xảy ra cuộc đầu hàng Đồng Minh của Nhật Bản. Sau Kantaro Suzuki, các Đô Đốc tiếp nhiệm chỉ huy Eta Jima đều tầm thường và những cải tổ của Suzuki dần dần bị lãng quên.
Vào tháng 16 tháng 7 năm 1921, tôi ra trường với hạng 40 trong tổ số 150 sinh viên. Song thân tui vui mừng và kiêu hãnh khi biết tin nầy. Tuy nhiên, tôi biết, đáng lẽ ra tôi phải đạt được thành quả tốt đẹp hơn.
4
Năm tôi nhập học ở Eta Jima là năm đánh dấu cuộc chiến thế giới lần thứ nhứt chấm dứt. Trong cuộc chiến nầy Nhật Bản đứng về phe Đồng Minh. Quốc gia không chịu đựng sự tàn phá của chiến tranh, và các thương gia Nhật đã làm giàu vượt mức trong suốt cuộc chiến.
Đình chiến và thế giới hòa bình, nhưng nước Nhật lại lâm và cảnh xuống dốc thảm hại. Ngay ở Eta Jima mặc dù tách biệt với thế giới bên ngoài, nhưng do tình trạng tổng quát, sự sa sút kinh tế ở đây nhìn thấy rất rõ rệt.
Trong năm tôi ra trường, lực lượng hải quân của năm cường quốc lúc nầy là Anh, Mỹ, Pháp, Ý và Nhật đã đi đến một thỏa hiệp qui định sức nặng tối đa cho các tàu chiến của họ.
Khó học của tôi gồm 150 sinh viên tốt nghiệp, được phân phối thực tập trên hai khu trục hạm Izumo và Yagumo, trọng tải 6000 tấn, chiếc tàu này là sức mạnh chánh của Nhựt trong cuộ chiến Hoa – Nhật năm 1894 – 1895. Bất kì loại tàu nào đã 25 tuổi đời thật khó mà hoạt động hữu hiệu. Với tuổi đó, một tàu chiến trở thành một gánh nặng hơn là một tài sản quốc gia.
Tuy nhiên bọn trẻ chúng tôi lại không kìm hãm nổi sự thích thú của mình. Bởi chúng tôi được biết không bao lâu nữa chúng tôi sẽ thực hiện một chuyến đi vòng quanh thế giới. Không vật gì có thể nhận chìm được cảm giác bềnh bồng của chúng tôi lúc ấy. Các chiếc tàu trông già nua đáng sợ, nhưng không ai trong chúng tôi để ý đến điều nầy.
Trong vòng một tháng, hai khu trục hạm thao luyện trong các hải vực quanh Yokosuka. Công việc cá nhân và tập thể của chúng tôi đã đỡ phần vất vã. Nhiều người trong chúng tôi bắt đầu nhìn lại những ngày ở Eta Jima, như nhìn lại thời gian ở mẫu giáo của họ.
Trong Hải Quân Hoàng Gia Nhựt có một câu nói cũ kỷ: “Thứ bậc của hải quân được xếp hạng từ sỹ quan đến hạ sỹ quan, trâu bò (có nghĩa là lính trơn) và cuối cùng là mới đến các sỹ quan mới ra lò.” Nói khác đi, đời sống tổng quát của một sỹ quan vừa ròi khỏi Eta Jima, và nhận được công việc sơ khởi của họ trên tàu còn khốn khổ hơn bất kì một anh lính mới nào.
Chiến hạm Nhựt khi chế tạo không bao giờ để ý đến các tiện nghi nào dành chp chổ ngụ của các sĩ quan mới tốt nghiệp. Chổ ăn ngủ của họ và binh sỹ trên tàu không khác gì nhau. Ban đêm nếu muốn ngủ họ phải căn võng. Thức ăn gồm có cơm và lúa mạch, với một chút ít cá hoặc thịt.
Đời sống của các tân binh trơn hiển nhiên là khốn khổ nhưng ít ra họ cũng có một công việc riêng để học hỏi và chăm chú vào công việc đó. Trái lại một sĩ quan mới ra trường phải học hỏi mọi công việc trên tàu, từ công việc đun nồi xú de cho đến công việc đo giác cự, và phải học cho chính xác. Chúng tôi không có thời gian nào gọi là thời gian riêng của chúng tôi cả.
Sau một tháng huấn luyện liên tục theo nguyên tắc, hai chiến hạm già nua rời Yokosuka sang Hoa Kỳ, khởi đầu chuyến viễn du thế giới. Hải quân đã hấp dẫn nhiều thanh niên Nhựt phần lớn là do dịp may được đi đó đi đây như thế nầy.
Khi hai chiến hạm nhổ neo, các sĩ quan mới đã mừng rỡ reo hò ầm ỉ/. Chúng tôi nghĩ là đã thoát khỏi kiếp đọa đày. Chúng tôi đã lầm lẫn biết bao. Chúng tôi không chịu nghĩ đến các lượn sóng tàn nhẫn của Thái Bình Dương đang chờ đón chúng tôi.
Hai ngày sau khi rời khỏi Yokosuka, tất cả chúng tôi đều nằm liệt. Ngay cả tôi, một thanh niên có sức khỏe như voi, cũng nôn thốc nôn tháo ngay bước đầu của chuyến viễn du.
Nửa tháng sau, chúng tôi đến Honolulu, sức khỏe của các sĩ quan mới đều xuống dốc trầm trọng. Tôi cảm thấy muốn cúi xuống hôn mặt đất để cảm ơn Thượng Đế. “Cá heo” tên riêng của tôi thời đi học, hình như trong tình cảnh nầy không còn thích đáng một chút nào. Và con cá nầy chỉ bị trừng trị trong hai tuần lễ mà sụt đến 30 cân Anh ( khoảng 14 kí lô). Nhiều người khác cũng chẳng kém gì tôi.
Phó Đô Đốc Hanroku Saito, chỉ huy chuyến đi, quyết định lưu lại Hạ uy Di một tuần lễ. Một phần của quyết định nầy là để đáp lại sự tiếp đón nồng nhiệt và lòng hiếu khách của dân chúng Nhựt trên đảo, nhưng phần quan trọng hơn là để cho bọn “tân binh” chúng tôi lấy lại phong độ.
Hải cảng kế đến là San Diego, từ đó chúng tôi chuyển về hướng Nam, xuyên qua kinh đào Panama và đến New York vào ngày 29 tháng 10 năm 1921. Cuộc họp giải trang của năm cường quốc đang diễn ra ở Hoa Thịnh Đốn. Việc các chiếc tàu cổ lổ của chúng tôi đến Hoa Kỳ vào thời gian đặt biệt nầy có lẽ nằm trong sự tính toán.
Trong thời gian nầy, Nhựt đã tìm cách che đậy năng lực thật sự của hải quân. Các thiết giáp hạm Nago và Mutsu, hoàn tất vào năm 1920 và 1921, trang bị tám trọng pháo 300 ly, được cho là có trọng lượng 32600 tấn và tốc độ tối đa chỉ 23 hải lý. Nhưng sự thật, hai chiến hạm nầy có trọng lượng 35000 tấn và tốc độ tối đa gần 27 hải lý, vượt trội hẳn chiếc Maryland cùng loại của Hoa Kỳ.
Nhật Bản cũng không khoe khoang về chiếc Hosho, hàng không mẫu hạm tối tân đầu tiên trên thế giới, hoàn tất năm 1921, trọng lượng 9494 tấn, mà cũng không tiết lộ cho thế giới biết về chiếc Shimakaze, một khu trục hạm tuyệt hảo loại mới, được võ trang 4 khẩu 120 ly và 6 ống phóng thủy lôi, và có thể đạt đến tốc lực tối đa 40 hải lý.
Trong khi đó Nhựt mang biểu diễn quanh duyên hải Hoa Kỳ hai đống sắt vụn trên mặt nước, do một bọn sĩ quan vụng về mới ra trường điều khiển.
Khi chúng tôi đến Nữu Ước, hầu hết dân chúng ở đây đều đón tiếp chúng tôi niềm nở. Chẳng hạn như trong một buổi dạo cảnh, tôi và ba người bạn ghé vào thương xá Wanamarker, một người Mỹ rất vui vẻ và lịch sự, có lẽ là giám đốc, mời chúng tôi chụp chung một tấm ảnh. Rất tiếc là tôi không nhớ tên ông ta.
Trong bốn anh em chúng tôi chụp chung trong ảnh nầy, chỉ có Matao Machida, sau nầy là Đại tá, đứng ở góc trái và tôi là còn sống sót. Machida trở thành một sỹ quan kỹ thuật, đặt biệt trong lãnh vực quang học. Hiện tại Machida sống ở Đông Kinh, một trong những ủy viên quản trị của công ty máy ảnh Canon. Ông cũng là người chế loại máy ảnh và các thấu kính cực vi nổi tiếng đương đại.
Từ Nữu Ước chúng tôi băng qua Đại Tây Dương. Chúng tôi chọn hải trình nầy, gian nan hơn Thái Bình Dương, bởi lúc ấy chúng tôi đã làm quen với biển cả. Chúng tôi thăm viếng Anh và nước Pháp, trước khi xuyên ngang Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương, hướng về quê nhà. Chúng tôi trở về Nhựt ngày 9 tháng 5 năm 1922 sau thời gian gần 7 tháng vắng mặt.
Thời gian đó, kết quả Hội Nghị Hoa Thịnh Đốn được công bố. Hải Quân Hoàng Gia Nhựt không hài lòng với kết quả nầy, và đưa đến một số sỹ quan cao cấp xin từ nhiệm.
Thỏa hiệp giải trang đạt được ở Hoa Thịnh Đốn vào năm 1921 chỉ cho phép Nhựt duy trì tổng số trọng lượng của toàn thể tàu chiến là 315.000 tấn, Pháp 175000 tấn, Ý Đại Lợi 81.000 tấn, nhưng trái lại Anh và Mỹ tổng số lên đến 525.000 tấn cho mỗi xứ. Sức mạnh của hàng không mẫu hạm giới hạn cho Nhật tổng số 81.000 tấn, 60.000 tấn cho Pháp và Ý, và đến 135.000 tấn cho Anh và Mỹ. Nhưng riêng khu trục hạm và thiết giáp hạm, thỏa hiệp đã đặt ra kích thước và giới hạn cho mỗi chiếc là 10.000 tấn nhưng không giới hạn số lượng.
Thỏa hiệp đã khiến nhiều sĩ quan hải quân Nhựt rơi nước mắt. Thiết giáp hạm Tosa, trọng lượng 39.900 tấn hạ thủy năm 1921, phải phá bỏ, và chiếc tàu em của nó là Kaga được biến cải thành một hàng không mẫu hạm. Tuần dương hạm Akagi và thiết giáp hạm Amagi, cùng trọng lượng 34.363 tấn cũng được biến cải thành hai hàng không mẫu hạm. Nhưng trong thời gian xúc tiến việc biến cải nầy, chiếc Amagi bị trận động đất năm 1923 chôn vùi. Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt cũng bắt buộc bãi bỏ các đồ án của bốn thiết giáp hạm, mỗi chiếc 47.500 tấn. Các đồ án nầy hoàn tất năm 1921 sau nhiều tháng nổ lực to tát của một số kỹ thuật gia.
Hải quân Nhật đã nhìn hội nghị Hoa Thịnh Đốn có tánh cách thuần túy chính trị, mà qua kết quả đã cho thấy Nhật đại bại trên lãnh vực nầy. Một số dân chúng nhớ lại sự chế tài của luật di trú bài Nhật ở California vào năm 1913, việc nầy khiến cho mối liên kết giữa Nhật và các cường quốc Anglo Saxon rạn nứt sau Đệ Nhứt Thế Chiến. Dân chúng Nhật cũng nhớ lại tổ chức Liên Minh Quốc Gia đã bị Hoa Kỳ tẩy chay, sau khi liên minh nầy được hình thành và do chính Hoa Kỳ điều khiển.
Qua tình trạng tinh thần nầy, Nhật đã bắt đầu xem Hoa Kỳ như là một “kẻ thù ngấm ngầm”. Các sỹ quan trẻ, và các sỹ quan mới ra trường như tôi, không có một thẩm quyền nào để đo lường đúng mức sự xét đoán nầy, nhưng trên phương diện lý thuyết, các sỹ quan cao cấp của chúng tôi đã “khua động” bên tai chúng tôi hàng ngày.
Sau chuyến viễn du không lâu, tất cả sĩ quan thuộc khóa của tôi chánh thức mang cấp bậc Thiếu úy hải quân. Tôi và bốn sĩ quan được bổ nhiệm phục vụ trên tuần dương hạm Kusaga. Trong vai trò mới, chúng tôi lập tức đối diện với nhiều vấn đề cần phải quan tâm, chớ không phải riêng “kẻ thù ngấm ngầm” mà thôi.
Tôi không mấy phấn khởi với nhiệm vụ mới. Tôi nhớ câu châm ngôn Nhật Bản: “Ít ra bạn phải trải qua mười năm mới mong trở thành một thủy thủ lành nghề”. Kasuga không già nua hơn Izumo hoặc Yagumo, nhưng chiếc tàu nầy cũng từng chứng kiến trận chiến Nga – Nhật vào năm 1904 – 1905. Tôi tự nhủ: “Anh vẫn còn là một tay mơ. Đừng mơ ước một chiến hạm tối tân như Nagato. Hãy kiên nhẫn! Kể từ khi anh bước chân vào Eta Jima, tính ra chỉ mới sáu năm mà thôi.”
Tôi trình diện Kasuga vào tháng 5năm 1922. Chiếc tàu được phái sang Nga Sô. Chúng tôi lại thực hiện một chuyến viễn du nữa. Tuy nhiên lần đi nầy không phải có tánh cách huấn luyện đơn thuần. Nhiệm vụ của Kasuga là bảo vệ cư dân Nhật ở Tây Bá Lợi Á lúc bấy giờ đang gặp khốn đốn do cuộc cách mạng hậu chiến của Nga Sô gây ra. Năm 1920, nhiều trăm người Nhật đã bị loạn quân Nga Sô tàn sát ở Nikolaievsk. Hai năm sau đó, Tây Bá Lọi Á vẫn còn trong tình trạng hổn loạn.
Từ khi hạm đội Nga Sô bị Nhật Bản tiêu diệt vào năm 1904 – 1905, người Nga không có loại tàu chiến nào chống lại nổi chúng tôi. Vì vậy, chiếc Kasuga của chúng tôi không phải bắn một phát súng nào cả, và kinh nghiệm mà tôi nhận được cũng không hơn gì khi tôi ở trên chiếc Yagumo.
Chuyến đi vào các hải vực phía Bắc là chuyến đi vào trong sương mù dầy đặc đầu tiên của tôi. Vào tháng sáu, chúng tôi đổ bộ lên Vladivostok, hải cảng của Tây Bá Lợi Á nổi tiếng với nhiều ngọn đồi dốc thẳng khiến tôi gợi nhớ đến Nagasaki của Nhật Bản. Cuộc nội chiến của Nga đã gây cho dân chúng ở đây nghèo đói. Những gì tôi thấy ở Vladivostok trái ngược hẳn những gì tôi thấy ở Nữu Ước và các thành phố hải cảng thịnh vượng của các quốc gia chiến thắng khác. Điều này khiến cho tôi suy nghĩ rằng một quốc gia không bao giờ nên để cho bại trận. Lúc đó tôi không bao giờ tưởng tượng Nhật Bản cũng sẽ chịu chung số phận của dân Bạch Nga trong vòng không đầy 23 năm sau đó.
Sau Vladivostok, chúng tôi viếng thăm Odomari, hải cảng cực Nam của Sakhalin do Nga nhượng cho Nhật Bản sau cuộc chiến 1904 – 1905. Lúc đó không ai có thể tưởng tượng hải cải uể oải tồi tàn nầy sẽ được người Nga thâu hồi vào năm 1945 và biến thành căn cứ hải quân quan trọng Korsakov ngày nay.
Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hải Quân Hoàng Gia không sử dụng các loại tàu tân tiến và chạy nhanh trong cuộc hành quân không có đối thủ ở Tây Bá Lợi Á nầy. Nhưng các sĩ quan có khả năng về chánh trị được chọn để cầm đầu cuộc hành quân, bởi vì lúc đó giữa Nga và Nhật không xảy ra chiến tranh, và cuộc hành quân liên quan đến nhiều vấn đề tế nhị.
Hạm trường Kasuga là Đại Tá Mitsumasa Yonai, một nhân vật vĩ đại thứ hai mà tôi được phục vụ dưới quyền. Như Đô Đốc Suzuki, người đã đưa ra nhiều nhát chổi cải cách ở Eta Jima, Yonai là vị chỉ huy mà tôi kính nể cao độ nhứt. Nhưng giữa hai nhân vật nầy có nhiều điểm khác nhau rõ rệt. Đô Đốc Suzuki thích nói thẳng vào mặt, mạnh bạo và ồn ào, còn Yonai ít nói. Dù tuổi đã gần tứ tuần, ông vẫn còn đẹp trai và hấp dẫn. Suốt sáu tháng phục vụ trên chiếc Kasuga, tôi không bao giờ thấy ông rầy mắng một sĩ quan nào. Tuy nhiên tinh thần phục vụ của thủy thủ đoàn rất cao. Ai ai cũng nể phục ông, và xem ông như là một trong những người lãnh đạo tài giỏi nhứt của Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản.
Đại tá Yonai và Đô Đốc Suzuki chỉ có một điểm giống nhau: không dung túng các phương pháo kỷ luật tàn nhẫn. Hành vi mẫu mực của Yonai đã quá đủ để ông chỉ huy mà không cần phải áp dụng phương pháp kỷ luật nào khác.
Các sĩ quan trẻ tuổi chúng tôi thoạt đầu đã kinh ngạc khi thấy vị chỉ huy trưởng gần gũi với chúng tôi trong suốt những giờ nghỉ ngơi. Ông ưa thách chúng tôi thay phiên nhau vật lộn với ông. Sau những năm tập tành ở Eta Jima nhu đạo của chúng tôi đã thuộc vào hạng khá nên thoạt đầu chúng tôi có hơi rụt rè, chỉ sợ quá mạnh tay với “sếp”. Nhưng chúng tôi sớm sáng mắt, không một ai trong chúng tôi quăng nổi ông xuống đất. Ông đứng bất động như một hòn đá tảng, và không hề phản công, những bước tiến của chúng tôi dù ác liệt đến đâu cũng đều dội ngược ra hết.
Trong chuyến đi nầy tôi được tha dự một bữa tiệc đầu tiên trong cuộc đời tôi tại một nhà hàng trên bờ biển. Chủ nhân bữa tiệc nầy là viên thị trưởng và cũng là chỉ huy trưởng hải quân địa phương. Nhiều Geisa xinh đẹp, mặc Kimono đủ màu sắc, hòa đàn, ca múa và rót sake cho khách và chủ. Họ ăn nói khôn khéo và duyên dáng khiến buổi tiệc thêm phần sống động. Các vũ nữ xinh đẹp nầy đã làm cho tôi hoa cả mắt.
Trong các tiệc tùng của người Nhật thường có một trò vui gọi là “kampai” (uống cạn). Người nầy đứng dậy tiến đến một người khác với ly sake để mời uống. Người được mời tiếp lấy ly rượu và uống cạn, đoạn rửa ly bằng nước lạnh và rót rượu mới lại. Nếu người nào từ chối ly rượu mời nầy có nghĩa là người đó tự nhận mình đã say.
Tôi thấy vừa chủ vừa khách có hơn bốn năm chục người lần lượt kampai với Đại Tá Yonai, và ông không từ chối một ai hết. Khi hầu hết thực khách đều ngã nghiêng, nếu không nói là bò càng dưới đất, Yonai vẫn ngồi thẳng đứng như một Samurai thực sự. Khả năng mọi mặt của ông không thể nào lường được, giống như khả năng nhu đạo của ông.
Trước khi được bổ nhiệm chỉ huy Kasuga, Yonai giữ chức vụ tùy viên hải quân tòa đại sứ Nhựt ở Mạc Tư Khoa và ông đã từng uống rượu Vodka với người Nga. Yonai cũng nói tiếng Nga sành sỏi.
Cuối một bữa tiệc như thế, tôi hết sức nể phục khi nhìn thấy Yonai ngồi chẳng khác một thanh sắt, trong khi những người khác múa rối. Các geisa thường bu quanh Yonai và cố mang hết tài nghệ ra để gây chú ý và làm hài lòng ông hạm trưởng nghiêm nghị và đẹp trai. Nhưng ông hạm trưởng nầy không bao giờ “dây dưa” với một cô nào cả.
Thật kém may mắn cho nước Nhựt khi một người như Yonai chỉ phục vụ một vài chuyến đi trên tàu. Hải Quân Hoàng Gia thường hay chỉ định các chức vụ trên bờ, trong các tổng Hành Dinh, cho những sĩ quan có khả năng, và do đó những sĩ quan tài ba lại thường thiếu kinh nghiệm hải hành.
Đô Đốc Suzuki xin về hưu trước khi cuộc chiến Thái Bình Dương bùng nổ, ông không chịu đưa ra một tiếng nói nào liên quan đến chiến thuật, chiến lược và chánh sách của hải quân. Yonai đã lên tiếng chống đối chiến tranh, nhưng ông không thể nào đương đầu nổi với tập thể đông đảo các sĩ quan Lục Quân bài ngoại quá khích, và vì vậy ý kiến của ông chẳng được ai để ý đến.
Bấy giờ có một câu chuyên gây nhiều bàn tán ở Nhựt. Đó là câu chuyên Đô Đốc Yamamoto, Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp, muốn nhường chức vụ lại cho Yonai để rảnh tay điều động lực lượng tấn công Trân Châu Cảng. Yonai từ chối. Nhưng tôi tin rằng Yonai có thể làm được mọi việc, cũng như ông có thể làm hay hơn Yamamoto trong chức vụ có tánh cách quyết định đó.
Chuyến đi của tôi trên tuần dương hạm Kusaga kết thúc vào ngày 30 tháng 3 năm 1923, sau khi tôi xin theo học tại một trường đào tạo chuyên viên. Tôi ý thức rằng nếu muốn trở thành một sĩ quan như Yonai, tôi phải học hỏi nhiều hơn nữa. Từ tháng 4 đến tháng 12, tôi theo học khóa huấn luyện về thủy lôi và pháo thuật ở Yokosuka.
Trong lúc tôi đang theo học, Nhật Bản bị nhiều cơn động đất tàn phá nặng nề. Trận động đất xảy ra trong vùng phụ cận Đông Kinh và Yokohama vào ngày 1 tháng 9 năm 1923 khiến cho 2 nơi nầy bị tàn phá gấp bội các cuộc hỏa hoạn gây ra. Sự thiệt hại cũng nặng nề hơn các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ trên hai thành phố nầy trong thời đệ nhị thế chiến. Thiết quân luật kéo dài một tháng trong khu vực được ban hành, và tôi được cắt đặt nhiệm vụ bất ngờ để duy trì việc thi hành lịnh nầy.
Một ấn tượng khó quên đối với tôi trong thời gian bi thảm đó: sự giúp đỡ mau lệ của Hoa Kỳ cho hai thành phố Nhật bị tàn phá nầy. Các tàu chiến Hoa Kỳ đã đổ xô đến bờ biển Đông Kinh với nhiều loại tiếp tế thiết yếu. Hành động đầy thiện chí nầy khiến lý thuyết chống lại “kẻ thù ngấm ngầm” mà tôi nhận được đã bị lung lay.
Trong năm cuối cùng tôi ở Eta Jima có nhiều quyết định về vấn đề định nghiệp sĩ quan. Trong thập niên 1920 sự nghiệp của sĩ quan hải quân Nhựt theo các phương thức như sau: các sĩ quan được bổ nhiệm về Tổng Hành Dinh là những người có học bạ đặc sắc nhứt tại các trường chuyên viên hoặc Hàn Lâm Viện, và họ sẽ được nhận vào học tiếp ở trường Cao Đẳng Tham Mưu. Yonai và Yamamoto thuộc vào nhóm nầy. Các sĩ quan đồng hạng nhì trong các trường Chuyên viên hoặc Hàn Lâm Viện sẽ được bổ nhiệm phục vụ trên các thiết giáp hạm và tuần dương hạm, nhưng thường họ không được theo học thêm ở trường Cao Đẳng Tham Mưu. Các sĩ quan đồng hạng ba được bổ nhiệm về các khu trục hạm, và được huấn luyện thêm về loại tàu nầy. Các sĩ quan đồng hạng năm se trở thành phi công (hải quân) sau khi tình nguyện theo học ở trường huấn luyện phi công. Cuối cùng là các sĩ quan được xếp hạng thường sẽ được bổ nhiệm phục vụ trên các hổ trợ hạm và ngoài sự tốt nghiệp ở Eta Jima ra, họ se không được theo học một trường đào tạo chuyên viên nào khác.
Vấn đề huấn luyện phi công, chỉ rút từ các sĩ quan hải quân tốt nghiêp hàng năm, bấy giờ được xem là một vấn đề có vẻ vô lý. Mười lăm năm sau vấn đề nầy có nhiều thay đổi đáng lưu ý khi nghề bay hấp dẫn cả đến những sĩ quan đứng đầu các khóa huấn luyện. Nhưng việc thay đổi đã quá trể, và vì vậy có thể giải thích tại sao Nhật Bản đã thất bại trong việc điều chỉnh từ ưu thế thiết giáp hạm sang ưu thế hàng không mẫu hạm, bởi lẽ các sĩ quan ưu tú đều dồn về Bộ Tư Lịnh Tối Cao, và mặc dù họ chỉ biết về thiết giáp hạm, nhưng tiếng nói của họ lại có tánh cách quyết định đối với binh chủng hải quân. Tiếng nói của các sĩ quan không quân chuyên nghiệp không được nghe đến vào thời gian ấy.
Chẳng hạn người cầm đầu Không Lực hải quân Nhựt trong cuộc chiến thế giới thứ hai là phó Đô Đốc Takijiro Onishi đã không đậu được kì thi vào trường Cao Đẳng Tham Mưu, giống như tôi, và cũng vì vậy mà tôi được chỉ định phục vụ trên các khu trục hạm. Nhưng có điều phải nhìn nhận là các sĩ quan xuất sắc chưa hẳn là những người chiến đấu giỏi.
Hồ sơ học vấn của tôi ở Yokosuka kém cõi, việc nầy hoàn toàn do lỗi của tôi. Ngoài sự thõa mãn, sau thời gian chịu đựng kham khổ ở Eta Jima và các nhiệm vụ kế tiếp, có lẽ còn do sự ganh đua đầy trẻ con với Đại Tá Yonai (sau nầy là Đô Đốc), tôi tập tành nhậu nhẹt. Nhưng tôi uống quá nhiều và thường chếnh choáng khi bước vào lớp học. Điều nầy chắc chắn phải lảnh điểm xấu.
Khi rời khỏi trường tôi được chỉ định phục vụ trên mặt biển trở lại. Tôi than van khi biết nhiệm sở của tôi là chiếc Hatsuyuki, một khu trục hạm cổ lộ hạng ba, đã hai mươi tuổi thọ, và trọng lượng chỉ có 381 tấn. Hatsuyuki ở thời đại tân tiến nầy chỉ có thể là một khu trục hộ tống hạm hoặc một tàu săn tiềm thủy đỉnh hơn là khu trục hạm chiến đấu. Nhưng chiếc tàu nầy có thể đạt đến tốc độ 29 hải lý, so với 18 hải lý của Kasuga. Tốc độ của nó đã mê hoặc tôi. Đó là chiếc tàu nhanh nhất mà tôi được phục vụ kể từ ngày ra trường. Hơn nữa, nhiệm vụ mới nầy, tôi còn được thêm một chuyến viễn du nhỏ nữa: Hatsuyuki đậu ở hải cảng Arthur, hải cảnh hải quân nằm ở cực Nam Mãn Châu, để bảo về kiều dân Nhật sinh sống ở Mãn Châu và Hoa Bắc. Trong một năm, chúng tôi chạy vòng quanh bán đảo Kwantung, và buông neo hết Yingko đến Tientsin.
Thời gian nầy đời sống trên tàu của tôi có nhiều thay đổi lớn. Là một thiếu úy, và là một trong những sĩ quan chỉ huy chiếc tàu, tôi được giao điều động 60 thủy thủ. Đời sống trên chiếc tàu chiến nhỏ như thế không phải luôn dễ thở. Sự ăn uống tồi tệ. Thủy thủ đoàn không bao giờ được tắm rửa cho thỏa thích, và ngay cả đến nước rửa mặt chúng tôi cũng thiếu, vì vậy mà không ai lưu tâm đến việc cạo râu. Gặp phải các mặt biển thường có mưa giông, chiếc tàu không lúc nào nằm yên, và có lúc chúng tôi phải chạy nhanh nhiều giờ để chống chọi lại thời tiết. Tuy nhiên, thủy thủ đoàn giống như một đại gia đình ai ai cũng nhẵn mặt nhau. Kỷ luật gò bó không còn cần thiết nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy như được ở nhà và thích thú với nhiệm vụ. Tôi hài lòng bởi quyết định chọn nghiệp của tôi ở hiện tại.
Tháng 12 năm 1924, tôi được thăng cấp Trung úy và thuyên chuyển đến chiếc Sanae, một khu trục hạm trọng lượng khoảng 1000 tấn. Công việc của tôi trên chiếc tàu nầy cũng không khác gì trên chiếc Hatsuyuki, và suốt một năm, chúng tôi chạy quanh Mãn Châu và Hoa Bắc.
Tháng 12 năm 1925, tôi được bổ nhiệm về chiếc Amatsukaze, một khu trục hạm hàng đầu, trọng lượng 1300 tấn, một sự bổ nhiệm mà tôi đã thèm thuồng từ lâu. Đây là chiếc tàu chiến đấu đầu tiên tôi được đặt chân lên trong 7 năm kể từ khi tôi vào Eta Jima. Amatsukaze đạt tốc lực tối đa đến 37.5 hải lý. Tôi không còn là một tay mơ nũa, tôi đã trở thành một sĩ quan hải quân thực sự. Đó là vinh dự phi thường và thành đạt to tát.
Những năm sau nầy tôi mới nhận thấy mình đã sai lầm biết bao.

baloo2000
11-13-2009, 02:09 PM
Tôi muốn cảm ơn Sakaifan thật nhiều! Tranh vẽ đại thiết giáp hạm YAMATO dưới đây để ủng hộ. Mong bạn tiếp tục. Thân !

baloo2000
11-13-2009, 03:00 PM
Chiến hạm USS Arizona tại Trân Châu Cảng.
Tranh này đẹp nhưng không xác thật, Arizona bất động cháy đen thui rồi chìm chứ không có cơ hội lướt sóng như tác giả tưởng tượng.

baloo2000
11-13-2009, 03:24 PM
Tuần dương hạm hạng nặng TAKAO.
Có lẽ trong chiến dịch SHO-2 - Vịnh Leyte, hải đoàn Kurita.

baloo2000
11-14-2009, 08:08 AM
"... Mọi người vẫn yên lặng. Giọng người sắp chết đứt quảng: “ Tameichi Hara! Cháu là cháu một người Samurai, cháu phải nhớ điều này: một Samurai đã chọn đời sống như vậy, hắn luôn luôn phải chuẩn bị để chết. Nhưng cháu đừng có diễn dịch sai lầm lời dạy nầy. Không bao giờ nên cố theo đuổi chăm chăm một cái chết dễ dàng như vậy, vì việc này sẽ chống lại tinh thần thực sự của Bushido.
Ông đã nói với cháu nhiều lần về sự toàn vẹn ở một Samurai là cố gắng hết sức để hoàn thành các nhiệm vụ của họ. Cháu hãy cố gắng để làm như thế. Luôn luôn ý tứ và nổ lực gấp đôi những gì tốt nhứt mà cháu đã có.”
Mặc dù lúc ấy tôi quá nhỏ để hiểu thấu đáo những gì mà ông tôi nói, nhưng lời nói của người hấp hối đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi, khiến tôi nhớ rõ và không sao quên được..."

Nhiều người Nhật thường tự hào một cách quá đáng và có phần mù quáng về tinh thần võ sỹ đạo của mình. Các phi công Nhật - kể cả Saburo Sakai lừng danh - thường không mang dù khi bay, với tâm niệm sẵn sàng chết vì tổ quốc. Vì thế, số phi công kinh nghiệm của quân đội Nhật nhanh chóng hao mòn chỉ trong 2 năm đầu của trận chiến. Chết một cách ngu xuẩn mà không biết rằng quốc gia đã tốn kém rất nhiều để đào tạo họ, và lẽ ra cần phải sống để tiếp tục chiến đấu.
Quan niệm này cũng tể hiện rõ khi thiết kế các chiến đấu cơ : bình xăng không có self-sealing, vị trí phi công & nhiên liệu không được bọc thép - chấp nhận thương vong để đổi lấy sự nhẹ nhàng linh hoạt. Người Nhật cũng không quan tâm đến việc tìm cứu các phi công bị bắn hạ - cung cách coi thường sinh mạng con người đã khiến họ phải trả giá rất đắt. Dù vậy, cho đến nay vẫn không có nhiều người chịu hiểu hoặc thừa nhận điều đó như đại tá Hara.

Pham Minh Tuan
11-14-2009, 08:34 AM
Nhiều người Nhật thường tự hào một cách quá đáng và có phần mù quáng về tinh thần võ sỹ đạo của mình. Các phi công Nhật - kể cả Saburo Sakai lừng danh - thường không mang dù khi bay, với tâm niệm sẵn sàng chết vì tổ quốc. Vì thế, số phi công kinh nghiệm của quân đội Nhật nhanh chóng hao mòn chỉ trong 2 năm đầu của trận chiến. Chết một cách ngu xuẩn mà không biết rằng quốc gia đã tốn kém rất nhiều để đào tạo họ, và lẽ ra cần phải sống để tiếp tục chiến đấu.
Quan niệm này cũng tể hiện rõ khi thiết kế các chiến đấu cơ : bình xăng không có self-sealing, vị trí phi công & nhiên liệu không được bọc thép - chấp nhận thương vong để đổi lấy sự nhẹ nhàng linh hoạt. Người Nhật cũng không quan tâm đến việc tìm cứu các phi công bị bắn hạ - cung cách coi thường sinh mạng con người đã khiến họ phải trả giá rất đắt. Dù vậy, cho đến nay vẫn không có nhiều người chịu hiểu hoặc thừa nhận điều đó như đại tá Hara.

- Hi hi... có khi tại người Nhật cũng không biết cách làm bình xăng tự hàn hay cách ngăn chặn bình xăng cháy.

- Thế nào là chết 1 cách ngu xuẩn, cái này phải có ví dụ cụ thể chứ còn đánh đồng mọi cái chết đều là ngu xuẩn thì xem ra k hợp lý lắm.

- Về việc đeo dù và tìm cứu phi công thì trong cuốn sách của Sakai đã ghi rất rõ, việc đeo dù là hoàn toàn vô nghĩa mặc dù có lệnh của cấp chỉ huy là bắt buộc mang dù. Thường thì từ căn cứ bay mấy giờ đồng hồ mới đến điểm đánh nhau mà theo em hiểu (có thể sai) toàn là đánh nhau trên đầu quân Mỹ thôi, bị bắn cháy, nhảy dù cũng bị bắt làm tù binh, chẳng thể tiếp tục chiến đấu được nữa. Việc tìm cứu cũng tương tự nếu trong vùng Nhật kiểm soát còn có thể tìm cứu, trong vùng Đồng Minh kiểm soát mà đi tìm cứu khác gì đem dê vào miệng cọp.

Hình như tất cả mọi chiến dịch của hải quân và không quân Nhật đều là chiến dịch tấn công, tức là chạy đến quân Mỹ mà đánh. Kể cả khi phòng thủ họ cũng làm như vậy, từ đó suy ra chiến trường sau khi đánh nhau do Mỹ làm chủ nếu có muốn tổ chức tìm cứu cũng rất khó.

- Còn việc bảo Thần phong là ngu xuẩn và coi thường sinh mạng con người thì lại càng phải nên đọc lại mấy cuốn sách đó nữa để nhận ra lúc này quân Nhật hết cách rồi. Kỹ thuật, số lượng, chiến thuật của Mỹ đã tỏ ra vượt trội, không còn cách nào khắc chế được ngoài cách liều mình. Nếu người Nhật sáng chế được kỹ thuật điều khiển từ xa và sản xuất được những cái như bây giờ gọi là AUV thì chắc chắn sẽ chẳng có chiến thuật Thần phong đâu.

Hỏa Long
11-14-2009, 08:38 AM
Đáng kính phục - Can Trường trong Chiến Bại !

Thanks Sakaifan

Hy vọng tiếp tục .

HL .

sakaifan
11-14-2009, 05:26 PM
:teeth: tự nhiên bị mất net hai ngày grugru...
:glasses-cool: mỗi quốc gia đều có lí tưởng riêng, việc người Nhựt có tinh thần quyết tử v.v... không có gì ngu xuẩn trong đó cả.
Riêng Kamikaze, mình lại thấy rất chính xác vì lúc đó ngoài phương pháp này ra Nhựt không còn cơ hội nào đánh đắm được tàu Mĩ nữa cả, cái giá cũng quá bèo 1 phi công + 1 máy bay cùi hay tốt đều được = thiệt hại quá đáng kể cho Mĩ.
:victory: bởi vì vậy em rất thích tinh thần của người Nhựt, ước mơ trong đời được đến Atsugi viếng nơi yên nghĩ của Saburo Sakai và nghiêng mình ở đó để tỏ lòng cảm phục.
--------------------------------
5
Danh hiệu các chiến hạm đối với đọc giả ngoại quốc chắc có âm thanh xa lạ. Trong suốt cuộc chiến Thái Bình Dương có nhiều người Tây phương gọi một chiếc tàu Nhật là “Maru”. Tuy nhiên, phải lưu ý rằng tất cả chiến hạm hoặc tàu bè khác của Chánh Phủ Nhật không kèm chữ Maru ở cuối danh hiệu. Chữ Maru lúc đó chỉ được các tàu hàng hoặc tàu đánh cá Nhật sử dụng mà thôi.
Maru nghĩa đen là vòng tròn, tròn trịa hoặc bầu bỉnh. Dân Nhựt thời trung cổ thường dùng chữ Maru để đặt tên cho con trai của họ lúc nhỏ. Chẳng hạn như Hideyoshi Toyotomi, chiến tướng lừng danh thế kỷ thứ XVI, thường được so sánh với Nã Phá Luân, có tên ấu thời là Hiyoshi Maru, chữ Maru ở đây có nghĩa là “cậu bé hoàn hảo ( hoặc đầy may mắn) và rạng rỡ như mặ trời”. Và tên ấu thời của Yoshitsune Minamoto, danh tướng thế kỷ XII, là Ushiwaka Maru , có nghĩa là “khỏe mạnh như một con bò con”.
Dân Nhựt, theo lối nhân cách hóa, đã thêm chữ Maru phía sau danh hiệu con tàu của họ. Từ 100 năm qua, chữ Maru không còn sử dụng kèm với danh hiệu của tàu bè Chánh Phủ nữa. Chiến hạm Nhật, cũng như nhiều quốc gia khác, đã được phân ra từng loại để đặt tên. Do đó, một người nếu quen với hệ thống nầy chỉ cần nghe qua cái tên có thể biết ngay đó là thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm, v.v…
Các thiết giáp hạm Nhựt thường lấy tên của các tỉnh lỵ cổ hoặc núi non. Thiết giáp hạm danh tiếng Yamato mang tên Nara, tỉnh lỵ và cũng là kinh thành cổ nhứt ở miền Trung Honshu. Nara xưa kia còn được sử dụng để chỉ toàn thể nước Nhựt. Và việc đặt tên chiếc Yamato cho thấy Hải Quân Hoàng Gia kiêu hãnh về sự đồ sộ của chiếc tàu nầy là dường nào. Tàu em Yamato là thiết giáp hạm Musashi, mang tên tỉnh lỵ phía Bắc Đông Kinh. Nhưng đặt biệt các thiết giáp hạm Haruna, Kirishima, Kongo Hiei lại mang tên các ngọn núi. Bởi nguyên thủy các chiếc tàu nầy là tuần dương hạm được biến cải thành thiết giáp hạm vào năm 1930, và chúng vẫn giữ y tên cũ .
Các tuần dương hạm nặng thường mang tên núi và các tuần dương hạm nhẹ mang tên sông ngòi. Các hàng không mẫu hạm có những tên thích hợp với “nghề bay”. Hàng không mẫu hạm Hosho, được đóng năm 1921, có nghĩa là Phi Phượng. Hiryu và Soryu, tham dự cuộc tấn công Trân Châu Cảng, có thể dịch là “Phi Long” và “Thanh Long”. Riêng 2 hàng không mẫu hạm mang tên Kaga và Akagi, cùng bị đánh đắm với 2 con rồng ở Midway vào tháng 6 năm 1942, mang tên một tỉnh lỵ và núi. Điều nầy dễ hiểu bởi chiếc đầu là một thiết giáp hạm và chiếc sau là tuần dương hạm biến cải thành hàng không mẫu hạm.
Tiềm thủy đỉnh và tàu săn tiềm thủy đỉnh cho đánh số với các mẫu tự phía trước. Những tiềm thủy đỉnh lớn mẫu tự đặt ở đầu con số là “I” và những tiềm thủy đỉnh nhỏ là “RO”. Tất cả tàu săn tiềm thủy đỉnh đều đặt ở đầu con số bằng hai mẫu tự “SC”.
Các khu trục hạm mang tên khí tượng học chẳng hạn như Hatsuyuki (Tuyết đầu mùa), Fubuki (Bão tuyết), Shimakaze (Gió hải đảo), Amatsukaze (Thiên Phong), Akitsuki (Thu nguyệt), Fuyutsuki (Đông Nguyệt) hoặc Yugumo (Tà vân). Các khu trục hạm nhẹ mang tên các loại cây, trái và hoa, chẳng hạn như Sanae (Hạt lúa), Sakura (Anh đào) hoặc Kaba (Mộc phong).
Khi một chiến hạm Nhật bị phế thải một tàu mới thay thế thường mang tên chiếc tàu cũ, không hề thêm bất kì con số nào có ý nghĩa như “II” chẳng hạn. Thành thử tôi phục trên hai chiếc tàu khác nhau, nhưng cùng mang tên Amatsukaze.
Nhiệm vụ của tôi trên chiếc Amatsukaze cũ là nhiệm vụ ngay ở quê hương lần đầu tiên của tôi. Khu trục hạm nầy, đậu ở Kure, cách Eta Jima không xa mấy. Sau nhiều tháng lênh đênh trên mặt biển, đời sống đất liền hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Khi tôi đi dạo trên các đường phố náo nhiệt của tỉnh lỵ nầy, các thủy thủ đều chào kính tôi đúng điệu. Trên tàu hoặc tại các căn cứ hải quân, việc chào kính nầy không có gì khác thường, nhưng ở đây lại gây cho tôi một cảm giác kì quái trong bộ quân phục với mắt nhìn những người mặc thường phục.
Bảy năm sống khắc khổ dưới kỷ luật sắt và huấn luyện liên tục, tôi ít có dịp may hưởng thụ và xa hoa. Bấy giờ tôi đã 26 tuổi, và là hoa tiêu trưởng của một khu trục hạm tân tiến. Lương tháng của tôi là 75 yên thời đó là một số tiền khá lớn. Ở Kure thình lình tôi bừng tỉnh, cho nơi đây là dịp may hưởng thụ đầu tiên.
Một đêm thứ bảy, tôi và 2 trung úy khác quyết định đến một hộp đêm. Chúng tôi gọi 3 geisha, mỗi giờ phải trả mỗi cô một yên. Họ hát và nhảy với chúng tôi. Rượu sake không ngớt tràn ly cùng với những câu nói duyên dáng khiến chúng tôi mòn mỏi, và thời gian trôi qua nhanh chóng.
Mười giờ đêm, cuộc vui chấm dứt, chúng tôi phải trở về tàu. Khi chúng tôi sắp đứng dậy, một trong ba cô geisha khẻ nói với tôi: “ Trung úy, đêm mai trở lại đây một mình và gọi em. Tên em là Utamaru. Nhớ nghe không.”. Cô geisha nhỏ bé nầy trẻ nhất và đẹp nhứt trong ba cô. Tôi nhìn vào đôi mắt khẩn cầu của nàng và gật đầu.
Đêm sau tôi trở lại hộp đêm một mình và gọi nàng. Nàng hát hay và vũ giỏi, nhưng sự ngây thơ của cô geisha nầy mới là phương diện mê hoặc tôi nhiều nhứt. Nàng mới 18 tuổi và vô nghê một năm. Tôi nói: “Vào tuổi của em, anh bước chân vào Eta Jima. Em biết Eta Jima không?”
“Biết chớ anh! Em biết rõ lắm, vì quê em ở NomiJima mà.”
Nàng có một nụ cười đáng yêu. Tôi cảm thấy những gì mà nàng dành cho tôi vượt xa hơn nghề nghiệp của nàng.
Thình lình tôi nhớ lại sự ngù ngờ của tôi trong khách sạn ở Hiroshima, khi tôi đến đây để thi vào Eta Jima. Cô hầu ở khách sạn đó có vẻ quá đàn áp đối với bất kì một cậu trai 18 tuổi nào.
Hiện tại tình thế đã đổi ngược. Tôi đã nốc nhiều cốc sake và bắt đầu chếnh choáng. Tôi có 24 giờ phép và nàng kéo dài đêm đó với tôi.
Một số người ngoại quốc không hiểu rõ nghề nghiệp của một geisha. Họ không phải là một loại gái giang hồ. Công việc của họ là đem lại màu sắc và gây vui vẽ cho các buổi tiệc tùng, dạ hội… nếu họ dan díu với một người khách nào đó thì chỉ là chuyện riêng tư của họ. Hộp đêm nầy một đến tôi phải tiêu khoảng 10 yên, kể cả tiền thù lao cho mấy cô geisha.
Hai ngày sau tôi trở lại. Lần đầu tiên nếm mùi yêu đương, tôi si nặng cô gái, và chỉ trong 2 tuần tôi đã tiêu hết cả số lương hàng tháng.
Nàng biết và chận tôi: “Anh đừng nên đốt tiền như vậy. Tại sao anh không mướn một căn phòng rẽ tiền để em có thể lui tới thăm anh ở đó, như vậy có phải anh khỏi sạch túi không?”
Tôi đã theo lời khuyên của nàng vào tháng kế, khi chiếc khu trục hạm của tôi trở lại Kure sau chuyến đi thường lệ. Sau khi mướn một căn phòng, tôi trở lại hộp đêm để tìm và báo cho nàng biết “ tôi đã thiết lập xong căn cứ trên bờ”. Tôi quá chủ quan cho rằng nàng có thể đến ở hẳn tại cứ địa của tôi. Tôi không biết rằng Utamaru, theo thông lệ, đã nhận được trước một số tiền của người chủ hộp đêm lúc bắt đầu nhận việc, và số tiền nầy nàng đã gởi về cho người cha nghèo khổ và năm đứa em của nàng. Vì vậy, nếu muốn thôi việc nàng phải hoàn lại số tiền ứng trước, nhưng các geisha mỗi mùa đều phải mua sắm nhiều chiếc áo Kimono đắc tiền nên hiếm khi lo dành dụm được tiền để hoàn lại cho chủ.
Tôi đã kinh ngạc và vui mừng khi Utamaru đến phòng tôi ngay buổi chiều đó. Thật là thích thú khi chỉ có một mình tôi với nàng. Mọi thức đối với lúc ấy đều bỏ đi. Thật vậy, ngay cả sự hi sinh to tát của nàng đã đến đây với tôi, tôi cũng không biết đến. Tôi chỉ nghĩ nàng phải chịu thiệt thòi một buổi chiều, nên tôi trao nàng năm yên để đền bù lại, và tôi cho như vậy là khá hào phóng. Sự thật người chủ của nàng đã đòi hỏi một số tiền đặt biệt một khi nàng đến hành nghề nơi khác, vì mỗi lần như vậy khách hàng phải trả một số tiền gấp đôi, nghĩa là mỗi giờ đến hai yên. Nàng không muốn cho tôi biết việc nầy, và nàng đã lấy tiền túi trả khoảng tiền sai biệt cho người chủ. Và nàng càng tiếp tục hẹn hò với tôi, tiền dành dụm của nàng càng tiêu tán, và trở thành mang công mắc nợ.
Tôi vẫn u mê trước tình cảnh bối rối của nàng, và chính tôi cũng phải gặp sự bối rối riêng. Mỗi tháng tiền lương của tôi xài hết sạch chẳng còn lấy một đồng. Nhưng tôi còn trẻ và đang yêu, tôi chỉ biết chạy đuổi theo thú vui của đời sống, tôi chấp nhận việc nầy. Dè xẽn làm sao đối với tuổi trẻ.
Một buổi chiều, vào tháng 9 năm 1926, khi tôi sắp sửa lên bờ thì có lịnh chuyển đến cho biết vị hạm trưởng muốn gặp tôi. Tôi đến trình diện ông ngay chổ ở của ông trên tàu. Chỉ một mình ông, và ông đang đi tới đi lui một cách bồn chồn. Cái nhìn gay gắt của ông khiến tôi phát ớn.
“Trung úy Hara đó hả? Ngồi đi! Tôi có vài việc riêng muốn thảo luận với anh”
Giọng của ông rất xa lạ, và ông như đang cố kìm hãm nổi bực tức. Tôi tự hỏi không hiểu ông ta muốn thảo luận việc gì?
“Anh đã từng phục vụ đủ thời gian để biết rằng trên các khu trục hạm, không giống như những chiếc tàu lớn hơn, chúng ta sống như trong một gia đình. Với tư cách người chỉ huy của anh, tôi phải biết công việc riêng tư của anh và có bổn phận khuyên bảo anh.”
“Dạ thưa Đại tá, Đại tá nói đúng.”
“Tốt… hừ , tôi thật cũng không muốn xen vào đời sống riêng tư của anh làm gì. Anh còn trẻ, độc thân và có quyền hưởng các thú vui của tuổi trẻ. Nhưng anh có cảm giác rằng anh đã được hưởng một cách thái quá hay không?”
“Thưa…?”
“Tôi biết cô bạn anh. Tôi không phàn nàn việc anh dan díu với một geisha. Phải, đó là người tình, nhưng đã đến lúc anh phải chấm dứt sự gần gũi với cô gái nầy. Như vậy cũng quá nhiều rồi. Hiện anh bao nhiêu tuổi?”
“Trong tháng nầy tôi đúng 26 tuổi, thưa Đại Tá.”
“Tại sao anh không cưới vợ và định nơi chốn cho rồi? Anh đầy đủ mọi phương diện. Hồ sơ của anh tốt. Có cả ngàn gia đình muốn anh trở thành chàng rễ.”
“Có thể như vậy, thưa Đại Tá. Nhưng tôi nghĩ cuộc sống của một sĩ quan trẻ chưa thật sự thích nghi với việc lập gia đình. Tôi hoàn toàn chưa nghĩ đến việc lấy vợ.”
“Hmmmm…. Và vì vậy anh đang sống với một geisha?”
“Đúng như vậy, thưa Đại Tá.”
“Anh là một thằng ngu! Tôi không thể ngờ rằng anh lại suy nghĩ ngu như thế. Hải quân hoàng gia không bao giờ dung thứ cho việc một sĩ quan hải quân lại chung sống với một geisha. Anh có điên không? Anh bị loạn trí à.?”
“Thứ lỗi cho tôi, thưa Đại Tá. Nhưng tôi biết Utamaru là một geisha không có nổi tiếng. Nếu việc chung sống như vậy với cô ấy gây ra cảnh chướng tai, tôi sẽ xin được cưới cô ấy.”
“Hải Quân Hoàng Gia sẽ không bao giờ chấp nhận đâu! Anh không thấy rằng mình đang tự hủy hoại sự nghiệp ư? Tôi đang giữ một lá thơ phàn nàn từ đồng nghiệp của cô ta. Anh không nhận ra rằng cô gái của anh đã phải mắc nợ đến 2000 yên vì đến chung sống với anh sao? Thay đổi cách sống hoặc chấm dứt sự nghiệp của anh trong hải quân đi. Tôi thấy phát bực khi nói chuyện nầy với anh. Cút ra đi.”
Tôi bước ra ngay lập tức. Chán nản và tuyệt vọng, tôi lê từng bước chân nặng nhọc mò mẫm về chổ vừa đi vừa suy nghĩ cách giải quyết vấn đề nầy. Cuối cùng, tôi liều mạng viết thơ cho các anh để giúp đở và xin ý kiến. Đêm đó, tôi viết thơ cho cả hai anh tôi. Shigeru, một nhân viên của công ty đường sắt Nam Mãn Châu và Sakutaro đang làm việc ở Kobe trong một công ty vận chuyển muối.
Họ hồi âm ngay lập tức, với những lời khuyên răn và khiển trách nặng nề như hạm trưởng của tôi. Tuy nhiên, họ là những người anh tốt, họ gởi kèm theo vài trăm yên nhằm giúp tôi chi trả cho cuộc sống bợm nhậu đáng xấu hổ của tôi. Cuối thơ họ không quên răn đe tôi nếu không từ bỏ cuộc sống phóng túng nầy họ sẽ từ tôi.
Việc khó khăn nhất để kết thúc vấn đề nầy đó là lần gặp gỡ cuối cùng với Utamaru. Tuy nhiên, cô ấy rất bình tĩnh khi nghe tôi giải thích và cuối buổi hẹn nàng nói: “Em chưa bao giờ nghĩ đến thậm chí trong cả giấc mơ của mình là trở thành cô dâu bên cạnh một sĩ quan hải quân như anh cả. Em đã làm theo sự khao khát của mình, và em sẽ tự mình gánh trả những món nợ của em. Những tháng vừa qua bên cạnh anh là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong đời em.”
“Đừng lo lắng cho em. Gần đây em có nghe tin tức của dì em từ Hoa Kỳ. Dì đã lập gia đình với một di dân Nhật thành đạt và ngõ ý muốn đưa em sang sống chung. Em đang có kế hoạch chấp nhận sự bảo lãnh của dì.”
“Anh phải lập gia đình và trời thành một sĩ quan thành đạt. Tập trung học tập và hãy quên em đi.”
Utamaru là một cô gái tốt. Tên thật của nàng là Harako Takai. Từ đó tôi không còn nghe tin tức gì của nàng nữa. Nhưng tôi hi vọng nàng được sống hạnh phúc ở Hoa Kỳ.

baloo2000
11-14-2009, 08:59 PM
Pham Minh Tuan thân,

Chắc bạn đọc không kỹ, tôi không hề nói Kamikazé là ngu xuẩn.
Không đeo dù là ngay cả khi nghênh cản phi cơ địch trên không phận nhà (đâu phải lúc nào cũng được bay trên đầu quân Mỹ) thì đúng là hy sinh vô ích. Kỹ thuật self-sealing hầu hết chiến đấu cơ thời WW-II đều có, không thể nói là Nhật không biết; phân tích của các chuyên gia đều chỉ rõ người Nhật hy sinh khả năng bảo vệ phi công cho sự nhanh nhẹ của phi cơ thế hệ đầu WW-II như Zero & Oscar.
Việc xem nhẹ công tác giải cứu phi công được đề cập trong nhiều tác phẩm (VD: Sấm sét trên Thái Bình Dương, các tập Osprey Airwar, Aviation elite, ...)

sakaifan
11-14-2009, 09:38 PM
Pham Minh Tuan thân,
Không đeo dù là ngay cả khi nghênh cản phi cơ địch trên không phận nhà (đâu phải lúc nào cũng được bay trên đầu quân Mỹ) thì đúng là hy sinh vô ích. Kỹ thuật self-sealing hầu hết chiến đấu cơ thời WW-II đều có, không thể nói là Nhật không biết; phân tích của các chuyên gia đều chỉ rõ người Nhật hy sinh khả năng bảo vệ phi công cho sự nhanh nhẹ của phi cơ thế hệ đầu WW-II như Zero & Oscar.
Việc xem nhẹ công tác giải cứu phi công được đề cập trong nhiều tác phẩm (VD: Sấm sét trên Thái Bình Dương, các tập Osprey Airwar, Aviation elite, ...)

:glasses-nerdy: đúng là Nhật xem nhẹ công tác giải cứu phi công vì đơn giản họ không đủ phương tiện nhưng nếu đủ phương tiện họ vẫn điều phái đi cứu phi công ngay. Trong quyển sách này có đoạn nói về khu trục hạm Âmtsukaze đi cứu 2 phi công Nhật.
:angel: nghênh cản máy bay địch trên sân nhà phi công Nhật vẫn cố nhảy dù chứ. Anabuki Ace của Lục Quân nhảy dù vài lần khi đánh nhau với địch trên không phận của NHật đó bác.
:glasses-cool: nhưng đa số phi công Nhật chọn cách đâm máy bay hoặc ở lại chết cháy là vì cách giáo dục của Samurai thôi, họ chỉ có một con đường hoặc thắng hoặc chết.
Máy bay Zero bỏ qua các lại self sealing và amor là vì... máy của nó quá bèo chưa tới 100hp mà. các loại máy bay đời sau của Nhật đều có những kỹ thuật này bác ơi. :angel: hi sinh amor ---> giảm trọng lượng ----> máy bay nhanh nhẹn ----> thế công tốt nhào lộn tốt mà phi công Nhật lúc đầu rất giỏi ---> mấy anh Đồng Minh toi, Mỹ chọn cách hit & run để đối phó với Nhật lúc đầu đó, chứ không dám đánh trực diện đâu vì Zero bay chúi xuống rất kém, nó quá nhẹ mà :laugh: bởi vậy mấy bác yêu thích mấy anh Hoa Kỳ đừng thất vọng nha... trong ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN tui nghỉ phi công Mỹ là mấy anh kém fair play nhất đó toàn chơi hit & run nên qua đến VN thì bị Mig chơi lại hehehe gậy ông phang lưng ông kakakka

baloo2000
11-15-2009, 10:42 AM
Ý tôi là "ngu xuẩn" ở chỗ chỉ biết "thắng hay là chết" thay vì cố sống để phục vụ (hay phục thù) vì phải mấy bao nhiêu công sức để đào tạo được pilot - vì thế không được phép phí phạm chính bản thân mình.
Động cơ Nakajima Sakae trang bị cho A6M Zero khoảng 950 Hp (A6M2 - 1941) - 1320 Hp (A6M5 - 1943) cũng tương đương với phần lớn các CĐC đương thời : động cơ Allison V-1710 cho P-40 vào khoảng 1040 Hp (P-40D) - 1150 Hp (P-40E).
Dĩ nhiên là cũng có những người mang dù, nhưng phần lớn không mang thì lấy gì mà thoát.
Tất nhiên là với tinh thần quyết tử thì pilot Nhật sẽ chiến đấu vô cùng dũng mãnh, giống như bị xích vào xe tăng vậy.
Thật ra, tôi chỉ muốn làm rõ quan điểm của đại tá Hara về cách chết của 1 Samurai đúng nghĩa; và không muốn sa đà vào những tranh cãi vô vị làm loãng đề tài rất hay này. Chúng ta có những quan điểm riêng và nên tự tìm hiểu lấy, và đừng vội quy chụp ai là pro Mỹ.

sakaifan
11-15-2009, 04:26 PM
:beat-up: cái này thì đúng là mấy anh Nhật lãng phí về con người. Ng Mỹ thì chú trọng vào con người, nhưng ng Nhật thì ngược lại.
:mad-tongue: về vấn đề con người tôi lại thích câu nói của người Mỹ: " Thà làm một người nhút nhát mà con sống còn hơn làm một anh hùng ... đã chết"
--------------------------------
6
Ngày 1 tháng 12 năm 1926, tôi được thăng cấp Chuẩn úy và phải học thêm một khóa nâng cao ở trường đào tạo Chuyên Viên nằm ở Yokosuka. Suốt một năm theo học khóa nâng cao chuyên viên khu trục hạm ở đây. Khóa học nầy dành cho những người được tiến cử để được đào tạo thành hạm trưởng các khu trục hạm trong tương lai.
Yokosuka nằm cách Kure 300 dặm đường chim bay, khung cảnh và không khí đã làm tôi thay đổi. Ở đây, tôi có thể quên dần buổi chia tay đầy bi thảm với Utamaru. Các môn học mới mà tôi đang theo đuổi đã lấp đầy tất cả nổi phiền muộn riêng tư. Ngoài ra lúc ấy sự căng thẳng ở Trung Hoa cang lúc càng gia tăng khiến tôi bận tâm theo dõi.
Hoa Lục vào những ngày nầy đang xảy ra cuộc tranh chấp giữa hai tay chiến tướng quan trọng. Tưởng Giới Thạch ở phía Nam và Chang Tso Lin ở phía Bắc. Đầu năm 1927, lực lượng của Tưởng tỏ ra trên chân của Chang, và đã chiếm giữ Nam Kinh vào ngày 24 tháng 3. Lực lượng của Tưởng tạo một ra sai lầm quan trọng, là khi chiếm Nam Kinh đã phóng tay cướp phá, tràn cả vào các lãnh sự quán và gây khó dễ cho các quốc gia Nhựt, Anh, Mỹ và Pháp.
Ba tàu chiến Hoa Kỳ đã nã trọng pháo vào Nam Kinh. Hải quân Nhựt đổ bộ một lực lượng đặc nhiệm lên Nam Kinh để bảo vệ kiều dân Nhựt. Những sự việc nầy đã khiến Tưởng Giới Thạch phải ngỏ lời xin lỗi các quốc gia vừa nói và qui tội cho Cộng Sản.
Tháng 5 năm 1927, Nhật Bản đổ bộ các đơn vị bộ binh lên bán đảo Shantung ở Hoa Bắc nhằm ngăn chặn các biến cố khác. Tuy nhiên hành động nầy càng đẩy mạnh các phong trào bài Nhựt ở Trung Hoa.
Đối với quí vị đọc giả hiện tại chắc chắn sẽ cho rằng việc đổ bộ vừa rồi là hành động vụng về. Tuy nhiên sự thật Trung Hoa lúc ấy là một xứ sở đã rách nát bởi các cuộc nội chiến, hai chánh phủ, và không có uy quyền tối thượng. Quyền trú quân của Nhật Bản được thừa nhận từ khi cuộc chiến Nga – Nhựt năm 1904 – 1905 kết thúc. Người Nhựt vẫn thường có những hành động khiêu khích người Trung Hoa, và cả hai chánh phủ Trung Hoa đều khuyến khích các cuộc biểu tình bài Nhựt.
Vào mùa xuân năm 1927, hội nghị giải trang lần thứ hai được mở ra ở Geneva. Nhật Bản đã cứng rắn đòi hỏi tổng số trọng lượng các chiến hạm phải gia tăng cao hơn giới hạn 60% so với Anh và 70% so với Hoa Kỳ, do hội nghị lần thứ nhất đưa ra. Hai cường quốc hải quân hàng đầu bác bỏ đòi hỏi nầy, và hội nghi đổ vỡ. Năm cường quốc phải dàn xếp trên căn bản thỏa hiệp năm 1921.
Những biến cố thế giới nầy đã thúc đẩy mạnh mẽ sự cố gắng làm việc và học hỏi của tôi. Vào thời gian tôi nhận được sự bổ nhiệm mới, các khu trục hạm và tuần dương hạm được nâng lên địa vị quan trọng chưa bao giờ thấy trong thời Đệ Nhứt Thế Chiến.
Sau khi tốt nghiệp trường Chuyên Viên, tôi được chỉ định phục vụ trên tàu, với tư cách sĩ quan thủy lôi trưởng của khu trục hạm Susuki (Đồng cỏ). Tôi đã giữ nhiệm vụ nầy trên hai năm, lâu hơn bất kì nhiệm vụ nào mà tôi từng giữ trước đây. Chiếc tàu hoạt động trong hải phận Trung Hoa, hầu hết ở Hoa Bắc và đảo Đài Loan, thường buông neo ở Tsingtao, hải cảng then chốt của bán đảo Shantung, và bán đảo nầy cũng chính là mồi lửa của các cuộc xung đột Nhựt – Hoa ở hiện tại.
Khu trục hạm của tôi đến Keelung, Đài Loan vào ngày 1 tháng 4 năm 1928 vừa lúc tôi nghe tin Tưởng Giới Thạch đang bắt đầu xua quân hướng về Shantung. Tin tức nầy khiến các tàu phải trực chỉ Tsingtao. Nhưng ở đây tình hình có vẻ êm dịu, vì vậy ngày 15 tháng 4, chúng tôi quay lại Pescadore.
Biển cố Tsinan đầy nhục nhã xảy ra hai tuần sau đó. Đạo quân miền Bắc của Chang Tso Lin, bắt đầu dở trò cướp phá ở Tsinan, thủ phủ của Shantung, nhưng đã bị thảm bại không lâu sau đó khi họ Tưởng tiến đánh và chiếm giữ thủ phủ nầy vào ngày 1 tháng 5. Nhưng quân của họ Tưởng vẫn tiếp tục cướp phá, giống như họ đã làm vào hai năm trước đây Nam Kinh. Mười bốn kiều dân Nhựt bị sát hại và hơn hai mươi người khác mất tích, và tất cả 114 ngôi nhà của người Nhựt đều bị cướp bóc và thiêu hủy hoàn toàn.
Lục Quân Nhựt được rút từ Mãn Châu và Triều Tiên để đưa đến nơi xảy ra biến cố và đã vãn hồi trật tự. Tuy nhiên chánh sách “cây roi lớn” nầy chỉ khiến cho người Trung Hoa phẩn nộ thêm, và gieo mầm móng cho cuộc xâm chiếm qui mô của Nhựt xảy ra sau nầy.
Cuối năm 1928, tôi ở Kobe và gặp người anh là Sakutano. Anh đã thúc giục tôi lập gia đình. Tôi cười to và nói: “ Em đã từng mang tiếng xấu rồi, bây giờ anh có chắc là em tu chỉnh chưa?”
Sakutano, từ trước đến nay vẫn là một người anh hiền của tôi, đáp một cách nghiêm trang: “Để anh tìm một số ứng cử viên cho em”. Tôi nói anh cứ tiến hành nhưng tôi nghĩ chắc anh chẳng có chút may mắn nào.
Khoảng một tháng sau, tôi nhận được thơ của anh kèm theo một tấm ảnh với lời ghi chú ngắn, theo đó “người trong ảnh” xứng để trở thành “phu nhân” của tôi.
Cô Chizu Asayama, 22 tuổi, là con nuôi một chủ xưởng chế tạo vật dụng bằng da lớn nhứt của Nhật Bản. Trong thơ cho biết bà mẹ nuôi của nàng muốn có một người rễ là sĩ quan hải quân, bởi lẽ bà ta muốn sống gần con, và dĩ nhiên một sĩ quan hải quân thì ít khi định cư một nơi nào.
Dưới mắt tôi người trong ảnh quả có nhan sắc. Nàng tốt nghiệp trường Nữ Cao Đẳng nổi danh Ochanomizu. Một cô con gái gia đình giàu có, anh tôi viết, tất nhiên “trâm cài lược giắt” và quan trọng hơn hết là của hồi môn, gồm có “năm căn nhàn rộng lớn đang cho mướn ở Kamakura,” một thành phố bờ biển của giới thượng lưu gần Yokosuka.
Cả câu chuyện đối với tôi đầy bất ngờ. Tại sao một cô gái đủ điều kiện như vậy lại ưng thuận làm vợ của tôi? Nàng sẽ chọn một sĩ quan ưu tú, để hi vọng trở thành “Đô Đốc phu nhân” tương lai hơn không? Gia đình nàng chắc chắn đã thuê thám tử tư điều tra quá khứ của tôi và họ đã biết tất cả. Vì vậy, tôi nghi ngờ nàng có những khuyết điểm gì đó, không thích hợp với các tay thanh niên khác.
Tôi trao thơ cho hạ sĩ quan tùy viên thân cận của tôi và hỏi ý kiến của anh ta. Viên hạ sĩ quan đã đáp một cách nghiêm trang: “ Đại úy, anh của tôi là một cảnh sát điều tra, nếu đại úy muốn, tôi sẽ nhờ anh ấy điều tra giùm cho.”
Tôi đồng ý. Một tháng sau, người anh của hắn cung cấp đầy đủ hồ sơ cho tôi, theo đó: “Cô Asayama chẳng phương diện nào đáng chê hết.”
Tôi gặp nàng lần đầu vào tháng 3 năm 1929. Cuộc gặp gỡ quan trọng nầy kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ với sự hiện diện của quyến thuộc hai bên. Ngày sau đó, tôi trả lời ưng thuận với gia đình nàng, và nàng cũng vậy. Hôn lễ được sắp xếp theo nghi thức cổ truyền của Nhật Bản. Người ở Tây phương sẽ lấy làm lạ khi thấy một vấn đề quan trọng như vậy lại được quyết định chỉ sau một cuộc gặp gỡ. Nhưng phải nói rằng cuộc các hôn nhân được sắp xếp theo lối nầy đã chứng tỏ thành công hơn những cuộc hôn nhân thường cho là có sự tìm hiểu trước ở các nước khác.
Cuộc gặp gỡ giữa những đôi trai gái thường diễn ra sau khi cả hai gia đình đã có sự thỏa thuận trước, vì vậy mà ít khi xảy ra việc từ chối cuộc hôn nhân, trừ phi một khám phá ra khuyết điểm nào đó đã bị che đậy.
Hôn lễ cử hành tại đền thờ Shinto ở Đông Kinh vào ngày 25 tháng 5 năm 1929, trong khi chiếc khu trục hạm của tôi buông neo ở Yokosuka. Tôi được cấp hai ngày phép. Ngay sau hôn lễ chúng tôi đi hưởng một ngày trăng mật ở suối nước nóng Atami cách Tây Nam Đông Kinh khoảng 50 dặm. Ngày hôm sau tôi trở về tàu một mình. Cô vợ mới của tôi xuống xe lửa ở Oiso, một thành phố bờ biển khác nằm nữa Atami và Yokosuka, nơi gia đình nàng đang sinh sống. Tôi đã sống một đời sống hôn nhân lạ lùng vì kể từ đó trong nhiều tháng tôi mới gặp gỡ vợ tôi một lần.
Sáu tháng sau đó, tôi được thuyên chuyển đến Akikaze (Thu Phong), một khu trục hạm 1.500 tấn. Lần nầy tôi vẫn giữ chức vụ cũ, sĩ quan thủy lôi trưởng, đúng một năm.
Tháng 4 năm 1930, Anh quốc và Hoa Kỳ tiến đến một thỏa hiệp giải trang mới ở Luân Đôn, đặt định giới hạn trọng lượng của các tàu hổ trợ. Các loại tàu khác vẫn duy trì giới hạn của thỏa hiệp năm 1921. Kết quả hội nghị mới nầy khiến cho các sĩ quan hải quân Nhựt nổi nóng. Như vậy, tổng số trọng lượng của tuần dương hạm hạng nặng chỉ bằng 62% so với Hoa Kỳ. Riêng tổng số trọng lượng của tiềm thủy đỉnh, theo thỏa ước, hai quốc gia đều bằng nhau.
Lúc bấy giờ khó mà giải thích tại sao các kết quả nầy đã không làm hài lòng hải quân Nhật Bản. Nhật Bản đã cố đòi hỏi gia tăng số trọng lượng các tuần dương hạm hạng nặng ít nhất 70% so với Hoa Kỳ. Nhưng sự đồng đều về tiềm thủy đỉnh theo thỏa ước đã không được giữ đúng, bởi vì lúc đó tổng số trọng lượng của loại tầu nầy của Nhật Bản đã là 77.900 tấn so với 52.700 tấn của Hoa Kỳ.
Tất cả những lời bàn tán nầy đã chứng tỏ sự ngây ngô sau đó, khi khả năng sản xuất tàu chiến của Hoa Kỳ đến mức độ đè bẹp hẳn Nhật Bản trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Nhưng vào năm 1930, các sĩ quan hải quân Nhựt đã lưu tâm về việc nầy. Họ nhấn mạnh Nhật Bản đã bị áp lực quá dễ dàng của Hoa Kỳ ở Luân Đôn. Bấy giờ họ xem Hoa Kỳ không chỉ là một kẻ thù ngấm ngầm mà còn là một kẻ thù ra mặt. Kể từ đó về sau, tất cả những cuộc động binh đều đặt trên mặt lý thuyết nhằm vào “kẻ thù giả định” là Hoa Kỳ.
Vào ngày 8 tháng 11 năm 1930, vợ tôi sanh đứa con gái đầu lòng, được đặt tên là Yoko. Bốn tuần sau đó tôi được chỉ định giữ chức vụ sĩ quan Thủy lôi trưởng trên khu trục hạm Fubuki (Bão tuyết). Suốt một năm phục vụ trên chiếc tầu nầy, tôi đã kết bạn với một người trong đời tôi không bao giờ quên được. Đó là vị chỉ huy trưởng của tôi, Đại Tá Chuichi Nagumo.
Nagumo là một huấn luyện viên của trường Chuyên Viên Yokosuka. Sau đó ông đi du học một năm ở Hoa Kỳ và vừa mới về nước. Ông là một trong những chuyên viên khu trục hạm tài ba nhứt trong Hải Quân Hoàng Gia. Kiến thức tôi được mở mang khá nhiều trong một năm gần gũi ông. Nagumo khuyến khích tôi chuyên cần học hỏi bằng cách cho tôi mượn khá nhiều sách vở ông mang về từ Hoa Kỳ. Ông rất mến tôi, và ông nói thế nào tôi cũng sẽ được theo học trường Cao Đẳng Tham Mưu
Lúc đó tôi không bao giờ tưởng tượng Nagumo, sau nầy là phó Đô Đốc, sẽ chỉ huy lực lượng đặc nhiệm vĩ đại của Nhật Bản tham dự vào cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Nhưng tiếp theo đó, trận đại bại Midway xảy ra, và Nagumo trở thành đề tài của mọi loại chỉ trích. Tuy nhiên trong ký ức của tôi, ông vẫn là một sĩ quan tài ba và nhiệt tâm, và là một nhân vật vĩ đại.
Những chiến hạm mà Hara đã phục vụ qua:
Hình 1 tuần dương hạm Kasuga
Hình 2 khu trục hạm Sanae
Hình 3 khu trục hạm Akikaze
Hình 4 khu trục hạm Fubuki

sakaifan
11-16-2009, 08:19 AM
7
Mặc dù hàng ngày được Nagumo khuyến khích và quan tâm đến, tôi đã rớt kì thi tuyển vào Trường Cao Đẳng Tham Mưu. Thay vào đó, vào tháng 9 năm 1932, tôi được chỉ định làm một huấn luyện viên. Nhiệm vụ nầy gây cho tôi sự bối rối, nhưng sự chỉ định như vậy ít thấy xảy ra trong Hải Quân Hoàng Gia. Tôi được chọn vào nhiệm vụ nầy có nghĩa là tôi từ bỏ hẳn hi vọng trở thành một sĩ quan tham mưu để trở thành một chuyên viên hẳn.
Trong thời gian ba năm sau khi kết hôn, tôi ráo riết theo đuổi một dự án riêng… Biết rõ dự án có vẻ liều lĩnh, tôi không hề thảo luận chi tiết với bất kì người nào. Tôi cũng hiểu nếu các đồng nghiệp của tôi biết được công tác tôi đang làm, chắc chắn tôi sẽ gặp sự chế nhạo.
Đại tá Nagumo khuyến khích tôi chuẩn bị thi vào trường Cao Đẳng Tham Mưu. Tôi đọc mọi sách giới thiệu cũng như các bài bình luận về khả năng di động tính của hải quân Hoa Kỳ do chính ông viết trong thời gian đi du học. Nhưng tâm trí tôi để đâu đâu. Tôi biết các dự án riêng của tôi có tầm quan trọng nên tôi không thể phân tâm để học hỏi những vấn đề khác. Do đó dù được ngay cả Nagumo đích thân yểm trợ, kì thi vào trường Cao Đẳng Tham Mưu vẫn vuột khỏi tay tôi.
Dự án của tôi hoàn thành vào giữa năm 1932. Dự án nầy liên quan đến hàng trăm bài toán phức tạp. Tóm lại, tôi đã sử dụng toán học để chứng minh những sai lầm của các lý thuyết về thủy lôi được Nhựt áp dụng xưa nay, và tôi đưa ra một lý thuyết chỉ nam mới.
Một lý thuyết mới thật khó xen và để tìm chổ đứng trong một tổ chức quân đội. Hầu hết các sĩ quan được huấn luyện theo các lý thuyết quân sự cũ đều bảo thủ và phản ứng không thuận lợi đối với những sáng kiến mới mẽ. Nhưng rất may là lý thuyết mới của tôi không hề gặp sự chống đối quan trọng nào, và đã trở thành lý thuyết học tập về thủy lôi chánh thức của Hải Quân Hoàng Gia. Đương nhiên lý thuyết cũ được bãi bỏ. Và kết quả, tôi được bổ nhiệm về trường Cao Đẳng Tham Mưu để giảng dạy về lý thuyết mới nầy.
Mặc dù tôi hoàn thành nhiều lý thuyết khác trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, nhưng có lẽ lý thuyết về thủy lôi là lý thuyết sở đắc nhứt của tôi. Giải thích rành mạch về lý thuyết nầy không phải dễ dàng, vì trong ấy tôi đã sử dụng nhiều bài toán liên quan đến đại số, hình học, lượng giác và vị tích để áp dụng chính xác vào thực hành. Tuy nhiên tôi có thể nói phớt qua: năm 1932, sau khi tốt nghiệp trường Chuyên Viên Yokosuka, tôi lại được bổ nhiệm phục vụ trên khu trục hạm, và giữ chức vụ thủy lôi trưởng như thường khi. Tôi đã được học hỏi và huấn luyện tỉ mỉ về vấn đề phóng thủy lôi. Có thể nói hầy hết ba năm qua quyển chỉ nam ứng dụng thủy lôi cũ của hải quân là Thánh kinh của tôi. Mỗi tuần chiếc khu trục hạm của tôi đều ra khơi để thực tập phóng thủy lôi. Để tiết kiệm, các thủy lôi diễn tập đều không có đầu đạn, và mục tiêu giả có khoảng trống phía dưới để thủy lôi chạy xuyên qua. Sau ba năm huấn luyện lí thuyết và thực hành liên tục, tôi bắt đầu nghi ngờ lý thuyết cũ, và hiếm khi tôi bắn trúng mục tiêu.
Phản ứng đầu tiên khi bắn hụt là tôi tự thóa mạ tôi, và tôi càng cố gắng học hỏi hơn nữa. Tôi luyện tập thuần thục đến nổi tôi chỉ cần liếc qua ống dòm là có thể cho biết được khoảng cách mục tiêu bao xa, và tốc độ di động của mục tiêu đó như thế nào. Sau khi kiểm chứng lại bằng các dụng cụ chuyên môn, tôi nhận thấy tôi đã xác định mục tiêu rất đúng nhưng phóng vẫn trật. Do đó, tôi bắt đầu ngờ vực lý thuyết cũ của hải quân.
Theo lý thuyết cũ, một chiếc khu trục hạm, thường có chiều dài khoảng 90 thước, chạy với tốc độ 30 hải lý hoặc hơn, tiến sát đến tàu địch, khai hỏa mọi loại súng và cuối cùng dứt điểm bằng các quả thủy lôi. Một khu trục hạm Nhựt chỉ mang 16 thủy lôi. Từ 2 ống phóng phía trước và phía sau, “8 con cá” vọt ra cách nhau mỗi con hai giây. Tám quả khác được đưa vào tái nạp vào hai ống phải mất khoảng mười phút. Các loại súng nhỏ của một khu trục hạm không có hỏa lực quyết định như những thiết giáp hạm, thành thử nếu loạt thủy lôi đầu vô hiệu, vận mạng của một khu trục hạm như cáo chung. Nó dễ dàng bị đánh chìm trong khoảng 10 phút cần thiết để nạp lại thủy lôi.
Vì đó mà trong khi thực tập, chiếc khu trục hạm của tôi kể như bị “đánh chìm” nhiều lần, giữa lúc tôi đứng bó tay và nghiến răng trên đài chỉ huy sau khi nhìn thấy các “con cá” của tôi lạc mất mục tiêu. Tôi quan sát nhận thấy tài phóng thủy lôi của các khu trục hạm khác cũng không hơn gì tôi. Tôi đi đến kết luạn là phóng thủy lôi thẳng vào mục tiêu ít có hi vọng trúng, và như vậy có nghĩa là lý thuyết cũ đã sai lầm.
Theo lý thuyết cũ, tám trái thủy lôi được phóng thẳng sẽ trãi rộng 1 góc 20 độ. Sau khi phân tách cẩn thận tất cả các yếu tố quan hệ, tôi kết luận rằng với góc 20 độ như vậy mục tiêu sẽ được phóng trúng nếu chiếc khu trục hạm của tôi chạy nhanh 30 hải lý theo một đường lượn cong, giống như một hyperbole, và thủy lôi được phóng ra ở ngay đỉng của đường lượn cong đó vào một mục tiêu cách xa 2000 thước, và sau khi phóng thủy lôi xong, chiếc tàu sẽ giảm tốc độ xuống còn 20 hải lý. Qua nhiều tuần lễ diễn tập, tôi cũng khám phá ra chiếc tàu đối nghịch đủ thời gian để lảng tránh trước khi tàu của tôi sẵn sàng để khai hỏa. Và tôi cũng khám phá nhiều yếu tố cần thiết cho việc định lại các phương thức khác, bao gồm khoảng trống 2 giây của tám trái thủy lôi được phóng ra.
Công việc nghiên cứu nầy khiến tôi mở rộng tầm mắt, và mỗi khám phá mới đều được tôi áp dụng ngay vào thực hành, và đạt được mức độ chính xác gần như cố định. Tôi nổi danh, và được như xem là sĩ quan phóng thủy lôi chính xác nhất của toàn thể binh chủng hải quân. Vào thời gian nầy tôi phục vụ dưới quyền của Đại Tá Nagumo. Có lẽ thành tích nầy đã khiến ông thích tôi, và cũng vì vậy mà lý thuyết của tôi được hải quân chấp nhận và năm 1932.
Chỉ trong vòng một năm sau khi lý thuyết của tôi được học hỏi, kỹ thuật phóng thủy lôi của quân Nhựt đã đạt đến mức độ chính xác vượt bực.
Năm 1933, Đề Đốc Kaneji Kishimoto và Đại Tá Toshihide Asakuma thuộc Học Viện thủy lôi Kure trình bày một loại thủy lôi được phóng đi bằng sức ép của Oxygen thay vì không khí. Việc phát triển nầy rất quan trọng đối với chiến pháp Thủy Lôi của Nhật. Ưu thế của loại thủy lôi mới nầy, vượt trội tất cả mọi loại thủy lôi của các quốc gia khác, qua bảng so sánh sau đây:
NHẬT BẢN (thủy lôi 61 cm), loại có tốc độ 49 hải lý: tầm xa 22 cây số, đầu đạn 500 kí lô; loại có tốc độ 36 hải lý, tầm xa 40 cây số, đầu đạn 500 kí lô.
HOA KỲ (thủy lôi 53 cm), loại có tốc độ 46 hải lý, tầm xa 4 cây số, đầu đạn 300 kí lô; loại có tốc độ 32 hải lý, tầm xa 8 cây số, đầu đạn 300 kg
ANH ( thủy lôi 53 cm) loại có tốc độ 36 hải lý, tầm xa 3 cây số, đầu đạn 320 kí lô; loại có tốc độ 30 hải lý, tầm xa 10 cây số, đầu đạn 329 kí lô.
Như vậy, thủy lôi Nhựt ngoài khả năng vừa nhanh vừa có tầm xa hơn các loại thủy lôi tốt nhứt của Hoa Kỳ và Anh Quốc, còn có thêm những tiến bộ to tát khác. Các loại thủy lôi thông thường khi phóng ra sẽ tạo thành một vệt dài màu trắng nổi trên mặt nước, khiến cho một chiếc tàu chạy nhanh cũng có thể phát hiện và lẫn tránh dễ dàng. Nhưng một trái thủy lôi đẩy bằng sức ép Oxygen khi chạy đến mục tiêu sẽ không thấy dấu vết gì trên mặt nước cả (Loại thủy lôi nầy Nhựt giữ bí mật tuyệt đối đến sau chiến tranh, hải quân Hoa Kỳ mới học hỏi được đầy đủ các đặc tính của nó).
Lý thuyết của tôi cùng với việc phát minh loại thủy lôi mới đã nâng cao tinh thần của thủy thủ khu trục hạm. Và khi khu trục hạm nhanh chóng thành trở thành “báu vật” của hạm đội Nhựt, các kiểu tàu mới đóng đều đều vào thời gian đó. Các sĩ quan khu trục hạm không mấy lưu tâm đến một số thiệt thòi của Nhựt qua thỏa hiệp giải trang cuối cùng. Họ biết khu trục hạm của Nhựt đang nắm ưu thế to tát và tiên đoán loại tàu này sẽ giữ vai trò quan trong trong cuộc chiến sắp đến.
Họ đã thiếu cân nhắc về sự phát triển kỳ diệu của các loại vũ khí điện tử và khả năng không quân vượt bức của Hoa Kỳ. Hai lãnh vực nầy là yếu tố quyết định dứt khoát kết quả của Đệ Nhị Thế Chiến.
Dù thiếu cân nhắc như vậy, nhưng không thể nói chúng tôi đã tự mãn. Hơn bao giờ hết chúng tôi cố gắng huấn luyện để gia tăng sự thành thục với loại thủy lôi mới. Nhật lịnh huấn luyện của chúng tôi là chỉ phóng loại thủy lôi có tầm xa nầy khi nào đã tiến sát vào 500 thước cách mục tiêu. Mọi sĩ quan cũng được lịnh tìm cách thâu hôi thủy lôi, cho dù trong các buổi thực tập không có gắn đầu đạn.
Chúng tôi đã thi hành triệt để sau nầy, bởi giá một thủy lôi không đầu đạn lúc đó là 5000 yên (2500 Mỹ kim). Hơn nữa, chúng tôi không thể để loại thủy lôi mới nầy rơi vào tay địch quân, vì như vậy bí mật của nó sẽ bị khám phá. Thỉnh thoảng toàn thể hạm đội phải dàn hàng ngang lướt qua một khu vực rộng lớn của đại dương trong nhiều giờ để chỉ thâu hồi một trái thủy lôi phóng lạc xa khỏi mục tiêu. Vào những ngày có bảo, chúng tôi đình chỉ tất cả các buổi diễn tập, nhưng sau nầy tôi đã đánh chìm ba khu trục hạm Hoa Kỳ bằng cách áp dụng phương pháp đó.
Trong suốt cuộc chiến, hướng tiến đến của các chiến hạm địch không thể nào định trước được. Theo lịnh, các khu trục hạm Nhựt phải tiến thẳng vào mục tiêu, khai hỏa cận và đổi hướng nhanh chóng. Nhưng một khu trục hạm có tốc độ cao không thể nào giảm tốc độ một cách mau lẹ để tranh khỏi đụng chạm và ai cũng đoán biết những đụng chạm giữa đại dương gây chết người là thường. Hơn nữa tiến sát vào địch quân trong vòng 500 thước có nghĩa là đưa đầu vào họng súng của họ.
Trong các buổi diễn tập, chúng tôi thường phóng thủy lôi cách mục tiên 2000 thước. Và khi đối đầu thực sự với tàu chiến địch, khoảng cách trung bình để phóng thủy lôi có thể từ 4000 đến 5000 thước, một khoảng cách mà các thủy lôi Hoa Kỳ vẫn còn ngoài tầm.
Tôi được thăng cấp thiếu tá vào ngày 15 tháng 11 năm 1933. Tôi đã có hai gái, và nhìn lại 12 năm đã trôi qua, kể khi tôi rời Hàn Lâm Viện hải quân, tôi cảm thấy đã trở thành một sĩ quan hải quân đầy đủ lông cánh, và là một trong những sĩ quan trẻ tuổi nhứt trong Hải Quân Hoàng Gia, vượt hẳn những bạn đồng khóa của tôi, ngay cả những người đã tốt nghiệp trường Cao Đẳng Tham Mưu.
8
Giai đoạn từ năm 1931 đến 1937, nước Nhật đã gặp phải hàng loạt xáo trộn trong nội bộ và ngoại bộ đáng lưu ý. Những xáo trộn này lúc bấy giờ được xem có hại hơn là có lợi và đưa đến hậu quả lớn nhứt là cuộc chiến Thái Bình Dương. Trong suốt giai đoạn nầy tôi đã không đo lường đúng mức có phải những xáo trộn là bước sơ khởi gây ra chiến tranh hay không, bởi vì tôi đang bận tâm với công việc nghiên cứu riêng và nhiệm vụ trên tàu của tôi. Nhưng nhìn lại một dọc biến cố quan trọng của những năm nầy cho thấy Nhật Bản đang vội vã đi trên con đường thẳng đến chiến tranh.
Vào ngày 18 tháng 9 năm 1931, quân đội Nhựt đụng độ với quân đội của Chang Hsueh Liang gần Mukden, Mãn Châu. Ngọn lửa chiến tranh lan rộng nhanh chóng trên khắp lãnh thổ xứ nầy. Lực lượng Nhựt tiêu diệt các lực lượng đối kháng của Trung Hoa và thiết lập một đế chế bù nhìn ở đây.
Ngày 15 tháng 5 năm 1932, một nhóm sĩ quan bộ binh và hải quân Nhựt ùa vào văn phòng của Thủ Tướng Nhựt Tsuyoshi Inukai và sát hại vị thủ tướng bảo thủ nầy.
Tháng 3 năm 1933, Nhật Bản rút khỏi Liên Minh các quốc gia, sau khi tổ chức nầy lên tiếng tố cáo Nhựt xâm lăng Mãn Châu.
Tháng 12 năm 1934, Nhựt lưu ý Hoa Kỳ và Anh Quốc là Nhựt xem như thỏa hiệp giải trang hải quân không còn giá trị nữa.
Tháng 8 năm 1935, trung tá Saburo Aizawa, một tay cực hữu cuồng tín, đột nhập văn phòng Đại Tướng Tetsuzan Nagata, Giám Đốc Văn Phòng Quân Sự của Bộ Chiến Tranh Nhựt, và dùng gươm đâm chết ông nầy.
Vào ngày 26 tháng 2 năm 1936, các sĩ quan cuộc tín thuộc Đệ Nhứt Sư Đoàn âm mưu đảo chánh. Chia ra là nhiều tốp nhỏ, họ tràn vào nhàm một chánh trị gia cao cấp Nhựt và sát hại 4 người. Biến cố nầy được xem là biến cố nội bộ dẽ dội nhứt của Nhựt, nhưng chỉ gây rối loạn quốc gia một thời gian ngắn.
Với cấp bậc Thiếu Tá, lần đầu tiên tôi được bổ nhiệm vào chức Hạm Trưởng của một khu trục hạm vào ngày 1 tháng 11 năm 1934. Hai năm, 1934 và 1935, tôi còn giữ thêm một nhiệm vụ trong một tòa án quân sự hải quân với tư cách dự thẩm, do đó tôi đã thâu thập được một số kiến thức về luật pháp.
Âm mưu đảo chánh năm 1936 gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ. Khu trục hạm của tôi, chiếc Nagatsuki, được sáp nhập Hạm Đội Hổn Hợp, và lúc ấy hoạt động quanh phía Nam Kyushu. Thiên hoàng Hirohito ra lịnh hạm đội tiến sát vào Vịnh Đông Kinh. Một cuộc đảo chánh đang hình thành và ngày ra lịnh cho hải quân và Lục quân đập tan nhóm người âm mưu, tức các sĩ quan của Đệ Nhứt Sư Đoàn. Thật may, nhóm phản loạn đã đầu hàng trước khi chúng tôi nổ súng. Nhưng tình thế đen tối nầy đã gây cho tôi sự chán nản. Tôi không thể sống tách rời với tình thế và chuyên tâm và các công việc nghiên cứu riêng như mong muốn.
Cái gọi là “Nạn Trung Hoa” bắt đầu vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, ở cầu Marco Polo, gần Peiping. Quân đội Nhựt đã dập tắt những rắc rối xảy ra tại các vùng phụ cận của thành phố nầy, nhưng phong trào bài Nhựt của Trung Hoa dâng cao dữ dội, gây hổn loạn tại nhiều nơi khác.
Vào ngày 23 tháng 8 cùng năm, tôi nhận lể rửa tôi theo Thần đạo trong một buổi lễ ít người tham dự nhứt từ trước đến nay. Trong tháng đó, nhiều nhóm quân vô kỷ luật thuộc lực lượng của họ Tưởng bắt đầu “tấn công” các kiều dân Nhựt ở Thượng Hải. Lực lượng phòng thủ của Nhựt ở thành phố nầy có khoảng một sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến (gồm toàn binh sỹ hải quân được huấn luyện cho các cuộc hành quân trên bộ). Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Nhựt đã can thiệp và chống trả mạnh mẽ các nhóm quân Trung Hoa quá đông đảo nầy. Tuy nhiên quân Nhựt dần thất thế, và họ yêu cầu phái một hải đội gồm 4 chiếc khu trục hạm để đưa quân tăng viện từ Nagoya đến Thượng Hải.
Một trong bốn khu trục hạm nầy là một loại tàu mới nhứt, chiếc Amagiri (Trời Sương Mù). Và mặc dù lúc ấy tôi được thừa nhận là chuyên viên thủy lôi giỏi nhứt của Nhựt, tôi vẫn được chỉ định làm Hạm Trưởng của chiếc tàu nầy. Đó là một nhiệm vụ gây cho tôi sự thích thú và kinh ngạc to tát.
Amagiri nặng 2370 tấn, được võ trang tận răng, đã chở 300 binh sỹ Nhựt ngồi chen chút như cá mòi, cùng với ba khu trục hạm khác âm thầm rời khỏi Nagoya, một thương cảng lớn của Nhựt, vào lúc nửa đêm, vượt 1000 dậm đường biển với tốc độ 20 hải lý đến Thượng Hải hai ngày sau đó.
Nương bóng đêm, chúng tôi lẻn vào cảng Thượng Hải, và tàu của tôi lặng lẽ đến đậu dưới một chân cầu xe lửa ở Woosung. Nhanh nhẹn, binh sỹ trong tàu đổ bộ dưới dạ cầu. Nhưng bất ngờ, hàng loạt đại liên từ phía trên bắn dãi xuống chúng tôi. Sáu pháo khẩu 122 ly của Amagiri đáp trả dữ dội, nhưng chỉ có tánh cách phỏng chừng, vì chẳng thấy bóng dáng địch quân ở đâu. Cũng may là địch quân, hiển nhiên là du kích hoặc ủng hộ viên của quân đội Trung Hoa, đã nhắm không trúng mục tiêu, nên không ai trong chúng tôi bị trúng đạn. Tôi ra lịnh chiếc tàu chạy ra xa khỏi chân cầu khi thấy binh sỹ của chúng tôi đổ bộ hết lên bờ, và đang bắt đầu thi hành nhiệm vụ của họ.
Chúng tôi thất bại trong việc tạo ra yếu tố “bất ngờ”, nhưng cuộc đổ quân vẫn xem là thành công. Bốn khu trục hạm tiếp tục chở các cánh quân khác thuộc Đệ Tam Sư Đoàn ở Nagoya. Thêm hai sư đoàn bộ binh nữa được đưa chuyển từ Kyushu đến Thượng Hải. Các nổ lực nầy đã lật ngược tình thế, quân Trung Hoa bị đánh tan và bị đẩy lui ra khỏi Thượng Hải.
Nếu các lực lượng Nhựt ngừng ở đây, tai họa tiếp liền sau đó đã không xảy ra. Nhưng lúc ấy Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã không nắm vững quyền chỉ huy, nên các lực lượng Nhựt vẫn tiến xa hơn về phía Tây và đánh chiếm Nam Kinh vào tháng 12 năm 1937. Trái hẳn với hi vọng của các sĩ quan bộ binh, Tưởng Giới Thạch vẫn không đầu hàng khi kinh thành nầy thất thủ. Ông ta chỉ triệt binh về Hán Khẩu, kế đó là Trùng Khánh, và đề kháng liên tục hơn 8 năm.
Trong khi bộ binh Nhựt tiến về Nam Kinh, hải đội của tôi giũ nhiệm vụ phong tỏa duyên hải Trung Hoa. Công việc này tỏ ra không hợp lý, vì lúc đó các tàu chiến của chúng tôi đi lại dọc ngang trong các hải phận nầy mà không gặp sự chống đối nào. Mỗi tuần hai lần, chúng tôi chận và khám xét các tàu buôn. Nếu tìm thấy các tàu nầy mang hàng lậu, chúng tôi cho các thủy thủ rời khỏi tàu và ban một vài quả trọng pháo là xong. Như tôi đã nói, công việc nầy không làm một ai phấn khởi.
Vào tháng 11, tôi đưa chiếc Amagiri về Nhựt, và tháng kế đó, tôi được bổ nhiệm làm Hạm Trưởng chiếc Yamagumo, một khu trục hạm tối tân khác. Sau khi bàn giao, tôi và chiếc Yamagumo trở lại hải phận Trung Hoa và tiếp tục công việc phong tỏa như cũ. Trong khi chiến tranh diễn tiến liên tục trên đất liền, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ hàng ngày một cách nhàm chán và theo dõi tình hình thế giới trong sự lo âu.
Hiệp ước Munich mở ra vào tháng 8 năm 1938. Quyền lực của Hitler đang gia tăng tại Âu Châu. Tháng 11, tôi được thăng cấp Trung Tá, nhưng nhiệm vụ nhàm chán của tôi ở Trung Hoa vẫn phải tiếp tục cho đến cuối tháng 3 năm 1939. Sau đó, tàu của tôi được lịnh đến căn cứ hải quân Nhựt ở Chinhae, Nam Triều Tiên, để tái huấn luyện.
Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ ở Âu Châu vào ngày 3 tháng 9 năm 1939. Hai tháng sau đó, tôi được chỉ định vào một nhiệm vụ trên đất liền. Tôi trình diện yếu cứ hải quân ở Maizuru, và công việc của tôi nơi đây là huấn luyện các hoạt động chiến đấu cho các thuyền trưởng thương thuyền. Công việc nầy hiển nhiên là nhằm để chuẩn bị đối phó các “biến cố bất ngờ” có thể xảy ra, và không có nghĩa Hải Quân Hoàng Gia Nhựt lúc ấy đã sẵn sàng chuẩn bị tấn công Trân Châu Cảng. Các tàu hàng được huấn luyện chẳng qua là để đáp ứng với cuộc chiến đang phát triển ở Châu Âu.
Ba nội các Nhựt đổ chỉ trong vòng năm 1939, chứng tỏ những khủng hoảng chính trị của Nhựt đến lúc trầm trọng. Vào tháng Giêng năm 1940, một nội các mới ra đời cầm đầu bởi thượng cấp cũ đáng kính trọng của tôi. Đó là Đô Đốc Mitsumasa Yonai. Đô đốc Yonai hiểu rõ Nhật Bản sẽ dấn thân vào cuộc chiến lập tức nếu liên minh với các cường quốc Trục. Ông đã cố gắng hết sức chống đổi thỏa ước Tam Phương.
Các tay quá khích thuộc Lục Quân Nhựt tin tưởng Trục sẽ chiến thắng, và chiến tranh sẽ sớm chấm dứt, lúc đó chỉ có Đức và Ý chi nhau tất cả “chiến lợi phẩm”. Khi họ nhận thấy không thể thuyết phục Yonai liên kết với phe Trục, họ quyết định quấy rối Nội Các của ông và kết quả Bộ Trưởng chiến tranh rút lui. Theo hiến pháp cũ, Bộ Trưởng chiến tranh Nhựt phải là một quân nhân Lục Quân, và khi tướng Shunroku Hata từ chức vào giữa năm 1940, không tướng lãnh nào chấp nhận tham gia Nội Các của Yonai, chẳng khác nào hòn đá ngăn chặn con đường dẫn đến cuộc chiến Thái Bình Dương đã bị dẹp sang một bên. Trùng hợp với biến cố nầy, năm đó Franklin D Roosevelt tái đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ ba. Không lâu sau, Hoa Kỳ và các cường quốc Đồng Minh khác bắt đầu gây áp lực với Nhật Bản. Những áp lực nầy nhắm vào các nhà lãnh đạo quân sự, đã điều khiển quốc gia từ khi Nội Các của Yonai sụp đổ, nhưng không có hiệu quả.
Nội Các kế đó, dưới quyền lãnh đạo của Hoàng Thân Fumimaro Konoye, ký thỏa ước Tam Phương với Đức và Ý vào tháng 9 năm 1940. Trong một năm, Konoye đã cố gắng chống chọi với các tay quân phiệt Nhựt và các áp lực kinh tế của Đồng Minh, nhưng cố gắng nầy vẫn không đi đến đâu, nên vào tháng 10 năm 1941 ông rút lui.
Hình khu trục hạm Amagiri

maivang77
11-16-2009, 08:38 AM
Cám ơn bác Tuấn.
Mình đang có cuốn "Cuộc chiến tranh Thái Bình dương" của Lê Vĩnh quốc và Huỳnh văn Tòng cũng rất hấp dẫn, có nhiều đoạn trích lại cuốn mà chúng ta đang đọc.

Pham Minh Tuan
11-16-2009, 08:50 AM
Cám ơn bác Tuấn.
Mình đang có cuốn "Cuộc chiến tranh Thái Bình dương" của Lê Vĩnh quốc và Huỳnh văn Tòng cũng rất hấp dẫn, có nhiều đoạn trích lại cuốn mà chúng ta đang đọc.

Bác cảm ơn lộn quẻ rồi, cảm ơn Sakaifan mới đúng.:kissing: :4:

mountain trooper
11-16-2009, 09:01 AM
Bác cảm ơn lộn quẻ rồi, cảm ơn Sakaifan mới đúng.:kissing: :4:

Hình như ai có tên gì dính líu đến chử Tuấn đều nổi tiếng hết đó. Thân.

sakaifan
11-16-2009, 08:11 PM
Cám ơn bác Tuấn.
Mình đang có cuốn "Cuộc chiến tranh Thái Bình dương" của Lê Vĩnh quốc và Huỳnh văn Tòng cũng rất hấp dẫn, có nhiều đoạn trích lại cuốn mà chúng ta đang đọc.

Thứ lỗi bác 2 quyển này thật ra là chôm chỉa tùm lum từ các quyển "Sấm Sét Thái Bình Dương" và "Để Quốc Nhật Dãy Chết" đấy bác. Hai quyển này xuất bản trước giải phóng do NXB Sông Kiên phát hành có ghi rõ ràng là dịch lại của tác giả Tây Phương.
Còn 2 quyển cuộc chiến Thái Bình Dương mình đọc mà cảm thấy buồn cười, cái này gọi là biên soạn lại thì đúng hơn chứ nói tác giả thì đúng là tầm phào.
những quyển sách trước năm 75 rất hay mình chỉ thấy có 1 quyển được xuất bản lại năm 2000 đó là cuốn Thần Phong Kimikaze, tập tự truyện của Yasuo Kuwahara, một phi công Lục Quân được huấn luyện trong Đệ Nhị Thế Chiến và tình nguyện tham gia Kamikaze nhưng chưa đến lượt anh thì Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Anh bắn hạ được 2 cái F6F bằng chiến đấu cơ Ki 43 cùi bắp.
Các NXB sau này không bao giờ phát hành lại những quyển sách rất hay của Sông Kiên đâu, tiếc thật, bởi vậy mình mới gồng mình ngồi gõ lại những quyển hay nhất. Riêng mấy cuốn viết về Hitler và Đức chắc không gõ nổi cuốn nào cũng đến 500 trang.
Sau quyển này mình định gõ tiếp cuốn: "Rommel, Con Cáo Già của Sa Mạc".

sakaifan
11-17-2009, 08:25 PM
8
Giai đoạn từ năm 1931 đến 1937, nước Nhật đã gặp phải hàng loạt xáo trộn trong nội bộ và ngoại bộ đáng lưu ý. Những xáo trộn này lúc bấy giờ được xem có hại hơn là có lợi và đưa đến hậu quả lớn nhứt là cuộc chiến Thái Bình Dương. Trong suốt giai đoạn nầy tôi đã không đo lường đúng mức có phải những xáo trộn là bước sơ khởi gây ra chiến tranh hay không, bởi vì tôi đang bận tâm với công việc nghiên cứu riêng và nhiệm vụ trên tàu của tôi. Nhưng nhìn lại một dọc biến cố quan trọng của những năm nầy cho thấy Nhật Bản đang vội vã đi trên con đường thẳng đến chiến tranh.
Vào ngày 18 tháng 9 năm 1931, quân đội Nhựt đụng độ với quân đội của Chang Hsueh Liang gần Mukden, Mãn Châu. Ngọn lửa chiến tranh lan rộng nhanh chóng trên khắp lãnh thổ xứ nầy. Lực lượng Nhựt tiêu diệt các lực lượng đối kháng của Trung Hoa và thiết lập một đế chế bù nhìn ở đây.
Ngày 15 tháng 5 năm 1932, một nhóm sĩ quan bộ binh và hải quân Nhựt ùa vào văn phòng của Thủ Tướng Nhựt Tsuyoshi Inukai và sát hại vị thủ tướng bảo thủ nầy.
Tháng 3 năm 1933, Nhật Bản rút khỏi Liên Minh các quốc gia, sau khi tổ chức nầy lên tiếng tố cáo Nhựt xâm lăng Mãn Châu.
Tháng 12 năm 1934, Nhựt lưu ý Hoa Kỳ và Anh Quốc là Nhựt xem như thỏa hiệp giải trang hải quân không còn giá trị nữa.
Tháng 8 năm 1935, trung tá Saburo Aizawa, một tay cực hữu cuồng tín, đột nhập văn phòng Đại Tướng Tetsuzan Nagata, Giám Đốc Văn Phòng Quân Sự của Bộ Chiến Tranh Nhựt, và dùng gươm đâm chết ông nầy.
Vào ngày 26 tháng 2 năm 1936, các sĩ quan cuộc tín thuộc Đệ Nhứt Sư Đoàn âm mưu đảo chánh. Chia ra là nhiều tốp nhỏ, họ tràn vào nhàm một chánh trị gia cao cấp Nhựt và sát hại 4 người. Biến cố nầy được xem là biến cố nội bộ dẽ dội nhứt của Nhựt, nhưng chỉ gây rối loạn quốc gia một thời gian ngắn.
Với cấp bậc Thiếu Tá, lần đầu tiên tôi được bổ nhiệm vào chức Hạm Trưởng của một khu trục hạm vào ngày 1 tháng 11 năm 1934. Hai năm, 1934 và 1935, tôi còn giữ thêm một nhiệm vụ trong một tòa án quân sự hải quân với tư cách dự thẩm, do đó tôi đã thâu thập được một số kiến thức về luật pháp.
Âm mưu đảo chánh năm 1936 gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ. Khu trục hạm của tôi, chiếc Nagatsuki, được sáp nhập Hạm Đội Hổn Hợp, và lúc ấy hoạt động quanh phía Nam Kyushu. Thiên hoàng Hirohito ra lịnh hạm đội tiến sát vào Vịnh Đông Kinh. Một cuộc đảo chánh đang hình thành và ngày ra lịnh cho hải quân và Lục quân đập tan nhóm người âm mưu, tức các sĩ quan của Đệ Nhứt Sư Đoàn. Thật may, nhóm phản loạn đã đầu hàng trước khi chúng tôi nổ súng. Nhưng tình thế đen tối nầy đã gây cho tôi sự chán nản. Tôi không thể sống tách rời với tình thế và chuyên tâm và các công việc nghiên cứu riêng như mong muốn.
Cái gọi là “Nạn Trung Hoa” bắt đầu vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, ở cầu Marco Polo, gần Peiping. Quân đội Nhựt đã dập tắt những rắc rối xảy ra tại các vùng phụ cận của thành phố nầy, nhưng phong trào bài Nhựt của Trung Hoa dâng cao dữ dội, gây hổn loạn tại nhiều nơi khác.
Vào ngày 23 tháng 8 cùng năm, tôi nhận lể rửa tôi theo Thần đạo trong một buổi lễ ít người tham dự nhứt từ trước đến nay. Trong tháng đó, nhiều nhóm quân vô kỷ luật thuộc lực lượng của họ Tưởng bắt đầu “tấn công” các kiều dân Nhựt ở Thượng Hải. Lực lượng phòng thủ của Nhựt ở thành phố nầy có khoảng một sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến (gồm toàn binh sỹ hải quân được huấn luyện cho các cuộc hành quân trên bộ). Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Nhựt đã can thiệp và chống trả mạnh mẽ các nhóm quân Trung Hoa quá đông đảo nầy. Tuy nhiên quân Nhựt dần thất thế, và họ yêu cầu phái một hải đội gồm 4 chiếc khu trục hạm để đưa quân tăng viện từ Nagoya đến Thượng Hải.
Một trong bốn khu trục hạm nầy là một loại tàu mới nhứt, chiếc Amagiri (Trời Sương Mù). Và mặc dù lúc ấy tôi được thừa nhận là chuyên viên thủy lôi giỏi nhứt của Nhựt, tôi vẫn được chỉ định làm Hạm Trưởng của chiếc tàu nầy. Đó là một nhiệm vụ gây cho tôi sự thích thú và kinh ngạc to tát.
Amagiri nặng 2370 tấn, được võ trang tận răng, đã chở 300 binh sỹ Nhựt ngồi chen chút như cá mòi, cùng với ba khu trục hạm khác âm thầm rời khỏi Nagoya, một thương cảng lớn của Nhựt, vào lúc nửa đêm, vượt 1000 dậm đường biển với tốc độ 20 hải lý đến Thượng Hải hai ngày sau đó.
Nương bóng đêm, chúng tôi lẻn vào cảng Thượng Hải, và tàu của tôi lặng lẽ đến đậu dưới một chân cầu xe lửa ở Woosung. Nhanh nhẹn, binh sỹ trong tàu đổ bộ dưới dạ cầu. Nhưng bất ngờ, hàng loạt đại liên từ phía trên bắn dãi xuống chúng tôi. Sáu pháo khẩu 122 ly của Amagiri đáp trả dữ dội, nhưng chỉ có tánh cách phỏng chừng, vì chẳng thấy bóng dáng địch quân ở đâu. Cũng may là địch quân, hiển nhiên là du kích hoặc ủng hộ viên của quân đội Trung Hoa, đã nhắm không trúng mục tiêu, nên không ai trong chúng tôi bị trúng đạn. Tôi ra lịnh chiếc tàu chạy ra xa khỏi chân cầu khi thấy binh sỹ của chúng tôi đổ bộ hết lên bờ, và đang bắt đầu thi hành nhiệm vụ của họ.
Chúng tôi thất bại trong việc tạo ra yếu tố “bất ngờ”, nhưng cuộc đổ quân vẫn xem là thành công. Bốn khu trục hạm tiếp tục chở các cánh quân khác thuộc Đệ Tam Sư Đoàn ở Nagoya. Thêm hai sư đoàn bộ binh nữa được đưa chuyển từ Kyushu đến Thượng Hải. Các nổ lực nầy đã lật ngược tình thế, quân Trung Hoa bị đánh tan và bị đẩy lui ra khỏi Thượng Hải.
Nếu các lực lượng Nhựt ngừng ở đây, tai họa tiếp liền sau đó đã không xảy ra. Nhưng lúc ấy Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã không nắm vững quyền chỉ huy, nên các lực lượng Nhựt vẫn tiến xa hơn về phía Tây và đánh chiếm Nam Kinh vào tháng 12 năm 1937. Trái hẳn với hi vọng của các sĩ quan bộ binh, Tưởng Giới Thạch vẫn không đầu hàng khi kinh thành nầy thất thủ. Ông ta chỉ triệt binh về Hán Khẩu, kế đó là Trùng Khánh, và đề kháng liên tục hơn 8 năm.
Trong khi bộ binh Nhựt tiến về Nam Kinh, hải đội của tôi giũ nhiệm vụ phong tỏa duyên hải Trung Hoa. Công việc này tỏ ra không hợp lý, vì lúc đó các tàu chiến của chúng tôi đi lại dọc ngang trong các hải phận nầy mà không gặp sự chống đối nào. Mỗi tuần hai lần, chúng tôi chận và khám xét các tàu buôn. Nếu tìm thấy các tàu nầy mang hàng lậu, chúng tôi cho các thủy thủ rời khỏi tàu và ban một vài quả trọng pháo là xong. Như tôi đã nói, công việc nầy không làm một ai phấn khởi.
Vào tháng 11, tôi đưa chiếc Amagiri về Nhựt, và tháng kế đó, tôi được bổ nhiệm làm Hạm Trưởng chiếc Yamagumo, một khu trục hạm tối tân khác. Sau khi bàn giao, tôi và chiếc Yamagumo trở lại hải phận Trung Hoa và tiếp tục công việc phong tỏa như cũ. Trong khi chiến tranh diễn tiến liên tục trên đất liền, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ hàng ngày một cách nhàm chán và theo dõi tình hình thế giới trong sự lo âu.
Hiệp ước Munich mở ra vào tháng 8 năm 1938. Quyền lực của Hitler đang gia tăng tại Âu Châu. Tháng 11, tôi được thăng cấp Trung Tá, nhưng nhiệm vụ nhàm chán của tôi ở Trung Hoa vẫn phải tiếp tục cho đến cuối tháng 3 năm 1939. Sau đó, tàu của tôi được lịnh đến căn cứ hải quân Nhựt ở Chinhae, Nam Triều Tiên, để tái huấn luyện.
Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ ở Âu Châu vào ngày 3 tháng 9 năm 1939. Hai tháng sau đó, tôi được chỉ định vào một nhiệm vụ trên đất liền. Tôi trình diện yếu cứ hải quân ở Maizuru, và công việc của tôi nơi đây là huấn luyện các hoạt động chiến đấu cho các thuyền trưởng thương thuyền. Công việc nầy hiển nhiên là nhằm để chuẩn bị đối phó các “biến cố bất ngờ” có thể xảy ra, và không có nghĩa Hải Quân Hoàng Gia Nhựt lúc ấy đã sẵn sàng chuẩn bị tấn công Trân Châu Cảng. Các tàu hàng được huấn luyện chẳng qua là để đáp ứng với cuộc chiến đang phát triển ở Châu Âu.
Ba nội các Nhựt đổ chỉ trong vòng năm 1939, chứng tỏ những khủng hoảng chính trị của Nhựt đến lúc trầm trọng. Vào tháng Giêng năm 1940, một nội các mới ra đời cầm đầu bởi thượng cấp cũ đáng kính trọng của tôi. Đó là Đô Đốc Mitsumasa Yonai. Đô đốc Yonai hiểu rõ Nhật Bản sẽ dấn thân vào cuộc chiến lập tức nếu liên minh với các cường quốc Trục. Ông đã cố gắng hết sức chống đổi thỏa ước Tam Phương.
Các tay quá khích thuộc Lục Quân Nhựt tin tưởng Trục sẽ chiến thắng, và chiến tranh sẽ sớm chấm dứt, lúc đó chỉ có Đức và Ý chi nhau tất cả “chiến lợi phẩm”. Khi họ nhận thấy không thể thuyết phục Yonai liên kết với phe Trục, họ quyết định quấy rối Nội Các của ông và kết quả Bộ Trưởng chiến tranh rút lui. Theo hiến pháp cũ, Bộ Trưởng chiến tranh Nhựt phải là một quân nhân Lục Quân, và khi tướng Shunroku Hata từ chức vào giữa năm 1940, không tướng lãnh nào chấp nhận tham gia Nội Các của Yonai, chẳng khác nào hòn đá ngăn chặn con đường dẫn đến cuộc chiến Thái Bình Dương đã bị dẹp sang một bên. Trùng hợp với biến cố nầy, năm đó Franklin D Roosevelt tái đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ ba. Không lâu sau, Hoa Kỳ và các cường quốc Đồng Minh khác bắt đầu gây áp lực với Nhật Bản. Những áp lực nầy nhắm vào các nhà lãnh đạo quân sự, đã điều khiển quốc gia từ khi Nội Các của Yonai sụp đổ, nhưng không có hiệu quả.
Nội Các kế đó, dưới quyền lãnh đạo của Hoàng Thân Fumimaro Konoye, ký thỏa ước Tam Phương với Đức và Ý vào tháng 9 năm 1940. Trong một năm, Konoye đã cố gắng chống chọi với các tay quân phiệt Nhựt và các áp lực kinh tế của Đồng Minh, nhưng cố gắng nầy vẫn không đi đến đâu, nên vào tháng 10 năm 1941 ông rút lui.

sakaifan
11-18-2009, 07:26 PM
PHẦN HAI
Từ Trân Châu Cảng đến Guadalcanal
I
Ngày 9 tháng 11 năm 1941 là một ngày mà tôi không thể nào quên được. Ngày đó, có khoảng 200 tàu chiến của Hạm Đội Hổn Hợp Nhựt qui tụ về Vịnh Hiroshima. Toàn thể Hạm Đội Hổn Hợp tập trung vào một nơi như thế được xem là hiện tượng bất thường.
Tôi là Hạm Trưởng của khu trục hạm Amatsukaze (Thiên Phong) một trong bốn chiếc tàu cùng loại vừa được chỉ định gia nhập vào Hải đội 6, Phân đội 2 khu trục hạm Đệ Nhị Hạm Đội.
Hôm đó, một sáng mùa thu êm đềm, các tàu chiến buông neo bất động trên mặt Vịnh. Mặt nước trong suốt như gương, phản chiếu dãy núi xanh rì ở chân trời xa xa. Lũ hải âu bay lượn quanh quẩn trên các chiếc tàu. Mọi vật đều êm ả và bình lặng.
Lúc 9 giờ sáng, một hồi còi hiệu rút lên từ soái hạm Nagato, khiến muôn mắt hướng về phía nó. Tín hiệu bằng cờ cho biết: “ Tất cả chiến hạm W.Y.Z.”. Ám hiệu nầy là một ám hiệu bất thường, có nghĩa: “ Tất cả sĩ quan chủ huy đến trình diện soái hạm.”. Hoạt động nhộn nhịp trên mỗi chiếc tàu xảy ra. Vài phút sau đó, trên một chiếc ca nô, tôi đến trình diện Nagato. Trên sân tàu rộng lớn của soái hạm, hàng trăm sĩ quan đã đứng đầy, già trẻ lẩn lộn.
Giữa những người hiện diện, tôi nhận thấy các thượng cấp của tôi: Đề Đốc Raizo Tanaka, Tư Lịnh phân đội 2 khu trục hạm, và phó Đô Đốc Nobutake Kondo, Tư Lịnh Đệ Nhứt Hạm Đội. Mọi người đều có dáng vẻ nghiêm trọng. Mặc dù trong tiết thu mát mẻ, không khi vẫn như ngột ngạt oi bức.
Lúc 9 giờ 30, ba tiếng chuông reo vang, tất cả thủy thủ đều biến dạng, chỉ còn các Hạm Trưởng có cấp bậc Trung Tá trở lên. Sự bất thường nầy cũng khiến cho sự căng thẳng gia tăng.
Trung tá Hajime Yamaguchi, một trong những tùy viên của tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp, đứng gần một cái bực cao, nói lớn:
“ Xin quí vị lưu ý! Tổng Tư Lịnh đến.”
Tất cả chúng tôi đều đứng thẳng và im phăng phắc khi Đô Đốc Isoroku Yamamoto bước lên sàn tàu. Khi ông tiến đến cái bực, trong khung cảnh lặng yên, tiếng bước chân của ông vang lên rất rõ. Đô đốc Yamamoto chào đáp lễ chúng tôi và bắt đầu lên tiếng:
“ Tôi rất hân hoan gặp gỡ tất cả quí vị ở đây. Hạm đội hổn hợp của chúng ta đã hoàn tất mọi chuẩn bị để sẵn sàng lâm chiến. Trong thời gian chờ đợi, chúng ta sẽ tiếp tục trui rèn trên căn bản đó.
“ Tình hình gần đây cho thấy có thể bắt buộc Nhật Bản phải ra tay chống lại Anh, Mỹ, Úc và Hòa Lan, hơn là để cho cuộc phong tỏa kinh tế của họ bóp nghẹt chúng ta.”
Sự khủng hoảng đã đến mức độ trầm trọng hơn bao giờ hết trong lịch sử của chúng ta, điều nầy đã nhìn thấy rõ ràng. Một khi quốc gia quyết định lâm chiến chống lại Đồng Minh, bổn phận của chúng ta, Hạm Đội Hổn Hợp, là bảo vệ quốc gia và đánh bại kẻ thù. Nhiệm vụ nầy có thể đạt được thành quả, nếu mỗi cá nhân trong quí vị dốc hết nổ lực của mình.”
Yamamoto nó thật vắn tắt, và qua một giọng thật trầm, nhưng chẳng khác nào tiếng sấm động. Mọi sĩ quan choáng váng. Tôi cảm thấy như bị chôn chân.
Khi ngừng nói, Đô Đốc Yamamoto nghiến chặt hai hàm răng lại và nhìn quanh, như có tìm đôi mắt của từng người một. Ông có vẻ hòa dịu hơn khi ông chậm rãi rời khỏi bục.
Phó Đô Đốc Matome Ugaki, Tham Mưu Trưởng của Yamamoto lên tiếng kế đó. Ông đưa ra một phân tách về tình hình, các hậu quả do việc phong tỏa tàu bè đi lại của Đồng Minh. Nhật Bản đang lâm vào cảnh thiếu hụt dầu hỏa, quặng sắt, cao su, kẻm, nikel và đất thiết phàn, vì gặp phải khủng hoảng về vấn đề cung cấp. Ông cho biết, theo quả quyết của Bộ Tư Lịnh Tối Cao, Nhựt sẽ sụp đổ trong vòng một hoặc hai năm nữa nếu tình thế hiện tại vẫn tiếp tục. Ông nói rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã tiến đến quyết định cuối cùng là đưa ra một chiến lược trả đủa, nhằm chống lại sự bóp nghẹt của Đồng Minh.
“ Có thể cuộc hội họp của tất cả các sĩ quan thuộc Hạm Đội Hổn Hợp nầy…” tới đây Ugaki hơi ngần ngừ, và sau đó tiếp “… là cuộc họp cuối cùng trong khung cảnh như thế nầy…”
“Kể từ bây giờ chúng ta sẽ đảm nhiệm một công việc khó khăn nhứt. Đây không phải là sự cố gắng tập tành thông thường, mà là sự nghỉ ngơi thích hợp cho binh sĩ của các ông, và các ông phải luôn luôn theo dõi công việc nầy. Không được để tiêu hao một người nào vì làm việc quá mức. Mỗi người chúng ta phải sẵn sàng… luôn luôn sẵn sàng, ngay cả đối với cái chết nữa.”
Một nỗi yên lặng bao trùm lấp khi Ugaki dứt lời. Trung tá Yamaguchi tuyên bố buổi họp chấm dứt, và Đô Đốc Yamamoto bắt đầu cuộc họp riêng với Bộ Tham Mưu của ông.
Tôi vẫn đứng bất động, những câu nói cảu Yamamoto và Ugaki vẫn còn âm vang trong tai tôi. Tôi phải chờ ca nô mang tôi trở lại chiếc Amatsukaze. Thình lình tôi như lâm vào trạng thái hôn mê và dần dần bước hướng về khoảng giữa của chiếc soái hạm. Tôi nhứt quyết đến gặp riêng Ugaki.
Khi tôi đang bước, một vị đô đốc xuất hiện và tôi đưa tay chào như máy. Đó là ông bạn tốt của tôi. Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo, Tư Lịnh Đệ Nhứt Không Hạm Đội. Ông chào đáp lể và cười khi gọi tên tôi. Chúng tôi trao đổi một vài câu. Khi ông bước đi, đôi vai rộng của ông như nghiêng về phía trước, trạng thái nầy khiến tôi nghĩ ra nụ cười của ông vừa rồi là một nụ cười gượng gạo. Tôi kinh ngạc. Nagumo từ trước đến nay là một người vồn vã, gặp bạn cũ là ông nhảy xô với những cử chỉ, lời nói thật thân thiết và ồn ào.
Trạng thái kì lạ của ông Phó Đô Đốc hăng hái nầy đã khiến tôi hoang mang khi bước xuống cầu thang hẹp, tiến về phía phòng của Phó Đô Đốc Ugaki.
Tôi gõ của và bước vào sau tiếng nói rổn rang cho phép của Ugaki
Tôi hỏi thẳng:
“Thưa đô đốc, Đô Đốc có thể dành cho tôi một vài phút không?”
“Được Hara,” ông đáp. “Hãy ngồi đi.”
Tôi ngần ngừ, và sau một giây yên lặng, tôi tiếp “Thưa đô đốc, hành vi của tôi có thể khiến Đô Đốc cho là tôi quá vô lễ, nhưng khi đến gặp đô đốc, tôi đã đắn đo cân nhắc. Tôi hi vọng Đô Đốc sẽ hiểu biết cho tôi. Tôi cũng hi vọng đô đốc không xem tôi như là một kẻ chống đối hoặc nhút nhát trước… những mạng lịnh cương quyết đã được ban ra…”
“Tôi hiểu anh, Hara. Đừng rào đón nữa. Hãy nói thẳng những gì anh muốn nói. Có phải anh muốn thảo luận với tôi về cuộc chiến sắp được hải quân Nhựt phát động chống lại Đồng Minh không?”
“Dạ đúng, thưa Đô Đốc. Tôi chỉ là một chuyên viên khu trục hạm, kiến thức hạn hẹp, và chắc chắn tôi không đủ tư cách thảo luận một quyết định đã được thượng cấp đưa ra. Xin đô đốc tha thứ những lời thẳng thắn của tôi, nhưng thực sự tôi hoàn toàn bi quan trước tình thế sắp xảy ra. Chúng ta có thể tránh né cuộc chiến toàn diện bằng cách chọn một lối khác hơn là tấn công vào Phi Luật Tân? Và nếu nói là vì nguồn tài nguyên mà chúng ta bắt buộc phải chọn hành động tấn công, chúng ta nhắm cả vào Hòa Lan có thích đáng hay không?”
Ugaki cười gượng gạo, giống như Nagumo. Sau đó ông hắn giọng nói: “tôi nói anh nghe Hara. Ý kiến của anh được chia xẻ bởi một số sĩ quan cấp cao khác, nhưng tất cả đều bị gạt ra ngoài. Quyết định đã được đưa ra. Một việc mà tôi cần nhấn mạnh: chúng ta tạo ra quyết định chỉ để chuẩn bị đối phó với tình thế tệ nhứt mà thôi. Như anh biết, đô đốc Kichisaburo Nomura, đại sứ của chúng ta ở Hoa Thịnh Đốn đang cố gắng mở các cuộc đàm phán để dàn xếp lần cuối cùng. Nhà ngoại giao chuyên nghiệp Saburo Kurusu cũng sẽ sang Hoa Kỳ giữ nhiệm vụ cố vấn đặc biệt cho Nomura, và cả hai sẽ nổ lực gấp đội trong cuộc đàm phán nầy. Chúng ta không gây chiến tranh, nhưng nếu không còn cách nào để chọn, chúng ta phải đánh, và phải đánh nhanh và mạnh. Đó là giải pháp cuối cùng mà Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã chọn.”
Tôi ngồi bất động, biết rằng không còn gì để thảo luận vấn đề nầy thêm nữa. Tôi kiếu từ, và Ugaki nói: “Anh hãy cẩn trọng. Anh là sĩ quan khu trục hạm tài ba nhứt của hải quân. Chúng tôi sẽ tùy thuộc vào anh. Mong gặp lại anh, Hara.”
Cuộc gặp gỡ đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa tôi và Ugaki. Ông sống sót khi 2 oanh tạc cơ hai máy Betty chở Yamamoto và Bộ Tham Mưu bị một số chiến đấu cơ P38 của Hoa Kỳ tấn công vào tháng 4 năm 1943. Cuộc tấn công xảy ra gần Bougainville, ở Solomon. Cả hai oanh tạc cơ đều bị bắn rơi, và Yamamoto thiệt mạng. Nhưng Ugaki sống sót cho đến gần ngày cuối cùng của cuộc chiến và tử trận khi hướng dẫn các oanh tạc cơ tự sát tấn công Okinawa (có thể Hara đã nhầm, Đô Đốc Ugaki đã dẫn đầu một nhóm các phi công không chấp nhận lệnh đầu hàng và tất cả đều hướng ra biển trên máy bay của mình và không ai có thể biết đoàn phi cơ nầy đã bay đi đâu….). Đó là cuộc tấn công Kamikaze cuối cùng trong cuộc chiến Thái Bình Dương.
Cho đến hiện tại, tôi vẫn không hiểu có phải Ugaki nằm trong nhóm người chống đối phương thức tấn công Trân Châu Cảng hay không. Tuy nhiên, tôi luôn luôn có cảm giác ông và Nagumo chống đối. Yamamoto đã chứng tỏ sự cương quyết qua việc lựa chọn phương thức nầy, nhưng bên trong ông có vẻ như chống đối khi xét đoán: “ Hải quân chỉ đủ sức chiến đấu hai năm.”. Yamamoto cũng từng ngõ ý mong muốn các nhà ngoại giao Nhựt sẽ tìm kiếm một nền hòa bình danh dự trước khi thảm kịch xảy ra.
Sau khi hội kiến Ugaki, tôi trở lại sân tàu, vẫn trong trạng thái bàng hoàng. Các sĩ quan trẻ con đứng quanh quẩn bên nhau, và tôi nghe một Thiếu tá lên giọng khoác lác: “Những người khu trục hạm chúng ta phải đi tiên phong và đánh cho địch quân manh giáp không còn. Có thể cả cuộc chiến sẽ dựa vào sự chiến đấu của chúng ta.”
Tôi gục gặc đầu và tự nhũ: “Hắn nói vậy mà đúng” Tôi trở về Amatsukaze, vào phòng riêng và quơ lấy cuốn sách Tôn Tử binh pháp trên giá sách. Đây là quyển sách chứa đựng triết lý và chiến lược của Trung Hoa thời cổ, được xem là Thánh Kinh của các nhà quân sự Đông phương hơn 2500 năm nay.
“Nghệ thuật lãnh đạo cuộc chiến là một vấn đề sống còn của quốc gia, một con đường đưa đến sự hủy diệt hay tồn tại. Vì thế, nghệ thuật nầy đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách tỉ mỉ mọi khía cạnh của nó.”
Chương thứ ba của quyển sách đã kết luận:
“Khi chiến tranh phát khởi, điều quan trọng duy nhứt đối với ta là phải bảo toàn quốc gia hơn là đánh bại một quốc gia khác. Bảo vệ đơn vị của mình quan trọng hơn là khắc phục đơn vị của địch quân. Một chỉ huy trăm trận trăm thắng chưa hẳn là một vị chỉ huy giỏi. Một vị chỉ huy vĩ đại thật sự là một vị chỉ huy chiến thắng địch quân mà không cần phải dụng binh.
“Anh không cần phải kinh sợ dầu phải có đánh hàng trăm trận, nếu anh tri bỉ, tri kỷ. Nếu anh biết rõ mình mà không biết rõ địch quân, thì có ngày anh phải trả giá mọi chiến công mà anh gặt hái được. Nếu anh không biết mình và cũng không biết người chắc chắn anh sẽ đánh đâu thua đó.”
Các lời khuyên nầy cũng chẳng làm tôi vơi bớt nỗi phiền muộn. Tôi cho rằng quyển sách có vẻ triết lý thái quá và quăng sang một bên. “Cái túi khôn” nầy chỉ có thể thích hợp cho một vị vua hoặc một vị Tổng tư lịnh, nhưng vô bổ được một sĩ quan cấp bậc nhỏ nhoi như tôi. Niềm bi quan trong tôi vẫn không ngớt.
Trong khi theo dõi các biến cố đang xảy ra, tôi càng thêm thất vọng, xem như cuộc chiến đã được các nhà lãnh đạo quân sự quyết định rồi. Cuộc họp lịch sử trên soái hạm Nagato trùng hợp với sự từ chức của Thủ tướng Konoye và toàn thể Nội Các của ông. Người kế nhiệm ông là tướng Hideki Tojo. Tôi hiểu rằng sự thay đổi ngay vào thời gian đầy khủng hoảng nầy là một điềm xấu báo trước.
Trãi qua nhiều ngày, tôi dò dẫm tìm đường lối chuẩn bị bản thân sẵn sàng đón nhận cuộc chiến toàn diện. Sau binh thơ Tôn Tử, tôi tìm hiểu đọc nhiều binh pháp của Hải Quân Hoàng Gia, nhưng cũng chẳng có quyển nào soi đường cho tôi. Tôi tự hỏi: “Tôi đã biết năng lực của địch và năng lực của chính tôi chưa?”.
Tôi được cho là một sĩ quan khu trục hạm tài ba nhứt. Tôi luôn luôn chiến thắng trong các buổi diễn tập “kẻ thù” luôn luôn bị “dứt điểm” với những trái thủy lôi chính xác của tôi. Thông thường, tôi chỉ cần sử dụng phân nữa trong tổng số tám trái thủy lôi trang bị đầu phóng là mục tiêu đã được thanh toán. Điều nầy đã chứng tỏ năng lực của tôi, nhưng còn năng lực của kẻ thù?
Tôi chỉ hiểu mù mờ. Nếu các giới hạn qui định của hội nghị giải trang Luân Đôn vẫn còn hiệu lực, việc nầy đáng nghi ngờ sau khi Nhật Bản xé bỏ thỏa hiệp năm 1934, tính ra nếu lực lượng hải quân của Hoa Kỳ và Anh Quốc phối hợp thì cứ 10 của họ chống lại 3 hoặc 3.5 của Nhật Bản. Như vậy có nghĩa là tôi phải đánh chìm ít nhứt 4 tàu chiến của địch mới mong duy trì một lần sống sót. Nếu mỗi sĩ quan Hạm Trưởng Hải Quân Hoàng Gia Nhựt đều làm được như thế, chúng tôi có thể ngang ngửa với địch quân. Nhưng đây chỉ là ảo tưởng. Như Phó Đô Đốc Nagumo từng nói với tôi nhiều lần rằng tiềm năng kỹ nghệ đáng sợ của Hoa Kỳ là một yếu tố bất lợi không thể đo lường đối với Nhật Bản. Tất cả những vấn đề nầy khiến tôi đắm chìm vào sự u ám và bi quan.
Nỗi dằn vặt kéo dài thêm nhiều ngày nữa cho đến cuối cùng tôi mới trở lại thân phận thực sự của tôi: tôi là một quân nhân, không phải một sĩ quan cao cấp, điều nầy có ý nghĩa dứt khoát rằng nhiệm vụ của tôi phải chuẩn bị chiến đấu để bảo toàn binh sỹ và giữ gìn khu trục hạm của tôi. Tôi không thể cho phép tôi chui đầu vào guồng chỉ rối của cuộc chiến sắp xảy ra, mà phải sẵn sàng chiến đấu với tất cả năng lực trong vài trò giới hạn của tôi.
Có vẻ lạ lùng khi tôi nói rằng vào lúc ấy, năm 1941, chính quyển tự truyện cổ “Go Rin Sho” của Masashi Miyamoto viết cách đây 3 thế kỷ là quyển sách đã soi sáng mọi thắc mắc và phục hồi sự trầm tĩnh của tôi. Nội dung quyển sách chứa đựng lời tự thuật của một kiếm khách phi thường, đã chiến thắng 66 trận quyết đấu, và sau đó trở thành nhà văn kiêm triết gia vĩ đại nhứt của Nhật Bản.
So với binh thơ Tôn Tử, quyển tự truyện của Miyamoto hoàn toàn khó hiểu. Nếu dịch nguyên văn quyển sách nầy, chắc đọc giả Tây Phương cũng khó mà lãnh hội nổi. Miyamoto sanh năm 1584 và sống trong một thời đại đầy loạn lạc. Vào thời đó một kiếm sĩ mới xuất thân muốn gây tên tuổi hẳn phải thách đấu những kiếm sĩ đã từng nổi danh khác so tài. Cuộc so tài nầy không phải là một môn thể thao đơn giản, mà cả hai tay kiếm đều đấu với nhau chí mạng. Kiếm của họ thường làm bằng thép hoặc gỗ. Đối với một cao thủ về kiếm thuật, thanh kiếm gỗ trong tay họ hữu hiệu không khác mấy so với kiếm thép.
Chiến thắng 66 lần liên tiếp của Miyamoto, một kỉ lục chưa từng thấy, được ông kể lại tỉ mỉ trong quyển tự truyện nầy. Ông đã đánh bại các đối thủ qua yếu quyết : “Xoay sở tùy theo tình thế, không để bị trói buộc vào bất kì công thức hoặc nguyên tắc nào.”Bí quyết này chỉ có những cao thủ thượng thừa mới dám áp dụng trong các cuộc so tài thí thân, vì chỉ sơ sẩy một đường tơ là có thể mất mạng ngay.
Quyển truyện nầy đã thức tỉnh tôi, nó đã giải đáp tất cả những gì mà tôi đang dò dẫm. Xoay sở tùy theo tình thế có thể giúp tôi vượt qua sức mạnh ưu việt của Đồng Minh. Hiện tại, tôi có thể tin rằng tôi đã tạo được những thành tích rực rỡ và tồn tại sau cuộc chiến Thái Bình Dương, là do tôi đã áp dụng bí quyết của Miyamoto.

sakaifan
11-22-2009, 07:54 PM
Giáo điều Bushido (tâm niệm của giới võ sĩ đạo) dạy rằng một Samurai phải sống một đời sống như thể hắn luôn luôn chuẩn bị để chết. Câu này thường bị lạm dụng và diễn giải sai lầm. Nó không có nghĩa là một Samurai phải tự sát, nếu hắn vấp phải những sai lầm không đáng kể. Đúng ra, nó có nghĩa là một Samurai đã chọn một đời sống như vậy, hắn sẽ không hối tiếc khi phải chết. Bushido chỉ kêu gọi tự sát khi chúng ta vấp phải những sai lầm to lớn. Cái chết đến với một người bất kỳ lúc nào, không cần biết đến người đó đã sống một đời sống ra sao. Cái chết chỉ khác nhau ở ý nghĩa mà thôi.

Vậy là các bác đã nghe những lời gan ruột của 1 người lính trước 1 chuyến xuất quân cảm tử. Họ không điên cuồng để hủy hoại sinh mạng bản thân cùng sinh mạng kẻ địch như những kẻ khủng bố cuồng tín. Những người lính của quân đội Hoàng gia Nhật bản là như vậy. Biết sống cho xứng đáng, và biết chết chỉ khi cần phải chết.

Tôi biết nhiều người coi các phi công cảm tử của quân đội Thiên hoàng như những kẻ khủng bố cảm tử điên cuồng. Nhưng sự thực, họ rất yêu sự sống, họ muốn được sống xiết bao. Nhưng nhiều người trong số họ đã mổ bụng tự sát, vì họ ý thức rằng họ có trách nhiệm trong việc để cho Nhật bản bại trận. Bushido chỉ kêu gọi tự sát khi chúng ta vấp phải những sai lầm to lớn. Tự sát để đền nợ nước, tự sát vì "thà chết vinh còn hơn sống nhục".

Và đó là lý do khiến cho tôi hoàn toàn có thể cảm phục và tự hào khi mang biểu tượng của Biệt đội Thần Phong (Kamikaze) của quân đội Thiên hoàng trên Avatar của tôi.

Xin cám ơn tác giả Hara đã cho tôi 1 cái nhìn khác hẳn với những cái nhìn của các sử gia - một cái nhìn từ thân phận của 1 con người trong chiến tranh. Nó khác hẳn với những thông số kỹ thuật, những con số chết và thương vong khô khốc mà tôi đã từng đọc.

:good: đây là suy nghĩ của một bạn bên ttvnol và mình thấy rất đúng như mình nghĩ về Kamikaze. Các bác đã đọc qua Saburo Sakai và những trận không chiến dữ dội nhất Thái Bình Dương sẽ hiểu được tâm lý của họ và tinh thần của họ. Rất đáng khâm phục.
--------------------------------
2
Cuộc hành quân “Giai đoạn I” được ban lịnh vào ngày 7 tháng 11 năm 1941.
Hạm Đội Hổn Hợp nhanh chóng phân tán trong vòng trật tự. Khu trục hạm của tôi, với ba chiếc khác thuộc hải đội 6 lặng lẽ tiến vào quân cảng hải quân Kure. Nhưng tôi không biết các thành phần chính thuộc Đệ Nhất và Đệ Nhị Hạm Đội chạy về hướng Bắc, tụ họp ở Hitokappu Wan (Vịnh Tanaka) ở Kurite. Các thành phần nầy họp thành một lực lượng Đặc Nhiệm Nhật Bản (Lực Lượng Đặc Nhiệm có nghĩa là một lực lượng hải quân bao gồm chiến hạm mọi loại, hàng không mẫu hạm và thủy binh hoặc Thủy Quân Lục Chiến), một lực lượng vĩ đại nhứt chưa từng thấy bao giờ.
Các chiếc tàu của chúng tôi phải trãi qua một cuộc kiểm soát cẩn thận ở Kure. Những gì lặt vặt không cần thiết và những thủy thủ bịnh hoạn đều được lịnh mang lên bờ. Số thủy thủ khiếm khuyết nầy lập tức được thay thế. Chỉ có những sĩ quan chỉ huy mới biết rõ cuộc hành quân đang phát triển, riêng thủy thủ đoàn chỉ biết họ sẽ thực hiện một hải xuất huấn luyện ở Nam Thái Bình Dương.
Bộ Tư Lịnh Tối Cao bãi bỏ mọi đặc ân, đình chỉ tất cả phép tắc. Tôi đã được nghỉ phép lần cuối cùng hồi tháng 9, và tôi đã đáp chuyến xe lửa tốc hành 16 tiếng đồng hồ từ Kure về gia đình tôi ở Kamakura, một thành phố bờ biển gần Yokosuka. Nhưng chuyến đi dài dằng dặc đầy mệt mỏi đã được đền bù. Hai đứa con gái của tôi nhảy nhót chào đón ngày tôi về, hớn hở bên hai chị là Mikito, đứa con trai hai tuổi vừa biết nói của tôi. Tôi chỉ lưu lại nhà một ngày tròn. Đám con trẻ đã buồn bả khi tôi ra đi, chính tôi cũng buồn bã không kém gì chúng. Tôi ghì ghặt từng đứa một và nó: “Ba của các con sẽ sớm trở về”. Hy vọng gặp lại con trước khi “hành quân” đã không còn may mắn nào nữa.
Cuộc Hành Quân “Giai đoạn II” được ban lịnh vào ngày 21 tháng 11 năm 1941
Ngày kế đó, toàn thể Lực Lượng Đặc Nhiệm của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo đã tập trung đầy đủ trong Vịnh dầy đặc sương mù Ekorofu ở quần đảo Kurile. Vào ngày 23 tháng 11, tám khu trục hạm của hai Hải đội 16 và 24 âm thầm thoát ra khỏi cảng Kure và hướng mũi về eo biển Terashima. Bốn ngày liên tiếp, các giàn phóng thủy lôi và mọi loại vũ khí khác trên tàu chúng tôi đều trong tư thế sẵn sàng. Các bác sỹ bận rộn săn sóc, khám sức khỏe và chích thuốc cho thủy thủ đoàn.
Hai Hải đội của chúng tôi lại di chuyển khỏi eo biển Terashima và trực chỉ ra Thái Bình Dương vào lúc 6 giờ chiều ngày 26 tháng 11. Cùng thời gian nầy Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo cũng rời khỏi Vịnh Tankan và nhắm hướng Hạ Uy Di. Điểm đến của chúng tôi là Palau, một trong các hòn đảo Nam Hải thuộc quyền của Nhật Bản. Tất cả các sĩ quan chỉ huy đều được thông báo cho biết việc thành lập một Lực Lượng Đặc Nhiệm nhỏ ở Palau để tấn công đảo Mindano thuộc Phi Luật Tân, cùng lúc với cuộc tấn công Trân Châu Cảng.
Trên hải trình 2.000 dậm khởi từ Terashima, các công điện chuyển đi bằng vô tuyến của chúng tôi đều bị đình chỉ, kể cả Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo, nhưng các nhận viên nhận tin vẫn tiếp tục hoạt động. Khi các chiếc tàu của chúng tôi rời khỏi hải phận của Nhật Bản, chúng tôi nghe được một tin tức loan đi trên đài phát thanh: “Báo chí cho biết ngày 26 tháng 11, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Cordell Hull đã trao một công hàm cho hai vị Đại Sứ Nhật Kichisaburo Nomura và Saburo Kurusu. Theo sự hiểu biết, hình như Hoa Kỳ quyết định duy trì các cuộc hòa đàm.”
Vào ngày 28 tháng 11, chúng tôi nhận được một công điện từ Bộ Chỉ Huy địa phương chuyển đi: “Hai tiềm thủy đỉnh không rõ quốc tịch, nhưng có thể là của Hoa Kỳ, được ghi nhận di chuyển về hướng Bắc, thuộc hải phận phía Đông Đài Loan.”
Cuộc “Hành quân giai đoạn II” đã giao quyền cho các sĩ quan chỉ huy đưa ra các hành động đối nghịch chỉ khi nào xét ra tối cần thiết. Qua máy liên lạc nội bộ trên tàu, tôi truyền lịnh cho các sĩ quan phụ trách máy Sonar (dụng cụ khám phá tiềm thủy đỉnh): “Lưu ý! Lưu ý! Theo báo các các tàu ngầm địch có thể đang hoạt động gần đây.”
Tiếng đáp lại thật điềm tỉnh của một tay nghề nghiệp: “Tất cả sona đều thích hợp. Nếu phát hiện điều gì sẽ thông báo ngay.”
Ngày 1 tháng 12, truyền tin của chúng tôi bắt được công điện nầy: “ Sáu chiến hạm thuộc lực lượng Hải Quân Anh, bao gồm thiết giáp hạm “Prince of Wales” hiện đang trên đường sang Viễn Đông.”
Tất cả không khí căng thẳng đều chấm dứt khi hòn đảo Palau xanh rì nhô ra chân trời. Cùng ngày, lúc 1 giờ trưa, chúng tôi chạy vô hải cảng của hòn đảo nầy. Chỉ trong vòng năm ngày, khí hậu mùa Đông đã chuyển sang khí hậu mùa Xuân đối với chúng tôi. Bóng dừa rợp mát trên bãi biển là nơi trú ẩn đầy yên tỉnh và thoải mái. Nhưng tôi không hưởng cảnh nầy được lâu. Không khí ở hải cảng Palau căng thẳng. Nhiều tàu lớn chạy vào buông neo, trong số đó có cả những chiếc tàu chuyển vận. Các cuộc tập dượt của thủy thủ trên những chiếc tàu nầy vẫn tiếp tục. Bóng dáng của cuộc chiến tranh đã xuất hiện trong tầm tay.
Đứng trên đài chỉ huy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là đặt các điểm canh gác trên bờ, tuy nhiên sau đó tôi nhận thấy việc làm nầy vô ích, và tôi ra lịnh thả lỏng thủy thủ đoàn. Mọi người cũng được nhận chỉ thị tắm rửa sạch sẽ, lần đầu tiên chúng tôi có dịp tắm rửa kể từ ngày rời khỏi Kure một tuần trước đây. Lợi dụng dịp nầy, tôi cũng mang một số sĩ quan của tôi đi xem địa hình địa vật của hải cảng, và luôn tiện đi lang thang cho dản gân dản cốt. Chúng tôi cũng dùng xuống nhỏ ngao du đây đó, cả ngày lẫn đêm.
Buổi chiều ngày hôm sau, 2 tháng 12, chúng tôi nhận được một công điện “lịch sử” từ Tổng hành dinh Hạm Đội Hổn Hợp: “Niitaka Yama Nobore I.208”.
Câu tiếng Nhựt nầy có nghĩa đen: “Leo lên núi Nitaka (ngọn núi cao nhứt ở Đài Loan) I208”. Tôi đọc ngấu nghiến công điện nầy và cảm thấy hồi họp nhu lúc sắp dỡ xem các tài liệu đóng dấu tối mật. Nghĩa bóng của câu nầy: “ Cuộc chiến chống Đồng Minh sẽ được phát động vào ngày 8 tháng 12.”
Ngay sau đó, tất cả các Hạm Trưởng được lịnh của Đề Đốc Raizo Tanaka, tập họp quanh ông để lãnh các chỉ thị tấn công Davao. Trong lời nói vắn tắt, Tanaka, thường lập đi lập lại câu: “Các anh phải nhớ rằng cuộc hòa đàm vẫn còn tiếp tục ở Hoa Thịnh Đốn. Chúng ta phải chuẩn bị để nhận một công điện đình chỉ toàn thể cuộc hành quân không biết gởi đến vào lúc nào, nếu cuộc hòa đàm đạt được kết quả. Sau đó, chúng ta chỉ còn một việc để làm: quay tàu trở về Nhật Bản.”
Tôi lên tiếng: “ Thưa Đề Đốc, ở đây, Palau chỉ cách phía Đông căn cứ then chốt Davao của Hoa Kỳ 500 dậm, và chỉ cách Đông Nam căn cứ hải quân quan trọng khác của họ là Guam 700 dậm. Với khoảng cách khá gần như vậy, một số tàu chiến của chúng ta tụ họp ở đây, thì thế nào Hoa Kỳ cũng phái các tiềm thủy đỉnh của họ theo dõi chúng ta. Chúng ta hành động như thế nào, nếu chúng ta chạm mặt với các tàu ngầm nầy.?”
Tanaka đáp: “Chúng ta buộc phải đánh, đánh chìm, cho dù giai đoạn II của cuộc Hành Quân chỉ cho phép chúng ta đưa ra các hành động thù nghịch khi nào gặp trường hợp tối cần thiết.”
Cuộc họp chấm dứt, các Hạm Trưởng lặng lẽ trở về tàu của họ. Nhưng không khí lặng lẽ nầy khó mà duy trì được trong tình trạng hiện tại. Sự hiểu biết về năng lực chiến đấu của Đồng Minh khiến tôi vẫn bi quan, và tôi cũng nhận thấy kế hoạch được đưa ra hình như có vẻ gì không thật. Tôi chờ đợi, có thể làm mong mõi, cuộc hành quân nầy cuối cùng sẽ được lịnh chấm dứt. Một câu trong binh thơ Tôn Tử lảng vảng trong trí tôi: “Một vị chỉ huy vỉ đại thật sự là vị chỉ huy chiến thắng địch quân mà không phải dụng binh.”. Tôi không ngờ rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhật đã xem công hàm ngoại trưởng Hull trao ngày 1 tháng 12 có tánh cách như tối hậu thơ đòi hỏi Nhật đầu hàng trước khi chiến đấu, và vì vậy Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã quyết định khai chiến với Hoa Kỳ.”
Suốt 3 ngày, từ 3 đến 5 tháng 12, chúng tôi tập dượt ráo riết trong vòng hải cảng, và cuối cùng các chiến hạm đều được xem xét lại tỉ mỉ, tất cả những gì không cần thiết được mang lên bờ.
Lúc 1 giờ 30 khuya 6 tháng 12, sáu khu trục hạm của chúng tôi và một tuần dương hạm rời khỏi hải cảng rộng lớn Palau. Chúng tôi được giao phó nhiệm vụ “tẩy sạch” tiềm thủy đỉnh của địch quân để dọn đường cho một hàng không mẫu hạm và hai tuần dương hạm hạng nặng đến Mindanao. Nhiều chuyển vận hạm vẫn nằm chở trong hải cảng Palau để tham dự vào các thành phần tấn công khác nhằm vào Phi Luật Tân và quần đảo East Indie (một nhóm đảo nhỏ ở Thái Bình Dương) thuộc Hòa Lan.
Với đội hình hàng dọc, chúng tôi rời khỏi hải cảng Palau, hướng về phái Tây một đỗi và sau đó đổi sang đội hình “cài răng lược” lướt ngang mặt biển với các máy dò tìm tàu lặn. Không có dấu vết đáng lưu ý, cho đến 4h chiều ngày đầu tiên, sĩ quan sonar mới báo động:
“Hình như có một tiềm thủy đỉnh ở 60 độ hữu mạn, cách 2500 thước.”
Tôi cho chiếc tàu hướng đến mục tiêu và ra lịnh: “Chuẩn bị phóng chất nổ ngầm!” Đồng thời, chiếc tàu của tôi rít một hòi còi dài và các cây cờ ám hiệu ABX (có nghĩa là “chúng tôi tấn công với chất nổ ngầm”, được kéo lên, để lưu ý các chiến hạm bạn biết hoạt động của chúng tôi.
Sĩ quan sonar lại báo cáo: “Mười độ tả mạn, cách 2000 thước. Âm thanh bắt được chắc chắn là của tiềm thủy đỉnh”.
Tôi điều chỉnh hướng tiến của Amatsukaze, và gia tăng tốc độ lên 12 hải lý. Nhìn quanh, tôi thấy tất cả các thuộc cấp đều sẵn sàng và họ chỉ chờ chỉ thị của tôi là hành động. Sĩ quan sonar tiếp tục báo cáo các giác độ và khoảng cách khi chúng tôi dần đến mục tiêu. Tôi bị căng thẳng và nổi hứng thú của một tên thợ săn bò sát lại con mồi. Khi chiếc tàu tiến đến khoảng cách vừa vặn để tấn công, tôi biết giây phút quyết định đã đến. Tôi la to: “Gia tăng tốc độ 21 hải lý”. Chất nổ ngầm chỉ có thể được thả sau khi một chiếc khu trục hạm gia tăng tốc độ, vì nếu không làm như vậy thì chính chất nổ được thả xuống sẽ hủy diệt chiếc tàu. Nhưng ngay giây phút cuối cùng để ban lịnh “dứt điểm”, miệng tôi bỗng nhiên cứng lại. Thay vào đó, tôi la to: “Đình chỉ thả chất nổ! Đình chỉ thả chất nổ!”.
Đó là một trong những quyết định quan trọng nhứt mà tôi đã đưa trong suốt cuộc chiến. Hành động của tôi vào lúc đó chắc khó ai hiểu được, và người ta sẽ nghĩ là tôi đã cải lịnh trên.
Quyết định của tôi căn cứ trên những lý lẽ sau đây: Không 0 giờ (tức giờ tấn công) được đặt ra vào ngày 8 tháng 12, nghĩa là còn 2 ngày nữa. Chiếc tàu ngầm chưa tỏ dấu hiệu nào gọi là thù địch. Ngay cả khi nhận được báo cáo khám phá tàu ngầm, tư tưởng của tôi đã xung đột dữ dội. Tôi xem hòa bình là trọng, vì vậy ý nghĩ đầu tiên thoáng qua đầu tôi, là với hành động hiện tại của tôi có thể khiến cơ hội tiến đến hòa bình đổ vỡ. Hơn nữa, thái độ của tôi lúc đó là sự cân nhắc có tánh cách chiến thuật. Tấn công mục tiêu ngầm không phải đạt được kết quả dễ dàng, đặt biệt khi mục tiêu đã có sự đề phòng trước. Nếu mục tiêu thoát khỏi cuộc tấn công, kết quả sẽ hoàn toàn trái ngược. Nói một cách khác, nếu chiếc tàu ngầm không bị hủy diệt, nó sẽ thông báo về bản doanh và mọi tàu chiến của Hoa Kỳ sẽ được báo động để tung ra một cuộc phản công. Khi một người đã có sự lưỡng lự trước một quyết định như thế, như tôi đã từng rút kinh nghiệm qua các buổi diễn tập, chắc chắn người đó sẽ không bao giờ bắn trúng mục tiêu. Vì vậy, tôi đã ra lịnh đình chỉ ngay cuộc tấn công.
Lúc ấy từ tuần dương hạm Jintsu 5950 tấn, Đề Đốc Raizo Tanaka đang theo dõi tôi. Ông không hề hỏi tôi về hành vi kỳ dị của tôi ngày hôm đó. Có lẽ ông đã hiểu và chia xẻ cảm nghĩ của tôi.
Sau khi chấm dứt cuộc săn đuổi chiếc tàu ngầm, khu trục hạm của tôi quay về nhập bọn với các chiến hạm khác. Lúc đó hàng không mẫu hạm Ryuji, với hai tuần dương hạm hạng nặng và hai khu trục hạm, rời khỏi Palau đến kết hợp với chúng tôi. Lực Lượng Đặc Nhiệm gồm 12 chiến hạm bây giờ di chuyển theo đội hình hàng dọc, với tốc độ 18 hải lý trực chỉ về phía Tây. Chúng tôi đã sớm ra ngoài đại dương bao la, đất liền đã biến mất khỏi tầm mắt và ngoài chúng tôi không còn bóng dáng chiếc tàu nào khác nữa. Từng đoàn cá heo hết lượt nầy đến lượt khác đuổi theo tàu chúng tôi, nhưng ngoài các sinh vật nầy, trước mắt chúng tôi chỉ có trời và nước.
Tôi ra lịnh tập hợp thủy thủ đoàn trên sàn tàu và cho họ biết nơi đến và nhiệm vụ của họ. Tất cả đều không có một phản ứng nào khi nghe tin nầy khiến tôi kinh ngạc. Hiển nhiên là họ đã đoán biết chuyến đi sau khi được huấn luyện đặc biệt.
Sĩ quan và thủy thủ trở lại phận sự của họ. Tôi ngồi trên đài chỉ huy chăm chú nhìn Davao và ngoại cảnh của nó trên bản đồ. Chiếc tàu lặng trang và đại dương im lìm. Đêm tối dần và tất cả đều yên bình. Đoàn tàu lướt đi âm thầm, đèn đuốc đều được lịnh tắt hết.
“Thưa Hạm Trưởng, có một công điện…”
Tôi xoay người sang một thủy thủ chạy việc. Thủy thủ Takeo Murata 18 tuổi, phục vụ trên tàu chỉ một tháng nay. Anh ta là một trong những người đã thay thế các thủy thủ đau yếu. Murata chào tôi và đứng nghiêm.
Tôi nói: “Cám ơn Murata” và mở mảnh giấy anh ta vừa trao. Tôi cảm thấy phấn chấn khi nghĩ mảnh giấy nầy sẽ chứa đựng phản lịnh của cuộc hành quân đang diễn tiến. Nhưng đó chỉ là một tin tức tình báo.
“Một tàu chở thủy phi cơ cùng một lớp với loại tàu Bristol và một khu trục hạm Hoa Kỳ bỏ neo ở hải cảng Davao lúc 6 giờ chiều ngày 6 tháng 12.”
Tôi thở dài và tiếp tục nhìn đại dương đen thẩm.
“Thưa Hạm Trưởng, một công điện…” Murata lại xuất hiện, mồ hôi nhỏ giọt trên khuôn mặt non chẹt của anh ta. Anh ta phải chạy từ phòng truyền tin lên đây. Một gã được việc! Tôi bổng nghe buồn bã, không ngờ gã con nít nầy lại đang chia sẽ vận mạng của cuộc chiến với những người đáng cha anh.
Nội dung công điện: “Không có tàu nào của địch quân được phát hiện ở Legaspi lúc 7 giờ tối ngày 6 tháng 12.” Hia công điện kế tiếp là mẫu tin báo chí: “Hai vị Đại Sứ Nomura và Kurusu đã trao cho Ngoại Trưởng Hull và Tổng Thống Roosevelt một đề nghị được xem là cuối cùng…” và Phát Ngôn Viên của Bộ Ngoại Giao Nhựt hôm nay cho biết tàu chở hành khách Tatsuta Maru, đã rời Yokohama tuần rồi để đến Los Angeles, vừa được chỉ thị ghé thăm viếng Mễ Tây Cơ. Hiện tại tàu này đã sắp xếp ngày đến Los Angeles là ngày 14 tháng 2, và sẽ rời khỏi nơi đây vào ngày 16 tháng 2 để đến Manzanillo vào ngày 19…”
Chắc chắn không có chứng cớ nào cho thấy cuộc chiến đang chuyển động qua các diễn biến vừa nới. Nhưng có ai ngờ rằng chiếc tàu Tatsuta Maru sẽ được lịnh quay về Nhật Bản 30 tiếng đồng hồ sau đó?
Ngày hôm sau, 7 tháng 12, vẫn là một ngày yên tĩnh như thường lệ. Chỉ có mạch máu của tôi là bị căng thẳng do các công điện như loại đã nhận được vào đêm trước. Đêm thứ hai trên đại dương, kim đồng hồ của tôi chỉ đúng nửa đêm, và ngày ló dạng, nhưng không có một lịnh phản hành quân nào được gởi đến. Chúng tôi vẫn còn cách xa tuyến xuất phát cuộc tấn công, cách phía Đông mũi San Augustin 50 dậm và phía Đông Davao 100 dậm.
Tôi bổng nghe mệt mõi sau hai ngày và hai đêm ngồi trên đài chỉ huy, nên sau khi giao quyền chỉ huy cho Đại úy Toshio Kayama, hoa tiêu trưởng trẻ tuổi nhưng đầy đủ khả năng của tôi, tôi đã thiếp ngủ trên ghế ngồi. Những hạt nước giá lạnh đã đánh thức tôi dậy khi đoàn tàu của chúng tôi chạy vào vùng mưa bảo mù mịt trên đại dương đen thẩm. Lúc ấy là 3 giờ 30 sáng của ngày D, tức ngày 8 tháng 12 năm 1941. Ngủ thiếp trong giờ khắc quan trọng thế này quả là ngu ngốc biết bao! Tôi tự rủa thầm và gọi phòng truyền tin mang lên cho tôi các công điện mới. Không có công điện nào hết. Cơn mưa bão lướt qua, và cơn buồn ngủ của tôi lại kéo đến. Tôi lấy làm tức giận, vì như thế làm sao tôi còn đủ sáng suốt để theo dõi cuộc chiến trên đà bùng nổ.
Vào bình minh, khoảng 5 giờ sáng, hai mươi oanh tạc cơ hạng nhẹ và chiến đấu cơ cất cánh từ hàng không mẫu hạm Ryujo. Bây giờ chúng tôi đã ở ngay tuyến xuất phát cuộc tấn công, nghĩa là cách phía Đông mũi San Augustin 50 dậm và phía Đông Davao 100 dậm. Hình ảnh của các phi cơ Nhật đã khiến tôi tỉnh táo và phấn khởi. Bao nhiêu cảm giác thiếu nồng nhiệt của tôi đối với cuộc chiến sắp xảy ra, bây giờ, đứng trên đài chỉ huy của khu trục hạm Amatsukaze, tôi thấy đã tan biến, và tôi cương quyết dứt khoát thi hành các mạng lịnh được đưa ra.
Sau khi các phi cơ của Ryujo xuất phát, các khu trục hạm Hayashio, Kuroshio và Oyashio rời bỏ đội hình di chuyển cũ, gia tăng tốc độ lên 30 hải lý, chạy hướng về phía trước để tham dự một cuộc tấn công phối hợp nhằm vào các lực lượng Hoa Kỳ ở Luzon. Tám chiếc còn lại, một chiếc rẽ về phía Đông, một chiếc rẽ về phía Tây, cách 1500 thước, và giữ đội hình bất thường nầy để chờ đợi các phi cơ của hàng không mẫu hạm Ryujo trở về.
Ryujo là hàng không mẫu hạm duy nhứt sử dụng trong cuộc hành quân Phi Luật Tân. Nguyên trước đó tàu nầy được dự định phối hợp với 2 hàng không mẫu hạm biến cải khác vào cuộc tấn công Luzon, nhưng vì khả năng chở phi cơ của chúng quá giới hạn, thành thử cuối cùng có quyết định sử dụng phi cơ ở phi trường Formosa cho cuộc tấn công nầy. Do đó, Ryujo đến Palau và hai hàng không mẫu hạm kém khả năng hơn quay về trở về Nhật.
Ánh nắng mặt trời lúc ẩn lúc hiện trên đại dương. Gió đứng hẳn. Chúng tôi ướt đẩm mồ hôi sau bốn tiếng rưởi đồng hồ chạy tới chạy lui trên biển. Mười chính chiếc phi cơ trở về hàng không mẫu hạm Ryujo lúc 9 giờ 30. Chiếc thứ 20, một oanh tạc cơ, bị trục trặc máy móc và đâm chúi xuống biển. Sau đó, chúng tôi nghe tin phi hành đoàn của chiếc phi cơ nầy đã được khu trục hạm Kuroshio cứu thoát.
Cuộc tấn công Davao của lực lượng đặc nhiệm hoàn toàn thất bại. Phi cơ và khu trục của chúng tôi đã chui đầu vào cái túi rỗng. Hai tàu chiến của Hoa Kỳ, bỏ neo tại hải cảng theo báo cáo, đã biến mất trước khi lực lượng của chúng tôi đến. Chỉ có hai thủy phi cơ của Hoa Kỳ bỏ lại trên bãi biển và bị máy bay của chúng tôi xạ kích hủy diệt. Sau đó, máy bay của chúng tôi quần trên không phận Davao hơn hai tiếng đồng hồ, nhưng không gặp một phi cơ của Hoa Kỳ nào cất cánh từ phi trường này hoặc bất kì phi trường khác để nghinh chiến. Đó là một cuộc hành quân kì quái nhất.
Thái độ của lực lượng Hoa Kỳ ở Davao ngày hôm đó vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Dù thái độ của lực lượng Hoa Kỳ như thế nào, ít ra họ cũng phải báo cáo cho Tổng Hành Dinh của họ biết về cuộc tấn công mạnh mẻ của chúng tôi. Nhưng Tổng hành dinh của Hoa Kỳ ở Manila đã tọa thủ bàng quang, và ngay cả cuộc tấn công phi trường Clark ròng rã suốt bốn tiếng đồng hồ của các phi cơ Nhật xuất phát từ Formosa, tiếp liền sau cuộc tấn công Davao của chúng tôi, họ cũng chẳng cho bất kì một máy bay nào của họ cất cánh để chống trả lại.
Sự thiếu chuẩn bị của Không Lực Hoa Kỳ ở phi trường Clark vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Như Louis Morton viết trong cuốn The Fall of Philippines (Phi Luật Tân thất thủ): “ Tất cả các lực lượng Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đều biết cuộc tấn công Trân Châu Cảng nhiều tiếng đồng hồ trước đó khi các oanh tạc cơ Nhật xuất hiện trên không phận Luzon. Cuộc tấn công Davao là dấu hiệu cho thấy Nhật quyết ý đập tan các hải đảo có căn cứ không quân quan trọng của Hoa Kỳ tọa lạc, và cuộc tấn công Luzon ngay buổi sáng cùng ngày cho thấy rõ quyết ý nầy của Nhật. Theo lời của Đại Tá Campbell, phi trường Clark đã nhận được tin phi cơ Nhật sẽ đến trước khi xảy ra cuộc tấn công. Đại tá Euband lại nói rằng việc biết trước nầy không hề có. Một số sĩ quan khác lại cho biết các hệ thống liên lạc đều gián đoạn trong suốt thời gian nguy cấp nầy. Qua những chi tiết trái ngược do các nhân chứng cung cấp, vấn đề trên vẫn còn nằm trong vùng tăm tối…”. Tám năm sau biến cố, tướng Arnold đã viết rằng: “ ông chưa bao giờ nhận được câu chuyện thật ở Phi Luật Tân. Nhưng các kết quả của cuộc tấn công ai ai cũng đồng ý: 18 trong tổng số 35 chiếc B17, oanh tạc cơ chiến đấu tối tân của Hoa Kỳ vào thời đó bị hủy diệt, 35 chiếc P40, 3 chiếc P35, khoảng 30 phi cơ quan sát mọi loại và nhiều oanh tạc cơ hạng nhẹ cũng bị thiệt mất.” Như vậy, “sau một ngày của cuộc chiến” Morton viết, “với năng lực bị cắt hết phân nữa, Không Lực Viễn Đông của Hoa Kỳ không còn được xem là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu nữa.”. Thiệt hại của Nhật Bản: 7 chiến đấu cơ.
Tuần dương hạm Jintsu và khu trục hạm Hatsukaze và chiếc tàu của tôi rời lực lượng đặc nhiệm để hướng đến cửa vịnh Davao kết hợp với bốn khu trục hạm vừa trở về sau chuyến đi không kết quả. Tất cả các tàu gặp nhau vào lúc 2 giờ. Tôi đã sửng sốt khi nghe đài phát thanh công bố kết quả vượt mức của hai cuộc tấn công ở Trân Châu Cảng và phi trường Clark. Không thể nào ngờ được đó là sự thật hoàn toàn.
Tuy nhiên, tôi tỉnh táo ngay do sự xuất hiện của một oanh tạc cơ B24. Chiếc phi cơ bay cao khoảng 30.000 bộ và hình như đã phát hiện các chiếc tàu của chúng tôi. Đề đốc Tanaka quyết định thi hành kế nghi binh trước khi kết hợp với hàng không mẫu hạm Ryujo, nhằm đủ ngăn ngừa oanh tạc cơ Hoa Kỳ khám phá ra sự hiện diện của hàng không mẫu hạm nầy. Chúng tôi đổi hướng 180 độ và chay với tốc độ 18 hải lý một giờ, sau đó đổi hướng 90 độ và gia tăng tốc lực lên 21 hải lý, trước khi xoay trở lại 60 độ để gặp gỡ Ryujo.
Chiếc B24 vẫn bay trên đầu, nhưng không có ý định tấn công, và cuối cùng chiếc phi cơ mất dấu các tàu của chúng tôi trước khi chúng tôi hướng về vị trí sơ khởi. Chiếc oanh tạc cơ nầy là một bí ẩn khác đối với chúng tôi. Không sao biết được nó xuất phát từ đâu và định làm gì?
Vào lúc chúng tôi trở lại phía Đông San Augustin 50 dậm, tôi và Hạm Trưởng khu trục hạm Hatsukaze nhận được lịnh mới. Theo đó, chúng tôi chay đến Legaspi để kết hợp với tuần dương hạm Nachi và Myoko luc đó đang di chuyển phía trước chúng tôi. Hàng không mẫu hạm Ryujo và hai khu trục hạm hộ tống đã hướng về Palau, và soái hạm Jintsu của đề đốc Tanaka cùng bốn chiếc khu trục hạm chạy tiếp sau.
Tôi ở trong hải phận Legaspi một tuần lễ với nhiệm vụ tuần tiểu và chống lại các tàu ngầm cũng các tàu trên mặt bieetn mang quân tăng viện của Hoa Kỳ. Không thấy gì hết, nhiệm vụ thật đáng chán, nhưng tất cả chúng tôi đều biết sự giữ gìn khu vực hậu phương nầy rất quan yếu, có tánh cách hổ trợ cho cuộc hành quân đổ bộ chánh của Nhựt ở Luzon.
Trong khi thi hành nhiệm vụ nầy, khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ 5 giờ 10 chiều ngày 9 tháng 12, thích thú duy nhứt của tôi là hiệu thính viên theo dõi một công điện đánh đi từ tiềm thủy đỉnh I65 báo cáo việc phát hiện hai chiến hạm Anh Quốc đáng hướng mũi về đoàn tàu chuyển quân đổ bộ của Nhựt đến Mã Lai Á. Sau đó, truyền tin của tôi chuyển đến các báo cáo tin tức về cuộc tấn công của Nhựt chống lại thiết giáp hạm Prince of Wales và tuần dương hạm Repulse của Anh. Mồ hôi đổ như tắm khi tôi đọc hết công điện này sang công điện khác liên quan đến cuộc tấn công cách tàu của tôi 1.000 dậm nầy.
Thoạt đầu cuộc tấn công đã gây cho tôi cảm giác phức tạp. Đó là cảm giác lẫn lộn kính nể và cảm phục mức độ dàn trận nhanh chóng của hải quân Anh, đồng thời tôi bổng thấy hăng hái chiến đấu và mong muốn thử sức ngay với kẻ thù. Nhưng ý nghĩ tham dự vào trận đánh diễn ra chỉ có tánh cách ước muốn thuần túy, vì tôi không thể nào rời bỏ nhiệm vụ riêng ở đây.
Khi các báo cáo sơ khởi của cuộc tấn công vào các tàu chiến Anh được gởi đi, tôi đã quan tâm rất nhiều. Lúc đó Nhựt chỉ có một khu trục hạm và hai thiết giáp hạm trong hải phận Mã Lai Á. Đó là hai chiếc Haruna và Kirishima, cả hai đều 27.500 tấn. Được đóng năm 1912 và 1913, đó là hai chiến hạm nhiều tuổi nhứt còn hoạt động trong Hải Quân Hoàng Gia. Tôi đã nghĩ hai chiếc tàu nầy không thể chịu đựng nổi bất kì một va chạm nhỏ nào với thiết giáp hạm Prince of Wales “không thể chìm” và Repulse “võ trang tận răng” của Anh Quốc.
Trận bão “công điện” từ vùng phụ cận Mã Lai Á thổi đến hổn loạn. Đề Đốc Shintaro Hashimoto (Tư Lịnh phân đội 3 khu trục hạm) báo cáo rằng các chiến hạm của ông gặp khó khăn khi chạm trán sơ khởi với các chiến hạm Anh. Tiềm thủy đỉnh I62 lúc 4 giờ 30 sáng qua báo cáo thứ 10 cho biết đã mất dấu hai chiến hạm Anh vì gặp phải mưa bão dữ dội. Sau đó, liên lạc vô tuyến dẫm chân lên nhau, và các hệ thống truyền thanh cũng nghe không rõ.
Điều đáng lấy làm lạ là lúc ấy không có một chiến hạm nào của Hoa Kỳ xuất trận để chống lại chúng tôi ở Phi Luật Tân. Hiện thời chỉ có hải quân Anh quần thảo với chúng tôi trên tất cả các hải phận trong khu vực. Bầu trời bổng nhiên quang đang vào lúc 2 giờ trưa, và chúng tôi bắt được công điện nầy: “Không có phi cơ hộ nào được nhìn thấy bay trên các tàu chiến Anh.”. Sau đó thêm nhiều công điện dồn dập cho biết diễn tiến của cuộc tấn công:
“ Không đoàn 22 (Nhựt) oanh tạc thiết giáp hạm địch lúc 2 giờ 20.”
“ Thiết giáp hạm địch bị trúng thủy lôi do phi cơ thả xuống lúc 2 giờ 30.”
“ Thủy lôi của phi cơ trúng trực tiếp vào tuần dương hạm địch lúc 2 giờ 4, và hiện chiếc tàu này nghiêng hẳn về tả mạn.”
“ Một trong năm khu trục hạm địch bốc cháy.”
“ Một thiết giáp hạm địch nổ tung và chìm lúc 2 giờ 50.”
Bây giờ tôi ngơ ngác, không tin những gì đã xảy ra. Phi cơ Nhựt đã đánh chìm hai chiếc Prince of Wales và Repulse!
Tôi không bao giờ tin tưởng thành công của cuộc tấn công Trân Châu Cảng là do khả năng hoàn toàn của không quân, bởi vì lúc ấy địch quân bị đánh trong lúc bất ngờ. Trong tư cách một chuyên viên khu trục hạm, cái nhìn của tôi quá hạn hẹp. Nhưng bây giờ tôi thật sự xúc động qua chiến thắng mà tôi đang theo dõi. Tôi không ngờ khả năng của phi cơ Nhựt đã đạt đến mức ấy.
Nhưng sự cố chấp của tôi vẫn không thay đổi, ngay cả sau trận đánh ngoạn mục Mã Lai Á, với niềm tin bị lung lay chút ít của tôi. Tôi tin rằng hoạt động của phi cơ thường bị vấn đề thời tiết gây trở ngại, các tàu chiến vẫn phải giữ vai trò then chốt, bất chấp mọi thời tiết. Vì đó, trong khi tôi bắt buộc phải tin phi cơ đã đóng một vai trò quan trọng trong chiến tranh, tôi vẫn bướng bỉnh cho rằng các khu trục hạm mới thực sự giải quyết các trận đánh trên mặt biển.
Sự bướng bỉnh nầy có thể là một thái độ tốt, vì nó gây cho tôi niềm tin đặt vào các khu trục hạm, khiến tôi càng thêm cố gắng “ghi điểm chiến thắng” trong cuộc chiến Thái Bình Dương, và vẫn còn sống sót sau nhiều trận đánh dữ dội nhứt.

sakaifan
11-23-2009, 08:08 PM
3
Vào ngày 15 tháng 2, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt hài lòng về diễn tiến êm đẹp của cuộc hành quân đổ bộ ở Luzon, và xét thấy không cần thiết phải duy trì các cuộc tuần tiểu ở hải phận Legaspi nữa nên đã ra lịnh cho các tàu của chúng tôi trở về Palau. Một cuộc phản công của Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đã bị chặn đứng vào thời gian đó. Trong khi lấy nhiên liệu ở Palau, chúng tôi được lịnh hộ tống các tàu chuyển vận đổ bộ lên Davao.
Bảy giờ sáng ngày 17 tháng 12, một đoàn tàu chia ra làm 3 nhóm chuyển vận một trung đoàn bộ binh rời khỏi Palau. Bảy khu trục hạm và hai tuần tiểu đỉnh nhỏ giữ nhiệm vụ hộ tống. Trong chiếc tuần dương hạm Jintsu, Đề đốc Tanaka chỉ huy cuộc hành quân.
Bốn mươi lăm phút sau khi rời khỏi Palau, lúc đang đứng trên đài chỉ huy, nhân viên sonar của tôi báo cáo phát hiện một chiếc tiềm thủy đỉnh cách 2000 thước ở 90 độ hữu mạn. Sự phát hiện nầy giống như những gì đã xảy ra vào “Ngày X”. Bây giờ thì không còn sự lượng lự nào nữa. Chúng tôi tiến đến cách mục tiêu 1000 thước, gia tăng tốc độ lên 21 hải lý, thải xuống 6 trái thủy lôi nổ ngầm, đoan xoay hướng 230 độ và thả thêm sáu trái nữa. Các thủy lôi bùng nổ cách tàu 30 thước. Chúng tôi quan sát mặt nước, không có chứng cớ nào cho thấy cuộc tấn công của chúng tôi có hiệu quả. Tôi cho khu trục hạm của tôi chạy lên phải của nhóm tàu chuyển vận thứ hai và giữ vị trí hộ tống như cũ. Đoàn tàu chạy với tốc độ 10 hải lý theo hình chữ chi.
Vào lúc 1 giờ trưa cùng ngày, khu trục hạm Kuroshio chạy ở phía phải của nhóm thứ nhứt báo cáo: “Phát hiện tiềm thủy đỉnh địch quân. Phối hợp với phi cơ tuần thám, chúng tôi đã tấn công chiếc tàu với thủy lôi nổ ngầm. Một khoảng dầu rộng lớn nổi lên mặt nước. Chúng tôi xem như tiềm thủy đỉnh đã bị đánh chìm.”
Công điện nầy đã gây sự “đố kỵ” cho chúng tôi trên chiếc Amatsukaze. Tôi lặng lẽ trao công điện cho các sĩ quan của tôi xem. Họ kêu lên một cách thất vọng. Trước bình minh ngày 20 tháng 12, đoàn tàu tiến vô Vịnh Davao mà không gặp sự ngăn chặn của phi cơ hoặc chiến hạm nào của địch quân. Một cuộc hành quân đổ bộ không phải mới mẻ đối với tôi. Cách năm năm trước đây tôi đã từng nếm mùi hỏa lực của địch quân ở Thượng Hải. Trong cuộc hành quân ở Davao nầy, chúng tôi được lịnh không nổ súng, trừ phi bị thách thức. Chúng tôi muốn chiếm Davao mà khỏi phải đụng chạm và càng ít sự hủy diệt càng tốt. Hai nhóm tàu đã đổ quân một cách thành công.
Các tàu hộ tống chạy chầm chậm trong vòng hải cảng yên tỉnh và hiền hòa. Từ chiếc Amatsukaze, một trung đội của chúng tôi xuống một chiếc cano, đảm trách nhiệm vụ giải giới và bắt giữ tất cả các tàu buôn nhỏ đang đậu trong hải cảng. Nhưng khoảng vài phút sau, 200 địch quân thình lình xuất hiện trên bến tàu và xả súng bắn vào trung đội của chúng tôi đang đi trên chiếc ca nô. Một số thủy thủ bị trúng đạn.
Tôi hét: “ Các pháo khẩu tả mạn khai hỏa”. Câu này giống như tôi đã hét trong cuộc đổ bộ Thượng Hải. Một sự lập lại đần độn mà chính tôi phải rủa thầm.
Sáu khẩu trọng pháo 122 ly xoay nòng và khai hỏa. Không một quả đạn nào trúng ngay vào địch quân chỉ cách 2000 thước, nhưng họ vẫn phân tán và bỏ chạy. Chúng tôi bắn đuổi theo cho đến khi không còn thấy bóng dáng một địch quan nào.
“Ngừng bắn!” tôi ra lịnh. Nhưng một quả đạn đã bay ra khỏi nồng súng và một chiếc tàu dầu đậu cách bờ 50 thước bị trúng đạn bùng cháy.
Diễn biến cuộc hành quân nầy khác xa sư hy vọng của tôi. Tôi đã lâp lại một số lỗi lầm vụng về. Tôi không còn làm một chuyên viên khu trục hạm hàng đầu nữa, nhưng là một gã thấp trí và ngu dốt.
Lúc đó, chiếc ca nô trở về với một xác chết. Ngày hôm sau, tôi thi hành đủ lễ tống táng cho Trung Sỹ Tsuneo Horie, thủy thủ đầu tiên của tôi ngã xuống trong cuộc chiến. Chiếc tàu dầu cháy suốt ba ngày ba đêm.
Sau cuộc đổ bộ, chúng tôi bận rộn suốt cả tuần với công việc giải thoát các cư dân trong Nhựt khu vực. Rất may là chỉ có một vài người Nhựt đã bị tập trung ngay khi bắt đầu cuộc chiến.
Không lâu trước đó, các báo cáo thương vong trên một số khu trục hạm khác đã đến chúng tôi. Các khu trục hạm nầy tham dự hành quân ở đảo Wake, tỏ ra còn tồi tệ hơn những gì chúng tôi đã làm ở Davao. Vào ngày 11 tháng 12, khu trục hạm Kisaragi bị các phi cơ của hải quân Hoa Kỳ đóng ở Wake đánh chìm. Cùng ngày, khu trục hạm Hayate, một đồng đội cảu Kisaragi, cũng bị các pháo đội phòng duyên của Hoa Kỳ triệt hạ. Làm sao mà hai chiếc tàu này lại vụng về như vậy.
( Chiếc Kisaragi, 1400 tấn đóng năm 1924 đã tham dự vào Lực Lượng Đặc Nhiệm tấn công Trân Châu Cảng, bị bốn chiến đấu cơ F4F Wildcat từ đảo Wake tấn công bằng bơm 50kg, một trong bốn quả thả trúng sườn phần nằm chìm dưới nước và nổ tung bên dưới tàu và chìm cấp kì, trước đó vài giờ chiếc Hayate, một khu trục hạm 1400 tấn đóng cùng thời với Kisaragi nhưng không cùng lớp, bị các khẩu pháo phòng duyên 127 ly của Hoa Kỳ trên đảo Wake bắn hạ, Hayate trúng 2 phát và chìm với 168 thủy thủ đoàn.)
Nhưng tôi biết còn nhiều chiến hạm khác vụng về hơn khu trục hạm Shinonome chạm phải một trái mìn và chìm ở Miri, Borneo. Báo cáo không thể xác định loại mìn mà chiếc tàu nầy chạm phải là của Nhựt hay của Hòa Lan.
Vào ngày 24 tháng 12, tôi muốn nổi khùng khi nghe tin khu trục hạm Sagiri bị một tiềm thủy đỉnh tấn công bằng thủy lôi và cũng chìm gần Borneo. Đúng là một con mèo bị một con chuột nuốt. Sau đó chúng tôi biết được chiếc tiềm thủy đỉnh đạt được chiến công này là chiếc K16 của Hòa Lan.
(Hai khu trục hạm Shinonome và Sagiri cùng lớp Fubuki, trọng tải 2000 tấn, chiếc Shinonome chạm phải mìn và chím với tất cả thủy thủ đoàn. Chiếc Sagiri bị trúng thủy lôi từ tiềm thủy đỉnh KXVI của Hòa Lan và chìm với 121 người thuộc tiềm thủy đỉnh đoàn, 120 người sống sót được khu trục hạm “đàn chị” Shirakumo cứu thoát)
Nhưng tin khu trục hạm Kuroshio thuộc phân đội của tôi đã thành công trong việc đánh chìm một tiềm thủy đỉnh của địch quân đã gây phấn khởi và gở thể diện cho chúng tôi phần nào. Nhưng ngày 23 tháng 12, chiếc tàu nầy đã “ngủ quên” và bị một chiếc phi cơ xuất hiện thình lình tấn công. Rõ ràng Kuroshio không tin là có phi cơ Đồng Minh hoạt động quanh quẩn khu vực. Chiếc phi cơ, một pháo đài B17, xà xuống dội một loạt bom, và một trong những trái bom đã trung ngay chiếc tàu gây nhiều thương vong.
Câu chuyện nầy không được tiết lộ ra ngoài, nó đã bị chôn vùi hẳn giữa những chiến công ngoạn mục của Nhật Bản được quảng bá rộng rãi vào thời gian ấy. Nghe được các tin tức nầy tôi càng thêm rầu rĩ. Người thường nói chiến tranh là một loạt những sai lầm, nhưng những sai lầm của Nhật Bản không thể nào chấp nhận được. Những thiệt hại như thế đã khiến tôi giận dữ tột độ, và tên Hạm Trưởng do dự, đắn đo một tháng trước đây không còn trong tôi nữa. Tôi trở thành một người mới, hung tợn và dứt khoát.
Sự sai lầm của chúng tôi cứ tiếp tục trong suốt tháng ngày đầu của cuộc chiến. Một việc xảy ra vào ngày 4 tháng 1 năm 1942 khiến tôi điên tiết. Vào ngày đó, 14 chiến hạm quan trọng, bao gồm hầu hết lực lượng trên biển của Nhật nằm trong khu vực, đậu ở hải cảng nhỏ Malalag trên bờ Tây Vịnh Davao. Hải khẩu thật nhỏ hẹp và Đề Đốc Tư Lịnh đã ra lịnh đóng lại bằng một màn lưới chống tiềm thủy đỉnh.
Lúc đang dùng bữa trưa, tôi nghe tiếng la của thủy thủ canh gác: “Phi cơ tấn công!”. Chúng tôi nhìn lên trời và thấy 9 oanh tạc cơ 4 máy đang bay trên cao độ 30.000 bộ. Chúng tôi biết đây là loại B17, các pháo đài bay, bởi thời gian đó Nhật chỉ có loại “tàu bay” Kawanishi bốn máy.
Sĩ quan và thủy thủ chạy ùa vào vị trí chiến đấu. Nhưng mà chay vào vị trí chiến đấu để làm gì? Chúng tôi bó tay trước hải hải khẩu nhỏ bé đã bị đóng kín. Chúng tôi không thể làm gì khác hơn là đứng nhìn. Các khẩu súng của chúng tôi không thể nào chạm tới các pháo đài bay đó, và lúc đó cũng không có chiến đấu cơ nào của Nhật cất cánh nghinh chiến.
Tôi khoanh tay nhìn những quả bom được trút xuống. Rất may là các oanh tạc cơ Hoa Kỳ, hiển nhiên là mới đến Java, không mang theo bom hạng nặng và nhắm mục tiêu không chính xác. Một quả bom 250 cân Anh trúng thẳng vào tháp súng thứ hai của tuần dương hạm Myoko đậu chính giữa hải cảng, gây cho hơn 20 người chết và 40 người khác bị thương. Mảnh của quả bom này văng qua chiếc tàu chở thủy phi cơ Chitose đậu cách đó 500 thước và phá hủy 5 phi cơ trên sàn tàu. Không một phi cơ nào của Nhật cất cánh để truy đuổi các oanh tạc cơ địch.
Khu trục hạm Amatsukaze của tôi đậu cạnh bãi biển và không thể nhấc một tấc nào để tránh các quả bom rơi xuống. Chúng tôi đã thoát được nhờ may mắn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy buồn rầu hơn ngày hôm đó, khi dõi theo tuần dương hạm Myoko, một đồng đội của tôi từ ngày X (tức ngày phát động cuộc hành quân), “khập khểnh” rời khỏi Vịnh Davao trên đường trở về Nhật để sửa chửa.
Chúng tôi không thể nào chấp nhận được loại ngu xuẩn nầy.
(Tuần Dương Hạm hạng nặng Myoko, trọng tải 13.300 tấn, dài 204 m và có thể đạt tốc độ 36 hải lý (67km/h), đóng tháng 10 năm 1924 và hoàn tất vào tháng 7 năm 1931, trang bị 10 pháo khẩu 203 ly, hỏa lực mạnh nhất của một tuần dương hạm vào thời đó, đây là chiếc đầu tiên của class nầy, ba chiếc được hoàn tất sau đó là Nachi, Ashigara và Haguro. Chiến hạm nầy tham gia tất cả các trận đánh lớn trên Thái Bình Dương và sống sót sau cuộc chiến. Ngày 21 tháng 9 năm 1945, Myoko đầu hàng quân Anh ở Singapore và đến ngày 7 tháng 6 năm 1946 nó bị quân Anh đánh đắm hủy tàu ở eo biển Malacca.
Số phận của tàu chở thủy phi cơ Chitose, nguyên là một tàu chở thủy phi cơ được hạ thủy vào năm 1936, nó được cải biến thành một tàu sân bay hạng nhẹ vào năm 1943. Nó bị đánh đắm trong Trận chiến vịnh Leyte vào ngày 25 tháng 10 năm 1944 khi tham gia chiến dịch Sho ichi Go, Chitose nằm trong lực lượng “chim mồi” do Đô Đốc Ozawa chỉ huy, Chitose bị đánh chìm bởi ngư lôi trong đợt tấn công thứ nhất của Lực lượng Đặc nhiệm TF 38 do máy bay cất cánh từ tàu sân bay Essex ngoài khơi mũi Engano. Ngoài ra còn một chiếc tàu nữa cũng mang tên Chitose nhưng là tuần dương hạm. )
4
Vào tháng Giêng năm 1942, tôi tham dự cuộc đổ bộ East Indie (một nhóm đảo thuộc Hòa Lan), để hổ trợ cho các cuộc hành quân đổ bộ ở Menado và Kendari. Cả hai cuộc đổ bộ đều không gặp chống đối quan trọng nào của hải quân phòng thủ địa phương, nhưng khả năng không yểm nghèo nàn của chúng tôi là một điềm xấu báo trước tương lai, hải quân Nhật không đủ phi cơ để bao che các cuộc đổ bộ, và chúng tôi nhận thấy một số phi cơ được lái bởi những tay mơ. Không được huấn luyện đúng mức, những phi công kém khả năng nầy thường báo cáo chiếc “tầu ma”. Oanh tạc mấy con cá voi mà họ tưởng lầm là tiềm thủy đỉnh, và còn bắn rơi cả vận tải cơ bạn trong lúc xảy ra các cuộc không chiến hổn loạn.
Tôi lại gặp thêm một vố không hài lòng nữa trong việc săn đuổi một tiềm thủy đỉnh. Vào đêm 31 tháng Giêng, trong khi hộ tống đoàn tàu chuyển vận quân đổ bộ lên đảo Ambon ở vịnh Bill, với đèn pha, toi phát hiện dấu vết một tàu ngầm xuất hiện trên biển. Ba quả đạn nổ ngầm được thả xuống nhưng không trunsng, và chiếc tàu ngầm cao bay xa chạy.
Tiếc rẽ, tôi báo hiệu sự thất bại của chúng tôi cho các chiến hạm khác, cho biết chiếc tàu ngầm có thể chưa bị tổn hại, và vì đó, không chừng nó sẽ quay trở lại. Mồ hôi tôi tươm suốt hai tiếng đồng hồ. Tôi lo ngại tiềm thủy đỉnh địch sẽ chọn mục tiên dễ dàng nhất là các chuyển vận hạm chở quân nặng nề chậm chạp để tấn công. Chúng tôi tăng cường thêm máy sonar để theo dõi, nhưng không còn phát hiện dấu vết của chiếc tàu lặn đâu nữa. Tuy vậy sự bồn chồn lo lắng của tôi cho đến 1 giờ khuya mới hết, tức là lúc đoàn tàu của chúng tôi đã đến điểm đổ bộ.
Cuộc đổ bộ bắt đầu vào lúc 1 giờ 20 khuya ngày 1 tháng 2, và không hề có bất kì một cuộc pháo kích nào của các chiến hạm Nhật để dọn đường trước đó. Việc nầy không theo đúng sự sắp xếp. Sau khi chúng tôi tấn công chiếc tàu ngầm thì thế nào địch quân cũng biết và đã báo động toàn thể. Tôi nghĩ trong tình trạng đó, nếu cuộc đổ bộ không được dọn đường trước là một việc vô lý.
Tuy nhiên, không có lịnh pháo kích nào được soái hạm ban ra. Sau đó Đề Đốc Tanaka có giải thích với tôi sỡ dĩ ông bỏ qua không dọn đường cho cuộc đổ bộ là vì ông đo lường sự yếu kém của địch quân, cho dù họ có chuẩn bị trước đi nữa, Tanaka cũng cho biết một lí do khác đó là việc “tiết kiệm đạn càng nhiều càng tốt”. Lý do nầy chắc khiến người Mỹ buồn cười, nhưng đó là một sự thật không thể chối cải. Trong việc theo đuổi cuộc chiến vĩ đại đó, hai chữ “tiết kiệm” luôn luôn được nhắc nhở bên tai chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đã lấy làm “khó hiểu” khi biết Hoa Kỳ đã dội bom xối xả và pháo kích như mưa để dọn đường cho các cuộc đổ quân của họ.
Các xạ thủ hải quân được huấn luyện tác xạ với các quả đạn pháo thông thường. Loại đạn tầm hướng, như Hoa Kỳ đã sử dụng, chúng tôi hoàn toàn không có, và việc nầy cũng là lý do không chính xác của chúng tôi trong khi tấn công tiềm thủy đỉnh.
Lực lượng đổ bộ, như tôi dự liệu, đã bị hỏa lực từ đất liền của địch quân chận đứng ngay trên bãi biển. Trung tá hải quân Konosuke Ieki, chỉ huy cuộc đổ bộ, đã báo cáo vào lúc 2 giờ khuya: “chúng tôi bị chận đứng hẳn và cuộc đổ bộ khó xúc tiến.” Nhưng ông không yêu cầu oanh kích dọn đường.
Trên đài chỉ huy của chiếc Amatsukaze, tôi lồng lộn với nổi bực tức. Tình thế tồi tệ mọi phương diện. Cuối cùng, lúc 3 giờ 20, lực lượng đổ bộ cho biết đầu cầu đã được thiết lập an toàn. Nhưng lại thêm rắc rối đang chờ họ phía trước. Lúc 5 giờ sáng: “ Hỏa lực địch quân từ các công sự kiên cố chụp lên hai bên cạnh sườn chúng tôi.”
Và liền ngay đó, báo cáo cho biết Trung Tá Ieki đã đền nợ nước. Thật đáng buồn cười. Tại sao ông lại chết như vậy? Một cuộc oanh kích và hỏa lực yểm trợ sơ khởi của các tàu chiến sẽ tiết kiệm được đời sống của ông ta và nhiều người khác nữa. Ngu dốt! Ngu dốt!
Tiếp theo sau tin buồn này là lịnh của Đô Đốc Raizo Tanaka: “ Tất cả các tàu hộ tống tiến vào bờ để nhặt thương vong.”. Amatsukaze “lãnh được” 30 xác chết và 90 người bị thương. Trong khi cuộc chiến đấu trên bộ không có lối thoát. Hiện thời chiến hạm không thể nào khai hỏa vì tình trạng hổn đấu của đôi bên. Cuối cùng, vào sáng hôm sau, thủy phi cơ từ chiếc Chitose được thả xuống và cất cánh đến tấn công các công sự kiên cố của địch. Không có một chiến đấu cơ hoặc oanh tạc cơ nào của các hàng không mẫu hạm Hiryu và Soryu xuất hiện. Tôi không thể nào hiểu nổi tại sao lại có sự khiếm khuyết phối hợp hành động như vây.
Các thủy phi cơ cất cánh mỗi lần 6 chiếc, do các phi công giỏi lái, đã tấn công chính xác các vị trí đặt súng của địch quân. Sau đó, thủy phi cơ của chúng tôi nghinh chiến với các oanh tạc cơ của địch quân bay đến từ East Indie và bắn hạ được hai chiếc. Nhựt không thiệt hại chiếc nào. Hai trăm quân phòng thủ Úc Đại Lợi – Hòa Lan, đã đầu hàng vào buổi chiều đầu tiên của cuộc đổ bộ, tức ngày 1 tháng 2 năm 1942, và tất cả đều bị bắt làm tù binh. Quân phòng thủ bị bắt cho biết họ có gài 70 quả thủy lôi tại hải cảng chánh ở phía Bắc của đảo Ambon. Suốt một tuần, các trục lôi hạm của chúng tôi đã lãnh nhiệm vụ vớt những quả thủy lôi nầy. Ba chiếc đã chạm phải thủy lôi và chìm chung với toàn thể thủy thủ đoàn.
Hai ngày sau cuộc đầu hàng, một chuyển vận hạm Nhựt chạy gần hải khẩu đã báo hiệu: “Tàu đang bị tấn công bằng thủy lôi từ hướng biển”. Nhưng rất may là không có trái thủy lôi nào trúng mục tiên, dù vậy chúng tôi vẫn náo động, và khu trục hạm của tôi được phái đi lập tức. Tôi đoán các trái thủy lôi có lẽ do chiếc tiềm thủy đỉnh đã thoát khỏi tay tôi ba ngày trước đây phóng ra. Tôi quyết tìm cho ra và đánh chìm chiếc tàu nầy.
Năm tiếng đồng hồ, Amatsukaze đã lướt trên mặt biển với tốc độ 11 hải lý. Nếu tàu chạy nhanh hơn, các máy sonar của chúng tôi sẽ vô hiệu, nhưng chạy chậm như thế nầy thì lại là miếng mồi ngon đối với tiềm thủy đỉnh, cho dù một chiếc khu trục hạm được võ trang mọi loại vũ khí chống tàu ngầm hữu hiệu nhứt. Tôi nghĩ đó là lí do khu trục hạm Sagiri bị một tiềm thủy đỉnh đánh chìm gần Borneo vào tháng 12 vừa qua.
Nhưng một khi chạy chậm chạp để theo dấu đối thủ, một khu trục hạm luôn luôn đề phòng. Vì vậy, nếu bất kì một tiềm thủy đỉnh nào bị hấp dẫn bởi tốc độ đầy quyến rũ của Amatsukaze tôi sẵn sàng tiếp đón. Nhưng chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào cho đến khi giờ thứ năm chậm chạp trôi qua, tình thế bổng nhiên sôi động bất ngờ.
Lúc 9 giờ 31 tôi, một nhân viên sonar mừng quýnh la lên: “Tàu ngầm! Cách 2.400 thước, ở 10 độ tả mạn.”
Tôi ra lịnh: “Mọi người vào vị trí chiến đấu! Chuẩn bị thủy lôi nổ ngầm! Tám trái! Độ sâu 50 thước.”
Sĩ quan sonar nói một câu có ca có kệ theo nghề nghiệp: “ Tiềm Thủy Đỉnh địch cách 1.800 thước, 40 độ tả mạn.”
Hướng tiến của Amatsukaze được điều chỉnh theo gốc độ mới. Lúc 9 giờ 53, sĩ quan sonar kêu lên đầy thất vọng: “Mất dấu chiếc tàu”
Tin nầy gây nên một sự yên lặng kỳ lạ. Tôi đoán ngay là chiếc tiềm thủy đỉnh đã biến vào một góc mù, và hai chiếc tàu đã cùng chạy một hướng.
Trong thời gian nầy, các máy dò tàu ngầm của người Nhựt hoạt động dựa trên nguyên tắc phát hiện ra các luồng sóng âm thanh và tính ra khoảng cách của mục tiêu qua các luồng sóng dội lại. Phương cách nầy không đủ bén nhạy để bắt tiếng động do các máy móc tàu ngầm tạo ra.
Trong đầu tôi lúc ấy tràn ngập các bài toán về trắc giác và khoảng cách. Tôi ngẩm nghĩ: “Chiếc tàu ngầm bây giờ phải ở 180 độ, di chuyển 9 hải lý, cách 1.000 thước và sâu khoảng 30 thước.”. Tôi ra lịnh gia tăng tốc độ của Amatsukaze lên 21 hải lý và liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Tôi vẻ ngay đường cong di chuyển của hai chiếc tàu trong trí. Lúc 9 giờ 68 phút, 8 trái thủy lôi nổ ngầm được phóng ra khi tôi tin chiếc tiềm thủy đỉnh đang nằm ngay phía dưới.
Chiếc Amatsukaze giảm tốc độ và xoay lại, và một loạt thủy lôi khác được thả xuống. Trong đêm tối, mùi dầu diesel bổng bốc lên nồng nặc, nhưng chúng tôi không thể nhìn thấy một vật gì cả. Mùi dầu bốc lên mạnh mẽ hơn. Chúng tôi biết rõ chiến thuật xông hương của các tiềm thủy đỉnh khi bị tấn công. Trong khi lẩn tránh, các tàu nầy thường xả dầu ra, nhằm đánh lừa những kẻ săn đuổi ngở rằng chúng đã bị đánh chìm. Suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi quần nát khu vực, nhưng chẳng tìm thấy dấu vết nào.
Bốn ngày trôi qua, không hề có một tin tức nào khác về chiếc tàu nầy. Hiển nhiên là tôi đã ghi được một “điểm thẳng”. Tôi nhận thấy có rất ít thực tế trong cuộc chiến gây được sự phấn khởi. Tôi đã học hỏi khác nhiều trong cuộc hành quân Ambon.
Vào ngày 9 tháng 2, trong nhiệm vụ hộ tống chuyển vận hạm Kirishima Maru và di tản một số thương vong của các trận đánh Ambon, tôi trở lại Davao, chuyến đi êm ả.
Davao hoàn toàn yên tỉnh. Những cuộc xung đột ở Phi Luật Tân hiện tại giới hạn ở bán đảo Bataan, và đảo Corregidor. Các mặt trận khác kéo xa về hướng Nam. Hơn một tháng, Davao chẳng thấy bóng dáng phi cơ địch nào.
Hàng đống thơ từ của gia đình đang chờ đợi chúng tôi. Trong số cũng có nhiều kiện hàng và những “món quà êm ái” của một số thân thuộc và bạn bè dân sự ở quê hương gởi đến.
Khi về đến Davao, lần đầu tiên trong suốt 20 ngày, tôi được tắm rữa một bữa thỏa thích. Khi một khu trục hạm đang thi hành nhiệm vụ, kể cả Hạm Trưởng cũng không dám xài phí nước nôi. Sau khi ra lịnh cho thủy thủ tự do tắm rửa, tôi trở vào cabin nằm một cách thoải mái. Gian hàng trên tàu cũng được mở cửa để bán rượu, kẹo và vật dụng linh tinh khác cho thủy thủ. Thủy thủ được chỉ được phép mua và uống rượu mạn trên tàu với sự ưng thuận của hạm trưởng.
Cho dù phòng ngủ của tôi nhỏ bé, nhưng vẫn là chổ tốt nhứt trên tàu. Gian phòng rộng không đầy 4 thước vuông trám đầy một cái giường ngủ, một bàn tròn nhỏ, một bàn rửa mặt, một tủ quần áo, một ghế bành và một ghế đẩu. Trên bàn đặt một tấm ảnh toàn thể gia đình tôi.
Murata, một thủy thủ trẻ đến giao thơ cho tôi kèm theo nhiều gói hàng nhỏ khác. Tôi hỏi: “Anh có nhận được thơ không, Murata?”. “Dạ có, thưa hạm trưởng.” Hắn hớn hở chào tôi và quay bước.
Tôi xem một lá thơ do vợ tôi gởi đề ngày 4 tháng giêng. Nàng cho tôi biết các con và nàng vẫn vui mạnh. Tuy nhiên, câu tái bút nàng báo cho tôi một tin khá phiền “Hôm kia, em dẫn các con lên Đông Kinh để thăm bà con, khi em trở về nhà ở Kamakura thì thấy cửa đóng, và người tớ gái đã biến mất với một số đồ đạc có giá trị của chúng ta.”
Tin nầy thật đáng buồn. Vợ tôi thuộc gia đình lương thiện, tôi chắc nàng không quen với “cái loại” nầy. Để giải buồn tôi uống liên tiếp nhiều ly sa kê.
Có một gói hàng do người bạn thâm niên nhứt của tôi hiện sống ở Osaka gởi đến. Trong đó là một cái áo lót với 1.000 mảnh vãi đủ màu sắt được khâu lại bằng tay. Theo cổ tục, cái áo lót nầy đối với người Nhựt chẳng khác nào lá bùa hộ mạng chống được vũ khí của kẻ thù. Trong thơ, bà vợ của bạn tôi cho biết bà ta đã đứng ở một góc phố để nài nĩ 999 người đàn bà khác mỗi người cho một mãnh vải. Cảm kích tôi mặc ngay chiếc áo lót vào mình cho dù tôi không tin tưởng cổ tục dị đoan nầy.
Thơ của người anh báo một tin buồn khác. Con trai trưởng của anh tôi, Shigeyoshi Hashimoto, 25 tuổi, một sĩ quan phục vụ trong Sư Đoàn 4 Bộ Binh, đã chết vì bịnh lao vào tháng 12. Đứa cháu nầy đã được tôi đặt nhiều hi vọng. Tôi nhắm mắt và cầu nguyện cho linh hồn của nó. Xúc động sâu xa, tôi không xem thơ nữa, sau khi uống thêm vài ly rượu, tôi thả bước lên đài chỉ huy. Hôm nay là một ngày đẹp trời. Hải cảng đẹp mắt dưới ánh nắng rực rở của miền nhiệt đới. Viên sĩ quan đang ngồi nhìn lên bờ biển mơ màng. Hắn đứng dậy chào tôi. Tôi nói: “Hảy bảo cho mọi người biết tôi “xả tàu” ngày mai. Thủy thủ sẽ lên bờ mỗi nhóm 3 người và được ba giờ tự do.”
Đôi mắt viên Đại úy ánh lên nổi thích thú và lập tức loan truyền tin vui nầy. Suốt 50 ngày qua, không một ai trong số 300 thủy thủ của tôi được lên bờ, thành thử lịnh của tôi đã được đón nhận một cách ồn ào.
Tôi trở về cabin và mở một lá thơ khác. Bức thơ nầy đến từ Kure, nhưng tên người ngoài phong bì hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Thơ viết: “Tôi là Hinaniku, một trong những vũ nữ hành nghề tại hộp đêm mà trước chiến tranh ông thường lui tới.” Tôi kêu trời. Tôi, một người cha của ba đứa trẻ, chắc chắn không bao giờ liệu trước một bức thơ tình của một vũ nữ như thế nầy. Bức thơ tràn ngập những lời lẽ yêu thương tầm thường, chỉ có câu kết thúc đáng lưu ý: “Bà chủ hộp đêm luôn luôn nhắc với tôi về việc ông, vì ra đi bất thình lình, nên đã quên thanh toán khoảng tiền thiếu. Lúc nào thấy thuận tiện, xin ông gởi trả số tiền nầy, chúng tôi rất lấy làm hân hạnh.” Dĩ nhiên câu nầy khiến tôi đỏ mặt. Tôi chán tôi vô cùng. Bổng nhiên tôi muốn say, và tôi hạ gục thêm một chai sa kê nữa.
Gói hàng cuối cùng từ Hiroshima gởi đến, tôi đoán biết là một “món quà êm ái” do chữ viết non nót của người gởi. Học sinh Nhật Bản thường gởi những món quà nhỏ và một vài giòng chữ cho các quân nhân ở tiền tuyến mà chúng chưa hề quen biết. Món quà của tôi gồm một bức ảnh chụp thắng cảnh ở Hiroshima, một bức họa do chính tay người gởi vẻ, một số phong bì và giấy viết thơ, và kèm theo mấy dòng chữ: “Em là một nữ sinh 9 tuổi ở Hiroshima. Tất cả chúng em ở đây đều chăm học. Vì lợi ích của tổ quốc, chúng em thành tâm cầu chúc ông sẽ cố gắng chiến đấu.”
Đây là bức thơ duy nhất gây cho tôi sự xúc động thật sưh. Tôi thôi uống rượu và bắt đầu viết thơ trả lời cho cô bé không quen biết ở Hiroshima: “ Cô bé thân mến của tôi. Tôi cảm ơn em rất nhiều về món quà mà em đã gởi tới cho tôi. Tôi là hạm trưởng của một khu trục hạm. Tôi hân hoan và sung sướng nhận lời cầu chúc của em.”
Ngày hôm sau tôi lên bờ cùng với nhóm thủy thủ được tự do ba tiếng đồng hồ đầu tiên. Thật dễ chịu khi nhìn thấy phố xá Davao không bị chiến tranh tàn phá. Thủy thủ của tôi vầy đoàn với những thủy thủ của các tàu khác đang buông neo trong hải cảng. Các bà nội trợ Nhật trong thành phố đã lập ra nhiều địa điểm tiếp đãi binh sĩ đồng hương với hàng chữ: “Xin tự tiện dùng trà và café. Quà mọn của những người đồng hương với các bạn.”
Người Phi Luật Tân cũng dạo chơi nhàn nhã trên các đường phố. Trai thanh gái lịch ăn mặc chải chuốc đi lại dập dìu. Tuy nhiên, tôi đã chú ý và ngạc nhiên khi thấy tất cả đều đi chân không. Trên đường phố Nhật Bản không người nào đi chân không cả, dù giàu hay nghèo ai ai cũng mang giày hoặc guốc. Cảnh trước mắt lạ lùng đối với tôi.
Các rạp hát đều chiếu mấy cuốn phim mới nhứt của người Mỹ. Tôi chú ý hàng chữ trên tấm biển treo trước một vài căn nhà dọc theo đường phố: “Trung Tâm giải trí của quân đội Nhật Bản ”. Nhiều thủy thủ và binh sĩ đứng nối đuôi phía dưới những căn nhà nầy. Đây là những ổ điếm của người Nhựt, Triều Tiên và Okinawa đã di chuyển theo chân quân đội Nhật,
Tôi nhận thấy đám đông đang xếp hàng có vẽ hơi khó chịu, hiển nhiên là do sự hiện diện của tôi. Tôi nói với viên Đại Úy đi cùng với tôi: “Cứ tự tiện ở đây. Tôi phải đến Tổng Hành Dinh. Trưa tôi sẽ gặp lại anh. Hãy thận trọng, mấy ông sếp lớn của chúng ta đang có mặt ở bến tàu.”
“Dạ, dạ thưa Trung Tá,” Viên Đại úy mỉm cười.
Khi tôi bỏ đi, nhóm lính phía sau la to một cách vui vẻ: “Hoan hô! Hạm trưởng của chúng ta muôn năm!.”
:bye: mình cố gắng tìm thêm thông tin về các tàu chiến có mặt trong quyển sách nầy.

sakaifan
11-24-2009, 08:55 PM
5
Vào ngày 27 và 28 tháng 2 năm 1942, tôi tham dự trận đánh ở biển Java. Đây là một trong vài trận hải chiến quan trọng hồi đệ nhị thế chiến, được xem là vang danh, nhưng không hề có một chiến đấu cơ nào tham chiến. Vì vậy, trận hải chiến nầy đáng được mô tả và phân tích đầy đủ.
Đã có nhiều quyển sách của các tác giả Đồng Minh cũng Nhật Bản viết về câu chuyện nầy. Hầu hết các quyển sách của Đồng Minh được viết gấp rút ngay sau khi chiến tranh kết thúc, nên các tác giả hình như đã vượt quá giới hạn của chứng liệu lịch sử và sự khách quan. Còn về phía Nhật Bản cũng chẳng hơn gì, các quyển sách được viết ra đều gây cảm giác không trung thực và chính xác. Nhưng một phần khác là do các chỉ huy trưởng bại trận và thối chí, họ không đủ can đảm cung cấp những chi tiết khách quan của các trận đánh mà họ đã tham gia.
Hầu hết các sĩ quan chỉ huy chiến hạm Đồng Minh tham dự cuộc hải chiến ở biển Java đều đã chết trận, vì vậy khó thể thâu thập được tất cả chi tiêu bên phía Đồng Minh.
Đề đốc Takeo Takagi, Tư Lịnh Nhựt trong cuộc hải chiến nầy, đã thiệt mạng ở Saipan vào năm 1944. Hai sĩ quan trong bộ tham mưu ông còn sống sót, đó là Tham Mưu Trưởng của ông, Đại Tá Nagasawa, hiện là Thủy Sư Đô Đốc, Tổng Tư Lịnh Tân Hải Quân Nhật Bản, và phụ tá của Nagasawa là Thiếu Tá Kotaro Ishikawa từng là sĩ quan tình báo của Takagi. Trước khi viết chương nầy tôi đã đến gặp và thảo luận khá lâu với hai nhân vật nầy cũng như một số người còn sống sót có liên quan đến trận đánh ở biển Java.
Trong trận đánh nầy, thoạt đầu lực lượng Đồng Minh bao gồm ba tuần dương hạm hạng nặng, hai tuần dương hạm hạng nhẹ và 11 khu trục hạm cố gắng bao vây và tiêu diệt 41 chuyển vận hạm chạy chậm chạp vì chở cả một sư đoàn bộ binh, và các tàu hộ tống của Nhựt, gồm 10 khu trục hạm và 2 tuần dương hạm hạng nhẹ. Ngoài ra Nhựt còn có hai tuần dương hạm hạng nặng được cắt đặt trong cuộc chuyển vận nầy, nhưng cả hai chỉ lẻo đẻo cách phía sau 150 dậm.
Với tất cả lợi thế và lực lượng vượt trội, nhưng Đồng Minh không đánh chìm được một chiếc tàu nào của Nhựt. Theo ý kiến của tôi thì tinh thần là yếu tố thực sự quyết định cuộc đụng độ nầy, và có thể lấy yếu tố nầy để so sánh với cuộc đụng độ ở Vịnh Leyte vào tháng 10 năm 1944 sau nầy, Tư Lịnh Phó Đô Đốc Takeo Kurita, đã đóng một vai trò giống hệt như vai trò mà Hạm Đội của Đề Đốc Hòa Lan K.W.F.M Dorman đã đóng trong trận đánh ở biển Java.
Ở vịnh Leyte, Phó Đô Đốc Kurita đã dồn hẳn bốn hàng không mẫu hạm của Đồng Minh vào rọ và ông chỉ còn giơ tay đấm xuống nữa là xong. Nhưng chỉ vì một chút ngần ngừ, ông đã mất dịp may bằng vàng. Đó là những gì mà hạm đội Đồng Minh đã vấp phải ở Java.
Kurita đến Leyte với sự quyết tâm, nhưng đồng thời ông cũng ý thức là ông không hề có một cơ may nào chiến thắng trước lực lượng ưu việt của địch quân. Đó là nguyên nhân gây ra sự ngần ngừ khi ông giơ cú đấm để giáng xuống.
Vào tháng 2 năm 1942, một không khí tuyệt vọng bao trùm các sĩ quan Đồng Minh ở Surabaya. Họ thấy có ít hoặc không có dịp may tồn tại. Mười lăm tàu chiến thuộc Hạm Đội Đồng Minh vô đây vá víu lại các vết thương, và tất cả đều biết số phận thực sự được định đoạt trong vòng một tuần lễ, khi quả đấm cuối cùng của Nhựt giáng xuống.
Các vị chỉ huy Đồng Minh nhớ lại cuộc tấn công Trân Châu Cảng và hai chiếc Prince of Wales và Repulse bị đánh chìm hai tháng trước đó. Thoạt đầu họ không tin những gì mà họ nghe được. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Tân Gia Ba rơi vào tay Nhật và cuộc xâm chiếm toàn thể lãnh thổ Phi Luật Tân chỉ còn ngày một ngày hai. Lực lượng Nhật Bản cuồn cuộn lướt về phía Nam. Đồng Minh bỏ hết tiền đồn nầy đến tiền đồn khác.
Họ biết Lực Lượng Đặc Nhiệm hùng hậu của Hải Quân Hoàng Gia, dưới quyền của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo, đã di chuyển đến các hải phận Nam Thái Bình Dương. Trước mặt họ lực lượng nầy chẳng khác nào một siêu hạm đội khổng lồ. Họ không có cách nào để biết sứ mạng thực sự của Nagumo, và có tất cả đến bao nhiêu hàng không mẫu hạm dưới quyền của ông ta, cũng mù tịt. Phần lớn sự bối rối lan tràn trong hàng ngủ sĩ quan địch quan có lẻ do việc không thể đoán được phi cơ Nhật Bản đã xuất phát từ các hàng không mẫu hạm hay là các sân bay trên đất liền.
Những cuộc không tập ồ ạt ở Phi Luật Tân, xảy ra vài giờ sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng, được địch quân tin tưởng đã xuất phát từ hàng không mẫu hạm. Sự thật, phi cơ Nhật cất cánh từ Formosa. Một loạt oanh tạc trên đảo Java là do phi cơ ở các sân bay Jolo, Balikpapan và Kendari, nhưng các sĩ quan Đồng Minh ở Surabaya lại cho rằng những phi cơ nầy xuất phát từ các hàng không mẫu hạm ở Java.
Vào ngày 1 tháng 12, một lực lượng đặc nhiệm nhỏ của Hoa Kỳ đã tấn công đảo Marshall. Từ Truk, lực lượng đặc nhiệm của Nagumo cấp tốc vượt 1.500 dậm hướng về Marshall. Đồng Minh nghe tin nầy đã cho rằng con đường tấn công vào lãnh thổ Nhật đã quang đãng, vì vậy bốn tuần dương hạm và bảy khu trục hạm của họ tiến đến Balikpapan, hy vọng gây “sửng sốt” cho Nhật Bản.
Thời gian nầy Nhật Bản không ngủ quên. Vào ngày 4 tháng 2, từ Formosa, 69 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ Nhựt cất cánh chận đường và nhào xuống xâu xé các chiếm hạm Đồng Minh ở Kendary. Các chiến hạm nầy lê lết trở về Surabaya. Đồng Minh choáng váng và tin rằng những phi cơ tấn công xuất phát từ các hàng không mẫu hạm Nhựt. Biến cố nầy là một thảm kịch đối với họ.
Một biến cố khác, khó thể xảy ra đối với xét đoán của Tổng Hành Dinh Surabaya, nhưng vẫn xảy ra trên đầu họ. Vào ngày 19 tháng 2, tin tức tình báo của Đồng Minh cho biết Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo đang tiến về Marshall, bổng nhiên xoay hướng về Úc Đại Lợi. Nhưng sáng hôm đó, Nagumo đã tung 188 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ tấn công hải cảng Darwin ồ ạt.
Vào buổi trưa cùng ngày, 23 chiến đấu cơ Nhựt gầm thét trên không phận Surabaya và bắn rơi 40 chiến đấu cơ của Đồng Minh, hầu hết là loại P36, trong một trận không chiến ngắn ngủi. Cho dù nhân viên tình báo nằm vùng của Đồng Minh ở Balikpapan đã báo cáo chính xác rằng các phi cơ hải quân Nhựt đã vượt 450 dậm từ các sân bay ở Formosa đến Surabaya, sĩ quan Đồng Minh ở đây vẫn không tin. Họ luôn luôn cho rằng các phi cơ đã cất cánh từ các hàng không mẫu hạm.
Buổi chiều cùng ngày, một số oanh tạc cơ Nhật lại cất cánh từ Kendary bay đến dội bom một phi trường bí mật của địch quân ở Djombang, gần Surabaya, hủy diệt hàng chục oanh tạc cơ và chiến đấu cơ P40, những con trâu cổ của Hoa Kỳ, và chiến đấu cơ Hurricane của Anh. Các phi cơ chiến đấu của Nhựt đã nhanh chóng gặt hái được sự “ngưỡng mộ và kính nể” của địch quân. Khi phi cơ Nhựt đã ra tay thì không nạn nhân nào thoát khỏi, và ngay cả các chiến hạm “kiêu hãnh nhứt” của người Anh. Và, như các chiến hạm Anh, số phận của các tàu ở Surabaya không biết được định đoạt lúc nào.
Rút kinh nghiệm nầy, các sĩ quan chỉ huy ở Surabaya đã đắn đo trên các tin tức tình báo mới nhứt của họ vào ngày 20 tháng 2, cho biết hai đoàn tàu chuyển vận khổng lồ của Nhựt đang hướng về Java. Sự thật, vào ngày 19 tháng 2, 41 chuyển vận hạm với 20 hộ tống hạm Nhựt rời Jolo tiến đến Surabaya. Hai ngày trước đó, một đoàn tàu khác gồm 56 chuyển vận hạm với 15 hộ tống hạm rời vịnh Cam Ranh, Việt Nam, trực chỉ Tây Java.
Như vậy, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Đồng Minh ở Surabaya đang trong cơn hấp hối. Nếu các chiến hạm Đồng Minh xuất phát tấn công một trong hai đoàn tàu nầy thì họ có thể đạt kết quả. Nhưng họ không thể nào còn đủ khả năng để ngăn chặn đoàn tàu còn lại. Tuy nhiên, yếu tố rắc rối nhứt đối với họ là làm cách nào để đoán đúng sức mạnh của Lực Lượng Đặc Nhiệm Nagumo. Với hạm đội Đồng Minh không có sự bao che của không quân, Nagumo có thể vung búa đập xuống bất cứ lúc nào. Đồng thời, phi cơ Nhựt cũng có thể đến và đi như chổ không người.
Nhưng vào ngày 17 tháng 2, tại Bộ Tư Lịnh Tối Cao, Đô Đốc Isoruku Yamamoto, Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp Hoàng Gia, đã mở một phiên họp với Bộ Tham Mưu của ông trên soái hạm Nagato, đậu ở Hashirajima, gần Kure, miền Trung nước Nhựt. Kết quả phiên họp nầy, Yamamoto đã ra lịnh cho Nagumo xoay hướng và tiến về hải cảng Darwin, không truy đuổi lực lượng nhỏ bé của Hoa Kỳ nữa. Ông nói: “chúng ta phải giữ các mỏ dầu và các nguồn tài nguyên khác ở quần đảo East Indie (các hòn đảo thuộc Hòa Lan đã bị Nhựt chiếm giữ). Việc nầy ưu tiên hơn việc theo đuổi các lực lượng nhỏ bé của Hoa Kỳ.
Chắc chắn kế hoạch hành quân Midway đã nằm sẵn trong trí của Yamamoto vào lúc ấy. Bộ Tham Mưu của ông đã nghiên cứu tất cả các dữ kiện tình báo và phúc trình lên ông, Yamamoto kết luận rằng hạm đội của Đồng Minh ở Surabaya “không đe dọa trầm trọng” các hoạt động của Nhựt. Và ông ra lệnh cho hai đoàn tàu mỗi đoàn chuyển vận một sư đoàn bộ binh ngừng lại. Yamamoto chủ trương: “Hành quân đổ bộ không đòi hỏi phải có sự trợ của một lực lượng đặc nhiệm quan trọng.”. Do đó, vào ngày 19 tháng , Nagumo đã vượt thủy trình 220 dậm tiến về phía Bắc hải cảng Darwin.
Vào ngày 20 tháng 2, Yamamoto lại mở một phiên họp tham mưu khác, và đưa đến quyết định: Hạm Đội Đồng Minh “hoàn toàn mất tinh thần” và “không hy vọng tạo được một hành động quan trọng nào”. Yamamoto bải bỏ hẳn kế hoạch sử dụng phi cơ ở sân bay trên đất liền để làm cây dù bao che cho những cuộc chuyển vận của Nhựt mà ông đã từng đưa ra trước đây. Nagumo lại được lịnh đến Ấn Độ Dương để “nhận chìm chiến hạm của Đồng Minh từ Surabaya thoát ra.”
Sự khinh thường đối thủ nầy ít nhứt cũng đã khiến cho đoàn tàu chuyển vận, với khu trục hạm của tôi nằm trong thành phần hộ tống, lâm vào tình cảnh ngặt nghèo. Đoàn tàu 41 chiếc chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm cách nhau 2.000 thước, và mỗi chiếc cách nhau 600 thước di chuyển với tốc độ 10 hải lý theo hình chữ chi. Cách 3.000 thước phía trước hai đoàn tàu là bốn khu trục hạm giăng hàng ngang. Cách nhau 3.000 thước phía sau, cũng giăng hàng ngang là ba khu trục hạm. Kế đến là tuần dương hạm Naka, cũng là soái hạm, được hộ vệ bởi hai tuần tiểu đỉnh. Hai khu trục hạm chạy ở tả mạn và hữu mạn, canh chừng khoảng giữa hai đoàn tàu vận chuyển dài dằng dặt nầy.
Một nhóm tàu hộ tống khác, thuộc phân đội 2 khu trục hạm, bao gồm bốn chiếc, trong đó có chiếc Amatsukaze của tôi, cầm đầu là soái hạm Jintsu của đề đốc Raizo Tanaka. Tất cả di chuyển ở phía tả, tách biệt hẳn đoàn tàu chuyển vận. Nhóm khu trục hạm nầy trước đó đã tham dự vào cuộc hành quân đổ bộ ở đảo Timor, kế cuộc hành quân Ambon, và sau đó ngày 25 tháng Giêng, đã kết hợp với đoàn chuyển vận nầy ở Macassar. Ngoài số tàu hộ tống vừa nói, còn hai tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro, nhưng cả hai chạy lẻo đẻo cách 290 dậm phía sau chúng tôi.
Đoàn tàu dai 20 dậm là một hình ảnh đẹp mắt, nhưng có một việc thấy rõ là đội hình của đoàn tàu không mấy chính xác. Điều nầy dễ hiểu, vì thủy thủ của các tàu chuyển vận không được huấn luyện đầy đủ. Nhiều chiếc tàu còn nhả từng bụm khói, một việc cấm kị trong lúc di chuyển. Nhiều chiếc khác còn sử dụng cả vô tuyến để chuyển những tin tức, thay vì dùng cờ hoặc đèn, và thỉnh thoảng lại còn vi phạm lệnh cấm bật đèn đêm.
Tuy nhiên đều lo lắng hơn hết là việc các tuần dương hạm hạng nặng lẻo đẻo xa ở phía sau, khó thể can thiệp kịp thời trong trường hợp địch quân tấn công mạnh mẻ, vì chỉ có chiến hạm nầy mới đủ sức để đương đầu.
Thời tiết tốt đẹp, ban ngày nắng chói chang, và ban đêm trăng sáng vằng vặc trên mặt biển đến nỗi có thể dùng mắt thường theo dõi đoàn tàu chuyển đang di chuyển. Các phi cơ thám thính của Nhật, phát hiện 5 tiềm thủy đỉnh của Đồng Minh, nhưng các chiếc tàu nầy không tìm cách tấn công chúng tôi.
Sáng ngày 16, mặt biển phía Nam Borneo yên tỉnh. Tôi thức dậy sau một giấc ngủ ngắn hồi đêm, và chăm chú đọc báo cáo mới nhứt. Các phi cơ thám thính và các cơ quan tình báo của chúng tôi cho biết một bãi thủy lôi được địch quân thiết lập dọc theo bờ biển Surabaya, rất nguy hiểm cho các tàu chở khẳm. Tin tức cũng cho biết: “Một số oanh tạc cơ B17 và chiến đấu cơ của Đồng Minh vẫn tiếp tục được đưa đến Malang và nhiều nơi khác.”
Tình hình cho thấy sự lạc quan của chúng tôi không có gì làm vững chắc. Lúc 8 giờ cùng ngày, một thủy phi cơ loại PBY Catalina thình lình rời khỏi các đám mây từ hướng Đông và đâm bổ về phía tàu của tôi.
“Phi cơ địch lao đến! Khai hỏa!” Tôi la lên.
Một khẩu đại liên phòng không nhả đạn ngay khi chiếc PBY thả một trái bom, nhưng quá sớm, và trái bom chỉ tạo một cột nước cao khoảng 500 thước phía trước tàu của chúng tôi. Chiếc phi cơ đảo cánh, gia tăng tốc lực và biến mất trong mây. Diễn biến nhanh đến nỗi chúng tôi không đủ thời giờ để hồi hợp.
Cuộc tấn công ít thấy xảy ra, và có vẽ vội vã bắt tôi phải suy nghĩ. Nếu chiếc phi cơ nầy chỉ có nhiệm vụ thám thính, như nó thường được sử dụng, thì nó không ngu dại gì xuất đầu lộ diện, và nhứt là lại nhắm thả bom vào một chiếc khu trục hạm thay vì chọn một tàu chuyển vận dễ đạt được kết quả hơn. Như dù thế nào, cuộc tấn công chớp nhoáng nầy cho thấy địch quân đã biết sự có mặt của chúng tôi.
Không lâu sau, chúng tôi phát hiện một chiếc tàu lớn sơn màu trắng ở cánh trái của đoàn tàu. Dùng ống viễn kính lớn, tôi nhận thấy đó là một tàu bịnh viên khoảng 4.000 tấn.
Chúng tôi trương cờ ra lịnh cho chiếc tàu dừng lại để khám xét. Qua ống viễn kính, tôi nhìn thấy một người đàn ông lớn tuổi đứng trên sân tàu, có lẽ là thuyền trưởng của tàu bịnh viện, đang vội vã mặc đồng phục. Đôi tay ông ta run rẩy và dáng điệu bồn chồn. Khi tàu của tôi đến gần, tôi mới biết đó là một tàu bịnh viện của Hòa Lan mang tên Optennote.
Đại úy Goro Iwabuchi cùng sáu sĩ quan khác nhảy xuống một chiếc xuồng và bơi đến leo lên chiếc Optennote. Một giờ sau họ quay lại báo cáo trên tàu có 15 bác sỹ và y tá cùng với thủy thủ đoàn. Tôi xin chỉ thị, và Đề đốc Tanaka đáp: “Ngay cả một tàu bịnh viện cũng đáng nghi ngờ trong khu vực nầy. Mang chiếc tàu lại phía sau nhập chung với những tàu tiếp liệu của chúng ta.”
Tôi phải bỏ cả buổi sáng để đi kèm chiếc tàu nầy. Sau khi cẩn thận trao nó cho vị chỉ huy Hải Đội tiếp liệu, tôi gia tăng tốc độ 26 hải lý, quày lại với nhiệm vụ hộ tống vào lúc 2 giờ 15. Một vài chiến đấu cơ Nhựt cất cánh từ Balikpapan bay che trên tàu chuyển vận cho đến 7 giờ chiều. Mặt biển bổng nhiên trở lạnh. Tôi rít một hơi thuốc và hỏi viên hoa tiêu của tôi khi nào mặt trời lặn. Trung úy Toshio Koyama cho biết mặt trời sẽ lặn lúc 7 giờ 48.
Tôi quăng điếu thuốc vì nghe có tiếng súng cao xạ nổ vang. Tuần dương hạm Jintsu đang khai hỏa. Tôi ra lịnh: “Vào vị thế chiến đấu! Không kích!” Nhìn lên, tôi thấy hai oanh tạc cơ B17 bay trong mây, cao độ khoảng 4.000 thước. “Khai hỏa” Tôi hét lớn.
Các khẩu cao xạ 12,7 ly xoay nồng lên 75 độ, và khai hỏa, nhưng đạn không thể chạm tới các oanh tạc cơ địch. Những loại súng nhỏ hoàn toàn vô hiệu, nhưng tiếng nổ rền vang của chúng cũng làm cho phi cơ địch khiếp đảm. Các oanh tạc cơ nầy chắc đến từ Java, đã thả 6 trái bom 500 cân Anh, bốn trái rới cách hữu mạn chiếc Amatsukaze của tôi khoảng 1.500 thước, và hai trái chỉ cách tả mạn khu trục hạm Hatsukaze 500 thước. Thả tệ như thế là cùng.
Các oanh tạc cơ chỉ nhắm tấn công vào chiến hạm thay vì tàu chuyển vận, điều nầy chứng tỏ chúng chỉ quyết ăn thua đủ với các khu trục hạm của chúng tôi. Có lẽ các phi cơ nầy đã dành phần các tàu chuyển vận cho hạm đội của chúng. Đó là một việc đáng lưu tâm.
Buổi sáng ngày hôm sau, 27 tháng 2, hoàn toàn yên tỉnh. Đoàn tàu vẫn tiến bước. Nhưng vào lúc 11 giờ 50, ngay khi mọi người sửa soan dùng bửa trưa, bốn trái bom bất ngờ rơi xuống. Những cột nước khổng lồ mọc lên phía trước mũi khu trục hạm Yukikaze khoảng 200 thước và cách chiếc tàu của tôi khoảng 300 thước.
Ngày hôm qua. Chúng tôi đã thấy các oanh tạc cơ trước khi chúng tấn công, nhưng hôm nay thì chúng tôi hoàn toàn không hay biết gì cả. Tôi khám phá quá trễ hai chiếc B.17 đang bay đúng trên đầu tôi ở cao độ 4.000 thước. Các pháo đài bay đã thành công trong yếu tố gây kinh ngạc cho chúng tôi, nhưng vì quá vụng về nên chúng đã làm hỏng cả cơ hội.
Một lần nữa oanh tạc cơ chỉ nhắm vào các tàu chiến, và điều nầy khiến tôi suy nghĩ. Tại sao chúng không dội bom tàu chuyển vận. Chỉ cần một quả bom 500 cân Anh là có thể đánh đắm một chuyển vận hạm dễ dàng và gây rối loạn cho cả đoàn tàu. Hiện tại, những năm sau chiến tranh, tôi vẫn tin đó là một lỗi lầm to tát của Đồng Minh.
Nhật Bản cũng vấp phải những lỗi lầm to tát trong việc tung ra cuộc hành quân nầy mà không có sự bao che hữu hiệu của không quân cho các lực lượng trên biển. Nhưng lỗi lầm nầy không gây ra thiệt hại đáng kể bởi chiến thuật của phi cơ Đồng Minh không hiệu quả và thiếu khôn ngoan.
Mười hai phút sau cuộc oanh tạc của B17, đoàn tàu xoay 90 độ tiến đến Surabaya và ct chỉ còn cách hòn đảo nầy 60 dậm. Từ đầu chúng tôi đã tiến thẳng về hướng Tây, có tánh cách nghi binh. Không lâu sau, một phi cơ thám thính Nhựt xuất phát từ Balikpapan đã báo cáo: “Năm tuần dương hạm và sáu khu trục hạm của địch quân đã rời Surabaya 63 dậm, hướng 310 độ, vào lúc 12 giờ trưa. Hiện thời lực lượng nầy xoay hướng 80 độ, với tốc độ 12 hải lý.”
Chiếc Nachi 12.374 tấn, một trong hai tuần dương hạm hạng nặng theo phía sau chúng tôi, lập tức cho thủy phi cơ thám thính bay đến để theo dõi nhóm tàu của địch quân. Một việc đáng kinh ngạc theo báo cáo của phi cơ, nhóm tàu nầy đã tiến gần và hiển nhiên nhắm vào đoàn chuyển vận hạm của chúng tôi. Có phải địch quân mưu định tấn công? Chúng tôi chờ đợi báo cáo của phi cơ thám thính.
Hai giờ dài dằng dặc trôi qua. Lúc 2 giờ 5, phi cơ của Nachi báo cáo một hạm đội gồm 5 tuần dương hạm và 10 khu trục hạm (thay vì 6 như báo cáo đầu tiên) đang tiếp tục hướng đến. Kể cả hai tuần dương hạm của chúng tôi ở phía sau, lực lượng của địch quân vẫn còn trên chân chúng tôi. Đề đốc Takagi ra lịnh cho đoàn tàu xoay về hướng Bắc. Cơn nóng miền nhiệt đới vẫn không gây cho tôi cảm giác nào. Mồ hôi lạnh chảy ướt đẩm lưng tôi. Nếu địch quân gia tăng đà tiến, họ có thể dễ dàng xé đoàn tàu của chúng tôi ra từng mảnh và nhận chìm các chuyển vận hạm, chẳng khác nào những con bồ câu bằng đất. Tôi cảm thấy nao núng. Nhưng tôi tự hỏi tại sao hạm đội địch lại không tiến đến nhanh hơn. Lúc 3 giờ 10, phi cơ thám thính gởi về một báo cáo đáng ngạc nhiên: “Hạm đội địch xoay hướng trở về Surabaya.”
Đề đốc Takagi đứng trên đài chỉ huy của soái hạm Nachi đã cười to: “Chẳng là tàu chiến địch rời khỏi Surabaya để tránh bị các cuộc không tập của chúng ta dọn sạch. Địch quân không còn lòng dạ nào mưu đánh chúng ta. Kế hoạch và thời biểu của chúng ta vẫn tiếp tục. Đoàn tàu xoay đầu về hướng Nam.”
Lúc 4 giờ 30 chiều, một báo cáo gây kinh ngạc khác của phi cơ thám thính: “Tàu địch lại xoay về hướng cũ, đội hình phân tán trước đó bây giờ nhập chung làm một, gia tăng tốc độ và chay về hướng 20 độ.” Mười phút sau lại một báo cáo khác: “Tốc độ của tàu địch là 22 hải lý, hướng thẳng về đoàn tàu chúng ta.”
Ý định của địch quân không còn ngờ vực gì nữa. Tôi xem hải đồ và nhận thấy tàu địch còn cách chúng tôi 60 dậm. Nếu cả hai bên chạy với tốc độ 20 hải lý thì trong một giờ rưỡi chúng ta sẽ gặp nhau.
Takagi, thình lình gắt gỏng và giận dữ, đã ra lịnh cho đoàn tàu chuyển hướng một lần nữa. Ông cũng ra lịnh hai tuần dương hạm phía sau tung các phi cơ thám thính lên, và các chiến hạm hộ tống dàn thành đội hình chiến đấu. Đồng thời hai tuần dương hạm Nachi và Haguro gia tăng tốc độ để bắt kịp đoàn tàu đi trước.
Hải đội 4 khu trục hạm chúng tôi lập tức kết hợp thành một nhóm và chạy theo đội hình hàng dọc, dẩn đầu là tuần dương hạm Jintsu. Các chuyển vận hạm cũng đổi hướng, chạy theo đội hình cánh quạt, nhưng vẫn với tốc độ chậm chạp. Hầu hết các chuyển vận hạm nầy là tàu buôn bị trưng dụng và thủy thủ đoàn không được huấn luyện nên nhìn cách lối di chuyển lộn xộn của họ mà bực mình. Nhiều chiếc tỏ ra ngơ ngác trước các lịnh lạc thay đi đổi lại, và không thể thi hành một cách nhanh chóng được.
Nhưng đáng giận hơn cả là việc hai tuần dương hạm Nachi và Haguro đến chậm, vì chạy cách hàng trăm dậm phía sau. Mỗi chiếc tàu nầy võ trang mạnh mẽ gấp mười chiếc khu trục hạm. Nếu không có chúng, tôi thấy không có cách nào chống chọi lại lực lượng hùng hậu của địch quân. Nếu tàu địch gia tăng vận tốc 30 hải lý, chúng sẽ đến trong nháy mắt. Nếu việc nầy xảy ra chúng tôi sẽ làm gì?
Vào 5 giờ chiều, tình trạng lộn xộn giảm bớt khi các tàu chuyển vận đã kết hợp thành đội hình và được các tuần tiểu đỉnh và ngư lôi đỉnh hộ tống. Phía sau hải đội của tôi, 4 khu trục hạm khác cũng lập thành đội hình chiến đấu. Một hải đội khác, gồm tuần dương hạm Naka và 7 khu trục hạm, được dàn ở phía sau. Các tàu chiến Nhựt hiện tại chạy với tốc độ 24 hải lý và sẵn sàng chiến đấu. Tôi nhìn về phía chân trời, không thấy bóng dáng hai tuần dương hạm hạng năng của chúng tôi ló dạng. Tôi bực tức rủa thầm.
“Tàu địch” tiếng la của chuẩn úy Shigaru Iwata, trưởng canh trên đài chỉ huy. Nhìn theo hướng anh ta chỉ, tôi thấy nhiều cột buồm nhô lên ở phía Nam, và trong nháy mắt mọi người đều nhìn thấy rõ rệt.
Qua hình dáng cột buồm nầy, tôi biết đó là loại tuần dương hạm De Ruyter của Hòa Lan. “De Ruyter cách xa 28.000 thước. Nó đang tiến nhanh đến chúng ta.” Iwata nói một câu có vần có điệu theo nghề nghiệp.
Tôi xoay nhìn lại phía sau. Nachi và Haguro vẫn biệt tăm, chỉ có các tàu chuyển vận chạy như rùa bò. Tôi ra lịnh: “Xạ thủ và nhân viên thủy lôi sẵn sàng. Mục tiêu của chúng ta là chiếc tuần dương hạm dẫn đầu đoàn tàu địch.”
Mọi tiến động trên khu trục hạm của tôi thình lình im bặt. Chúng tôi đang đâu mặt với trận hải chiến qua trọng đầu tiên của chúng tôi. Tiếng của Iwata phá vở sự im lặng: “Hạm Trưởng, nhìn kìa! Nachi và Haguro!”. Tôi xoay lại và nhìn thấy bóng dáng được trông đợi mỏi mòn hiện lên ở chân trời phía Đông. Cả hai tuần dương hạm đều ở cách đây thật xa, nhưng có thể chưa muộn. Tốt. Tôi gật đầu. Lúc ấy là 5 giờ 30 chiều.
Các chiến hạm địch thình lình xoay về hướng Tây và bắt đầu chạy song song với chúng tôi. Đây là một biến cố khó giải đoán khác. Địch quân chắc chắn đã nhìn thấy đoàn tàu của chúng tôi, nhưng tại sao không dám thẳng vào? Qua hướng tiến trước đó, các chiến hạm địch có thể chọn lựa các mục tiêu một cách rộng rãi hơn trong khi chỉ nhận hỏa lực một cách giới hạn của chúng tôi.
( Lực lượng của Đồng Minh bao gồm hổn hợp các tàu của Hoa Kỳ, Anh, Hòa Lan và Úc: hai tuần dương hạm hạng nặng Exeter của Anh và Houston của Hoa Kỳ, 3 tuần dương hạm hạng nhẹ De Ruyter và Java của Hòa Lan, Perth của Úc và 9 khu trục hạm, 3 của Anh Electra, Encounter và Jupiter, 2 của Hòa Lan Kortenaer, Witte de With và 4 của Hoa Kỳ cac chiếc Alden, John D Edwards, John D Ford và Paul Jones
Đoàn chuyển vận hạm của Nhật Bản được hộ tống bởi một lực lượng gồm: 2 tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro, 2 tuần dương hạm hạng nhẹ Naka và Jintsu, 14 khu trục hạm Yudachi, Samidara, Murasame, Harusame, Minegumo, Asagumo, Yukikaze, Tokitsukaze, Amatsukaze, Hatsukaze, Yamakaze, Sazanami và Ushio)

sakaifan
11-24-2009, 09:03 PM
Với sự chuyển hướng vừa nói, địch quân cho phép chúng tôi mua thời gian. Lúc ấy khoảng cách giữa hai lực lượng là 36.000 thước. Khi nhìn thấy hiện tượng nầy đề đốc Takagi vui mừng: “Bây giờ các chiến hạm của chúng ta có thể tóm lấy các chiến hạm của địch quân.” Lúc 5 giờ 46, lịnh chiến đấu của Takagi được ban ra: “Triển khai thành ba hàng dọc, tiến về hướng 170 độ (tức hướng Nam).”
Một phút sau đó, tuần dương hạm Naka khai hỏa vào địch quân với khoảng cách 22.000 thước, quá xa đối với các trọng pháo 140 ly. Chứng tỏ sự bối rối, Takagi thay đổi lịnh nhanh chóng: “Giữ hướng song song với địch.”. Tuần dương hạm Jintsu và các khu trục hạm cùng nhóm được lịnh tách ra và di chuyển dọc theo lực lượng chánh về hướng Tây, cách khoảng 10.000 thước. Các pháo khẩu 140 ly của Jintsu khai hỏa vào chiếc De Ruyter khi còn cách mục tiêu 18.000 thước. Phí đạn vô ích. Bốn khu trục hạm có vẻ nôn nóng, và vẩn với khoảng cách đó các khẩu 127 ly của chúng lên tiếng, nhưng cũng vô hiệu. Các trọng pháo 200 ly của Nachi và Haguro xuất trận, trong khoảng cách 25.000 thước, nhưng chẳng hơn gì các đàn em.
Nhóm chiến hạm của Đồng Minh lại chạy lãng ra xa về hướng Tây Nam, gia tăng khoảng cách với các chiến hạm của chúng tôi. Trọng pháo địch quân bây giờ mới lên tiếng, nhưng chúng cũng không có khả năng hơn trọng pháo của chúng tôi. Lúc 6 giờ 05, đề đốc Shoji Nishimura, tư lịnh Phân đội 4 khu trục hạm, có vẻ như không còn kiên nhẫn trước cuộc đấu súng vô bổ giữa đôi bên.
Tuần dương hạm Naka, soái hạm của Nishimura và 7 khu trục hạm khác của ông cùng phóng một lượt 43 quả thủy lôi vào các chiến hạm địch, với khoảng cách độ chừng 15.000 thước. Các thủy lôi oxygen vũ khí kiêu hành của Hải Quân Hoàng Gia, có thể hướng về mục tiêu cách xa 40.000 thước với tốc độ 36 hải lý. Nhưng với khoảng cách xa như thế, loại thủy lôi khó thể hy vọng trúng các mục tiêu di động. Những thủy lôi của Nishimura bổng nhiên nổ tung khi lướt đi một vài ngàn thước. Không thể giải thích được tại sao chúng lại nổ? Có tể là do trục trặc kỹ thuật, hoặc một số nầy va chạm vào một số khác gây ra tiếng nổ dây chuyền. Lại hoang phí thêm. Nhưng ít ra tầm xa và tốc độ của những trái thủy lôi loại mới đã này cũng đã gây kinh ngạc cho các sĩ quan Đồng Minh, khiến cho tinh thần của họ sút giảm trầm trọng.
Sau các đợt tấn công thủy lôi của chúng tôi, các chiến hạm Đồng Minh xoay hướng về Nam. Vào lúc 6 giờ 27, tám phi cơ Đồng Minh xuất hiện, ở độ cao 20 dậm, hướng về phía các chuyển vận hạm của chúng tôi. Nhưng 12 chiến đấu cơ của Nhật, được chúng tôi gọi từ khi các chiến hạm tách rời khỏi đoàn tàu chuyển vận, cất cánh từ phi trường Balikpapan và đến kịp lúc để chận đầu tám oanh tạc cơ địch. Cả 8 oanh tạc cơ đều bị chiến đấu cơ Nhật bắn hạ mà không kịp thả một trái bom nào.
Trời u ám, chỉ thỉnh thoảng một vài tia nắng xuyên qua các đám mây. Hoàng hôn đến thật nhanh, và mặt trời khuất dạng hẳn vào lúc 7 giờ 50. Vào lúc 6 giờ 33, đề đốc Takagi quyết định phải tiết kiệm đạn dược và ông cũng đoán có thể địch quân lợi dụng đêm tối để tẩu thoát nếu trận chiến cứ tiếp tục trong tình trạng nầy. Ông ra lịnh cho tất cả chiến hạm của ông “tiến sát và đánh dàn mặt với địch quân”.
Hạm đội của địch quân lại xoay về phía tả và bây giờ chạy theo hướng chánh Tây. Chiến hạm Nhật cũng xoay về hướng Tây, với các trọng pháo bắn không ngừng nghỉ. Bốn phút sau, tuần dương hạm Exeter của Anh phát hỏa, gây hổn loạn trong hàng ngủ địch quân. Các chiến hạm Đồng Minh bị màn khói dày đặt che khuất hẳn. (Sau này chúng tôi biết được một quả 200 ly của tuần dương hạm Nachi hoặc Haguro đã trúng hầm chứa đạn của chiếc Exeter). Exeter ở vị trí thứ hai trong đoàn tàu của Đồng Minh giảm hẳn tốc độ, và chậm chạp lê thân ra khỏi nhóm tàu bạn, hiển nhiên là để tránh va cham với tuần dương hạm Houston của Hoa Kỳ đang chạy phía sau nó.
Một hiện tượng đã gây ngạc nhiên là khi chiếc Houston xoay mũi về phía trái, tất cả các chiến hạm khác của địch cũng làm theo, nhưng soái hạm De Ruyter vẫn tiếp tục chạy thẳng về phía trước. Một vài phút sau, chiếc De Ruyter mới biết là đã chạy đơn độc nên quay lại, và lúc xả hết tốc lực để kết hợp với các tàu bạn, chiếc tàu nầy đã đụng phải một khu trục hạm.
Diễn biến bất ngờ nầy gây rối loạn hàng ngủ địch quân, và cho phép chúng tôi tiến đến gần hơn. Tám khu trục hạm Nhật, trong đó có tàu của tôi, đổ xô về phía nhóm tàu Đồng Minh với tốc độ 30 hải lý. Địch quân tổ chức lại hàng ngủ, bỏ mặc chiếc Exeter chạy khập khểnh ở phía sau, tất cả các miệng súng đều khai hỏa về phía chúng tôi. Còn cách hạm đội 7.000 thước, khu trục hạm Tokitsukaze, chạy phía trước Amatsukaze một chút, đã lãnh một quả đại bác. Khói trắng từ chiếc Tokitsukaze bốc lên bao phủ hoàn toàn chiếc Amatsukaze của tôi. Đạn rơi chung quanh như mưa, những cột nước mọc lên mọi phía, nhưng không quả nào trúng tàu của tôi. Tôi nghiến răng và ra lịnh hướng thẳng Amatsukaze vào tầm súng địch quân. Tôi phải tiến sát hơn, vì như vậy mới mong các quả thủy lôi của tôi hữu hiệu.
Hạm đội địch lúc đó vẫn chạy hướng Tây Bắc, tức đâm thẳng vào chúng tôi. Đây là hành động có tánh cách tấn công đâu tiên trong ngày của địch quân. Bây giờ tôi chỉ còn cách mục tiêu 6.000 thước, tay vịn trên chấn song đài chỉ huy, mồ hôi ướt đẩm mặt tôi. Chưa được, hay thêm nữa, phải cách mục tiêu ít nhứt 5.000 thước. Tàu của tôi lúc ấy đã áp sát tầm súng của địch quân và không biết chìm lúc nào.
Lúc 7 giờ 27 tối, đề đốc Raizo Tanaka ra lịnh chiếc tuần dương hạm Jintsu của ông phóng tám thủy lôi. Khi các con cá của Jintsu thoát ra khỏi ống, tôi đã cố gắng lắm mới không ra lịnh khai hỏa. Một quả đạn địch nổ gần đã chạt nước khắp mặt tôi. Tôi cảm thấy hoàn toàn bất an, ngay cả hiện tại tôi vẫn còn mang cảm giác nầy. Sự bất an không giống thái độ hèn nhát, nhưng giống như giòng máu lạnh trong tôi tự nhiên tan loãng dưới hỏa lực của các tàu chiến địch quân.
Tôi nhìn thấy 16 thủy lôi của hai khu trục hạm Yukikaze và Tokitsukaze lướt trên mặt nước. Tôi bị kích thích và hét to: “Thủy lôi! phóng!” Bốn khu trục hạm khác cũng bắt chước theo Amatsukaze. Tôi đã tính toán nhiều điều kiện chính xác của thủy lôi và nhận thấy ở 6.000 thước rất khó trúng một trăm phần trăm, nhưng theo tôi chỉ sai chạy dưới 5 phần trăm là cùng, nghĩa là 72 trái thủy lôi chỉ có khoảng 3 quả ra ngoài mục tiêu. Nhưng tính toán nầy của tôi đã sai lầm biết bao.
Hạm đội địch đã nhanh nhẹn xoay về hướng Tây, và tôi nhận thấy ít ra hết phân nữa số thủy lôi do tàu của tôi phóng ra đã xuyên qua khoảng trống mà các chiến hạm địch lướt qua. Các quả còn lại đến mục tiêu, nhưng chỉ có một quả hữu hiệu. Quả nầy trúng khu trục hạm Kortenaer của Hòa Lan. Chiếc tàu chìm cấp kỳ. Như vậy cứ 64 quả thủy lôi của chúng tôi chỉ có một quả chính xác. Phóng tệ như thế là cùng. Chiến thuật tránh né của tàu địch quả tuyệt vời.
Tuần dương hạm Naka và 7 khu trục hạm của đề đốc Shoji Nishimura hiện đã đến và đồng loạt phóng 64 quả thủy lôi. Hạm đội địch lại xoay hướng 90 độ về phía Bắc, qua một lối di động kì dị và không đúng qui tắc, nhưng khiến cho tất cả 64 thủy lôi đều lạc hướng. Bây giờ địch quân lại xoay thêm 90 độ nữa và cả hạm đội của họ đều ẩn trong một màn khói nhân tạo dày đặt. Chiến pháp nầy của địch không hề nghe nói đến trong Hải Quân Hoàng Gia Nhựt. Tôi đứng bất động và sửng sờ.
Một quả trọng pháo của địch trúng khu trục hạm Asagumo khiến 5 thủy thủ thiệt mạng và 19 người bị thương, chiếc tàu nầy bị loại khỏi vòng chiến một thời gian.
Sau khi phóng thủy lôi, Phân đội 2 của chúng tôi và Phân đội 4 của đề đốc Nishimura, mỗi phân đội tẻ ra mỗi hướng, chạy theo hình vòng cung. Khoảng cách giữa chúng tôi và địch quân nới rộng. Tuy nhiên hành vi của Đồng Minh đêm nay đã gây khó hiểu cho chúng tôi. Sau khi đã xoay hẳn 360 độ, tàu địch bây giờ gia tăng tốc độ và chạy dưới sự bao che của các màn khói nhân tạo dày đặt, nhưng sau đó lại xoay thêm hai lần 90 độ nữa và chạy thẳng về phía Bắc. Ý định của hạm đội Đồng Minh không thể nào đoán nổi. Có lẽ họ vẫn còn mưu định tấn công đoàn tàu chuyển vận của Nhật Bản.

Panzer
11-24-2009, 11:03 PM
Em xin tiếp sức bác Sakai về hình ảnh 1 số tàu tham chiến trong trận này.

Hai tuần dương hạm hạng nặng chạy phía sau đã kịp lên tham chiến là:
Tuần dương hạm Haguro:
http://www.mohinhvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=29242&d=1259074483

Tuần dương hạm Nachi:
http://www.acepilots.com/ships/ijn0020.jpg

Còn cách hạm đội 7.000 thước, khu trục hạm Tokitsukaze, chạy phía trước Amatsukaze một chút, đã lãnh một quả đại bác. Khói trắng từ chiếc Tokitsukaze bốc lên bao phủ hoàn toàn chiếc Amatsukaze của tôi.
Khu trục hạm Tokitsukaze:
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6a/IJN_DD_Tokitsukaze_in_1920_on_trial_run.jpg

Một quả trọng pháo của địch trúng khu trục hạm Asagumo khiến 5 thủy thủ thiệt mạng và 19 người bị thương, chiếc tàu nầy bị loại khỏi vòng chiến một thời gian...
Khu trục hạm Asagumo:
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/0/09/Asagumo-1.jpg

Tuần dương hạm Jintsu, soái hạm của đề đốc Tanaka
http://www.history.navy.mil/photos/images/h42000/h42152.jpg

Tuần dương hạm Exeter, chiếc đầu tiên bị dính chưởng đạn 200 ly trong trận này
http://www.naval-history.net/Photo06caExeter1NP.jpg

Sau khi dính đạn, nó đã chuyển hướng để tránh va chạm với tuần dương hạm hạng nhẹ Houston này:
http://www.history.navy.mil/photos/images/b00001/b21337a.jpg

Một hiện tượng đã gây ngạc nhiên là khi chiếc Houston xoay mũi về phía trái, tất cả các chiến hạm khác của địch cũng làm theo, nhưng soái hạm De Ruyter vẫn tiếp tục chạy thẳng về phía trước. Một vài phút sau, chiếc De Ruyter mới biết là đã chạy đơn độc nên quay lại, và lúc xả hết tốc lực để kết hợp với các tàu bạn, chiếc tàu nầy đã đụng phải một khu trục hạm.
http://www.netherlandsnavy.nl/Cruisers/Ruyter_voor.jpg

Em xin đề nghị bác Sakai sửa các từ "thuỷ lôi" thành "ngư lôi" cho chính xác hơn ạ. Cám ơn bác, truyện đọc mê quá.

sakaifan
11-25-2009, 12:03 PM
Tất cả các chiến hạm Đồng Minh tham dự trận hải chiến Java đa số bị đánh chìm hết trừ những khu trục hạm nhỏ bé và cổ lổ của Hoa Kỳ, chúng chạy thoát về Mỹ và được giao nhiệm vụ hộ tống các đoàn convoy từ Mỹ đến Hawai nên sống sót đến sau đệ nhị thế chiến.
:cute: Một vài hình ảnh của các tàu trong lực lượng Đồng Minh tham dự trận Java.

sakaifan
11-25-2009, 12:06 PM
Thêm vài tấm ảnh nữa. Trận hải chiến này tác giả đã quá khuyếch đại khả năng của Đồng Minh lên, lực lượng của Đồng Minh toàn những chiến hạm cũ kĩ và ô hợp nên dù nhiều hơn số lượng tuần dương hạm nhưng cũng không thể đánh lại hạm đội của Nhật trong trận nầy. Chưa kể đến khó khăn là chiếc Exeter đã bị loại mất 3 pháo khẩu 200 ly do bị không kích vài ngày trước đó.

sakaifan
11-25-2009, 08:52 PM
Hai tuần dương hạm Nachi và Haguro, lẻo đẻo phía sau hai phân đội khu trục hạm, nhìn thấy hạm đội địch nên đã xoay lại. Khoảng 8 giờ tối, hai tuần dương hạm Nhựt đã phóng 16 thủy lôi vào mục tiêu cách 16.000 thước. Khoảng cách nầy quá xa. Hạm đội Đồng Minh lại xoay 360 độ khiến các quả thủy lôi nầy đều vô hiệu và xã hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Surabaya.
Hai tuần dương hạm Nhựt không truy đuổi. Lúc ấy có một loạt 12 tiếng nổ phát ra ở hướng Nam. Các sĩ quan tham mưu trên hai tuần dương hạm không thể đoán được lý do, và họ độ chừng tiềm thủy đỉnh địch đang tấn công các khu trục hạm Nhựt. Sau đó có sự xác nhận những tiếng nổ nầy là do các thủy lôi của hai tuần dương hạm phóng ra đã lướt 40 cây số về hướng Nam và chạm vào bờ biển. Trong bóng đêm, chúng tôi có thể thấy những ánh đèn ở Surabaya, cách xa 30 dậm.
Lúc 8 giờ 30 tối, Takagi ra lịnh cho tất cả chiến hạm Nhựt ngừng cuộc truy đuổi và qui tụ về gần đoàn tàu chuyển vận. Trận chiến vừa qua thật sự cả hai phía đều vấp phải nhiều lỗi lầm. Hầu hết những người ở Phân đội 2 đều tỏ vẻ bực tức lịnh ngừng truy đuổi của Takagi. Còn tàu của tôi không được ra tay nhiều bằng các tàu khác nên tôi cũng cảm thấy tiếc rẽ đã mất dịp may tham dự vào một cuộc truy đuổi sôi động và quần thảo với địch quân một lần nữa.
Khi Takagi thấy tất cả các khu trục hạm Nhựt quay mủi về hướng Bắc, ông ra lịnh cho hai chiếc Nachi và Haguro ngừng lại để mang hai chiếc thủy phi cơ quan sát đã cất cánh từ đầu trận đánh lên tàu. Takagi đã suýt chết vì quyết định nầy, may mà địch quân vụng về nên mạng ông còn tồn tại. Việc mang 2 thủy phi cơ lên tàu là cả một công việc đầy gian nan. Sau nầy trong cuộc chiến, nhiều chiến hạm Nhựt chỉ sử dụng phi cơ thám thính một lần rồi bỏ hẳn, không trục chúng lên tàu nữa. Tuy nhiên, đó là thời gian Nhật Bản đang chiến thắng, các vị Tư Lịnh không nhẩn nại trong việc thâu hồi loại phi cơ nầy. Hiện tại, sơ khởi của cuộc chiến, Takagi hoàn toàn đúng khi đưa ra lịnh vừa rồi. Tuy nhiên ông hoàn toàn sai khi nghĩ rằng hạm đội Đồng Minh đã chạy thẳng về Surabaya rồi.
Lúc 20 giờ 50, khi chiếc Nachi đang trục chiếc phi cơ cuối cùng, trong số năm chiếc do tàu nầy thả lên, có tin báo: “Hải đội 3 thiết giáp hạm đến!” Trung tá Ishikawa nhìn qua ống viễn kính đã nói to: “Các chiến hạm có ba cột buồm. Phải, hình như chiếc Haruna và Kirishima.”
“Làm sao hai chiếc tàu nầy ở đây được? Hai ngày trước chúng ở Ấn Độ Dương…” sĩ quan tin tức đứng trên đài chỉ huy của tuần dương hạm Nachi tỏ vẻ ngờ vực.
Ba mươi phút sau, Trung Tá Ishikawa hét to: “Trời hại rồi! Nhiều tàu chiến địch! Bốn chiếc trong số đang hướng thẳng đến chúng ta. Chỉ còn 12.000 thước nữa thôi.”
Náo động khắp nơi trên tàu. Hai tuần dương hạm lúc nầy đang nằm như hai cái xác chết, thủy thủ đoàn lại chưa sẵn sàng trong vị trí chiến đấu, làm sao xoay sở đây? Tàu địch đang tiến đến và bắn hàng loạt trái chiếu sáng lên trời. Đề đốc Takagi bậm môi đến rướm máu. Ông ta đang hấp hối.
“Thâu hồi phi cơ nhanh lên!” ông ra lịnh. “Tất cả sẵn sàng chiến đấu”. Một phút, hai phút, ba phút. Thật ớn xương sống.
“Phi cơ bị kẹt rồi!” Một nhân viên cần trục la to.
Takagi hét: “Nổ máy, lùi hẳn về phía sau.”
Động cơ Nachi đã chạy lại, và bắt đầu chậm chậm lùi về phía sau với chiếc phi cơ còn đang treo lủng lẳng trên dây cáp ở bên cạnh. Các tuần dương hạm địch khai hỏa và đạn rơi xuống chung quanh chiếc tàu của chúng tôi. Takagi ra lịnh phản pháo khi hai chiếc Nachi và Haguro đã đạt được tốc độ 18 hải lý, tốc độ chiến đấu tối thiểu. Cả hai chiếc tàu cùng khai hỏa, cấp bách đến nổi không kịp sử dụng đèn rọi tìm địch. Cuộc đấu súng tiếp tục ở khoảng cách chừng 12.000 thước và cả hai bên đều phí đạn vô ích. Sau 10 phút. Nachi và Haguro không còn nhín thấy dạng các địch thủ đâu nữa. Náo loạn đã vượt qua.
Nhưng một nổi lo âu khác lại đến. Takagi nói: “Chiến hạm địch có thể hướng về đoàn tàu chuyển vận của chúng ta.” Hai tuần dương hạm Nhựt lại được phái đi tìm kiếm các chiếc tầu đã gây kinh hoàng cho chúng tôi 20 phút trước đây. Takagi ra lịnh cho tuần dương hạm Jintsu của Đề Đốc Tanaka chạy cách đó khoảng 5.000 thước, cho thủy phi cơ bay lên, để tiếp tay với Nachi và Haguro. Đề đốc Tanaka nhanh chóng đáp ứng lịnh của Takagi.
Lúc 21 giờ 45, phi cơ của Jintsu báo cáo: “Một nhóm tàu địch gồm 4 tuần dương hạm và 2 khu trục hạm đang trực chỉ về phía Nam.” Tin nầy đã khiến cho các sĩ quan trên hai chiếc Nachi và Haguro thở phào nhẹ nhõm.
Trong cuộc đối đầu vừa qua, hai tuần dương hạm của chúng tôi đã phản pháo khi vừa xoay xong 90 độ nữa. Đồng Minh không còn hy vọng gặp lại chúng tôi trong tình trạng bối rối nầy lần thứ hai, nên họ đã đi thẳng về phía Nam. Họ đã để mất một dịp may bằng vàng. Nếu họ quyết tâm chắc chắn hai chiếc Nachi và Haguro đã bị xóa tên, và họ có thể làm cỏ đoàn chuyển vận hạm như cua mất càng của chúng tôi.
Tóm lại, trận đánh vừa qua lực lượng hải quân Đồng Minh đã chịu đựng thiệt hại nặng nề: tuần dương hạm Exeter của Anh bốc cháy và lê thân về Surabaya. Ba khu trục hạm bị đánh chìm hẳn. Sáu chiếc tàu nầy lại có quyết định dũng cảm tiến về phía Bắc, mưu đánh đoàn tàu chuyển vận của Nhựt một lần nữa, như đã thấy, không may là chúng đã để mất cơ hội thuận lợi nhất. Trên đường rút chạy về hướng Nam, khu trục hạm Jupiter của Anh trong nhóm đã đụng phải một quả thủy lôi của Đồng Minh và chìm cấp kỳ. Nhưng năm chiếc tàu còn lại vẫn chưa chịu rút lui hẳn. Chúng đã quay trở lại, chạy thẳng về hướng Bắc, lẻo đẻo dòm ngó đoàn tàu của chúng tôi, thoạt ẩn thoạt hiện dưới ánh hỏa châu do phi cơ thám thính của tuần dương hạm Jintsu thả xuống.
Trăng sáng nhưng thỉnh thoảng vẫn bị các đám mây che khuất. Năm chiến hạm Đồng Minh đưa ra cố gắng cuối cùng, chạy xuyên qua bóng tối và từng khoảng sáng của ánh hỏa châu soi trên mặt biển, hướng về phía chúng tôi.
Các chiến hạm Nhựt cũng chỉnh đốn hàng ngủ và sẵn sàng dạ chiến. Tất cả đều hăng hái chuẩn bị đánh trận quyết định. Hai tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro luôn luôn canh chừng ở hướng Bắc và theo sự hướng dẫn của phi cơ thám thính. Quá nửa đêm ngày 8 tháng 2 Nachi phát hiện năm tàu địch đang hướng thẳng về phía Bắc. Cả hai chiếc Nachi và Haguro lập tức đuổi theo, song song với năm chiếc tàu của Đồng Minh và sau đó chạy chậm lại để tìm cơ hội tấn công. Tiết kiệm nhiên liệu và đạn dược là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chiến hạm Nhựt, do đó hỏa lực của chúng tôi giới hạn và chỉ bắn khi nào cần thiết.
Lúc 0 giờ 53, Nachi đã phóng 8 thủy lôi và Haguro 1 quả vào các tàu địch chạy ở 60 độ tả mạn, khoảng cách 40.000 thước. Lúc đó mưa mù bổng che phủ mặt đại dương, chiến hạm Nhựt hy vọng tàu địch không thấy thủy lôi để né tránh. Lúc 1 giờ 6 phút, ánh sáng bùng lên trong đêm tối và một cột lửa bốc cao ở hướng Đông Nam. Một thủy lôi đã trúng tuần dương hạm Java. Bốn phút sau, một tiếng nổ khác phát ra cùng hướng, và chiếc soái hạm De Ruyter của địch quân bùng cháy như một cây đuốc. Thủy thủ trên hai chiếc Nachi và Haguro reo hò vang dậy. Họ ôm nhau nhảy múa.
Đề đốc Takagi lạnh lùng nói: “Cuộc chiến đã chấm dứt.” Hai tuần dương hạm Nachi và Haguro xả hết tốc lực chạy về hướng Đông Bắc xuyên qua các vùng mưa luồng trên đại dương. Không gặp chiến hạm nào của địch quân, cả hai chiếc tiến sát đến hai chiến hạm đang bốc cháy. Takagi nói: “Đừng phí đạn với hai chiếc tàu nầy. Để chúng tự hủy lấy!” Cuộc truy lùng chấm dứt lúc 5 giờ 30.
Nghi vấn xảy ra trong ngày là sự di chuyển của tuần dương hạm Houston của Hoa Kỳ và Perth của Úc đại Lợi. Cuộc tìm kiếm vô hiệu quả của Tanaka xa về phía Bắc có thể là lầm lẫn cuối cùng của Nhật Bản trên mặt trận Thái Bình Dương. Khi hai chiếc Java và De Ruyter bốc cháy, cả hai chiếc tàu nầy đã bỏ đi lập tức về hướng Đông Nam, dọc theo bờ biển, nghĩa là không trở về hướng xuất phát cuộc tấn công. Đó là điều kỳ lạ.
Sau 90 phút giữa đêm ngày 01 tháng 3, khu trục hạm Fubuki đã phát hiện hai chiếc tàu mà họ không rõ xuất xứ chạy cách 10.000 thước phía Đông đảo Babi, gần vịnh Banten, và xa trận đánh biển Java vừa xảy ra 500 hải lý. Trung Tá Yasuo Yamashita, hạm trưởng của Fubuki không hiểu hai chiếc tàu bí mật nầy định làm gì nên ông đã cho quay tàu lại và lẻo đẻo theo cách phía sau 8.000 thước. Đó là hai chiếc Houston và Perth. Nhưng có điều khó hiểu là tại sao hai tàu nầy di chuyển trên một hải trình kéo dài 24 giờ mà không bị phi cơ thám thính bay suốt ngày của Nhựt nhìn thấy?
Sau trận đánh biển Java, Houston và Perth còn rất ít đạn dược, và sau khi vượt 500 dậm nữa, với tốc độ 26 hải lý, nhiên liệu cũng gần cạn. Trên đường đến một căn cứ tiếp tế, hai chiếc tàu địch đã kinh ngạc khi nhận thấy đoàn tàu chuyển vận thứ hai gồm 56 chiếc của Nhựt tụ hợp ở vịnh Banten và đang chuẩn bị đổ bộ. Không sợ sệt, cả hai đã khai hỏa vào đám tàu chuyển vận nầy, lúc ấy vào khoảng hơn nữa đêm.
Khu trục hạm Harukaze của Nhựt đã vội vàng tung một màn khói bao che. Cùng lúc ấy, khu trục hạm Fubuki vừa chạy đến, đã phóng 9 quả thủy lôi. Mười hai chiến hạm của đề đốc Akisaburi Hara rối loạn, cho dù trước đó Fubuki đã gọi vô tuyến báo cho các chiến hạm nầy biết có “hai chiếc tàu bí mật đang tiến vào Vịnh”, nhưng ở đây vẫn không chuẩn bị tiếp chiến, rõ ràng họ khinh thường hai tàu chiến đơn độc của Đồng Minh. Sau nầy, một số hạm trưởng cho biết họ dành cả thời giờ để tránh né đạn và thủy lôi của tàu bạn.
Tuy nhiên trong vòng một giờ, cả hai chiếc tàu Đồng Minh đều bị đánh chìm. Ba chuyển vận hạm của Nhựt thiệt hại trầm trọng và chiếc tàu chỉ huy của đoàn chuyển vận bị đánh chìm, khiến đại tướng Lục Quân Hitoshi Imamura bị văng ra ngoài, nhưng sau đó ông đã bơi được vào bờ biển. Thương vong của Nhật tương đối nhẹ.
Một ủy ban điều tra đã nghiên cứu cuộc loạn đấu nầy, nhưng không đưa ra kết luận tại sao các chuyển vận hạm Nhựt bị thiệt hại. Có nhiều ý kiến cho rằng chúng bị thủy lôi do chiếc Fubuki phóng ra ở khoảng cách 7.000 thước.
Trong khi đoàn tàu chuyển vận hoàn tất cuộc đổ bộ thành công ở Surabaya, hai tuần dương hạm Nachi và Haguro đụng địch. Vào buổi trưa cùng ngày, cả hai đã phát hiện ba tàu chiến khác của địch quân gần đảo Bawean và đang hướng mũi về Bắc. Nachi và Haguro, được hai tuần dương hạm Ashigara và Myoko trợ lực, đã đánh chìm cả ba chiếc tàu trong vòng hai giờ, từ 13 giờ 30 đến 15 giờ 30, gồm một tuần dương hạm và một khu trục hạm của Anh, và một khu trục hạm của Hoa Kỳ. Đồng thời, phi cơ thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm của Phó Đô Đốc Nagumo cũng đã đánh chìm 4 khu trục hạm Hoa Kỳ trong tổng số 8 chiếc thoát ra từ eo biển Bali để chạy về hướng Nam.
Sau khi hoàn tất cuộc đổ bộ, kiểm điểm lại đoàn tàu chuyển vận của Takagi không thiệt mất một chiếc nào. Ông đã hoàn thành sứ mạng của ông. Tóm lại, trận hải chiến Java phần thắng lợi ngã về Nhật Bản.
Tuy nhiên, “một loạt sai lầm” của Takagi trong trận đánh nầy đã bị chỉ trích dữ dội. Việc hoang phí đạn dược và khai hỏa ở khoảng cách 28.000 thước của ông lúc trận đánh vừa phát khởi, là bị đả kích nhiều nhất. Khi trận đánh kết thúc, chiếc Nachi chẳng hạn, 10 khẩu 200 ly của nó chỉ còn mỗi khẩu 7 quả đạn. Soái hạm Jintsu của Tanaka lúc đó đã cạn nhiên liệu và hầu như thả trôi trên mặt biển. Sĩ quan pháo binh có vẽ khinh thị Takagi khi nói: “Ông ta là một sĩ quan tiềm thủy đỉnh, làm sao ông ta biết sử dụng trọng pháo”.
Takagi và phụ tá của ông là Nagasawa đã bác bỏ các lời tố cáo. Nhưng không lâu sau đó, ông được chuyển đến chỉ huy một hạm đội tiềm thủy đỉnh, còn Nagasawa trở về Đông Kinh và được bổ nhiệm vào một chức vụ bàn giấy.
Trận hải chiến Java đã dạy cho tôi nhiều bài học. Sau trận nầy, cũng là trận đánh lớn đầu tiên của chiếc Amatsukaze, chúng tôi đứng bên ngoài các trận đụng độ chánh yếu trên Thái Bình Dương. Trận đánh nầy còn có ý nghĩa hơn hàng ngàn buổi diễn tập mà tôi từng tham dự trước đây.

sakaifan
11-25-2009, 09:04 PM
Trận đánh này diễn ra ở eo biển Sunda, hai chiến hạm của Đồng Minh trong nổ lực dũng cảm tấn công các tàu chuyển vận của Nhật Bản và bị lực lượng hộ tống Nhật đánh chìm.
Lực lượng hộ tống bao gồm 2 tuần dương hạm hạng nặng Mogami và Chikuma do Đô Đốc Takeo Kurita chỉ huy và tuần dương hạm hạng nhẹ Natori và các khu trục hạm Harukaze, Hatakaze, Asakaze, Fubuki, Hatsuyuki, Shirayuki, Shirakumo, and Murakumo do Đề Đốc Kenzaburo Hara chỉ huy.
Thiệt hại của Nhật là 1 chuyển vận hạm và một tàu dầu do hỏa lực bạn bắn trúng.
Hai tuần dương hạm bị đánh chìm của Đồng Minh chỉ có 696 thủy thủ thiệt mạng.

baloo2000
11-28-2009, 07:36 PM
Một số chiến hạm tham gia trận hải chiến biển Java - Các chiến hạm đồng minh :

HMS Exeter

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/HMSExeter1R.jpg

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/HMSExeter2R.jpg
--------------------------------
De Ruyter :

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/DeRuyterR.jpg
--------------------------------
Tuần dương hạm hạng nặng của Nhật :

IJN Haguro :

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNHaguroR.jpg
--------------------------------
IJN Nachi :

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNNachi1R.jpg

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNNachi2R.jpg

sakaifan
11-28-2009, 08:29 PM
6
Trưa ngày 28 tháng 2, Đề đốc Raizo Tanaka ra lịnh cho khu trục hạm của tôi đến Bandjermasin để tái nhận nhiên liệu, khi ông tin chắc rằng tất cả chiến hạm đối nghịch trên hải phận gần Surabaya đã được dọn sạch. Tôi được chỉ định hộ tống chiếc tàu bịnh viện Hòa Lan mà chúng tôi đã chận bắt trước khi trận đánh Java mở màn, đến một căn cứ Nhật Bản gần nhứt ở Borneo.
“Khi trở về, tàu của anh phải chở dầu đến mức tối đa,” Tanaka dặn “bởi vì các chiếc khác sẽ lấy dầu từ tàu của anh” Phân đội của tôi đã xuất phát từ Timor để tham dự vào cuộc hành quân nên tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu và hiện thời thiếu hụt trầm trọng.
Chiếc Amatsukaze của tôi chỉ còn đủ nhiên liệu đến Bandjermasin với tốc độ tiện tặn 18 hải lý. Tanaka biết các tàu khác không có khả năng để hoàn tất nhiệm vụ nầy.
Ngang qua đảo Bawean, chúng tôi nhìn thấy cả trăm người đang vùng vẫy trên mặt nước. Tiến gần hơn, chúng tôi biết đó là thủy thủ đoàn của những chiến hạm Đồng Minh bị Nhựt đánh chìm giữa đêm hôm qua. Một rừng tay cầu cứu giơ lên và tiếng kêu vang dậy: “Nước! Nước!”.
Tình cảnh đáng thương tâm. Tôi không thù hằn những đối thủ đã ngã ngựa, nhưng tôi có thể làm gì, khi mà chiếc tàu của tôi chỉ có thể chở bốn năm chục người là cùng. Tôi không thể chỉ cứu phân nửa số người sống sót nầy. Vả lại tàu của tôi cần phải chạy nhanh để lấy nhiên liệu, hơn nữa nếu tôi ngường lại có thể tạo cơ hội cho tiềm thủy đỉnh tấn công.
Tôi chỉ đành biết vẩy tay, và nhắm mắt trước những kẻ sắp chết đuối. Tôi ra lịnh gởi một công điện về Đề Đốc Tanaka: “Hơn 100 địch quân sống sót đang trôi dạt cách đảo Bawean 60 dậm, hướng 270 độ, khẩn nổ lực tiếp cứu.”
Hoa tiêu cẩn thận lái chiếc tàu vượt qua những nhóm người ở dưới nước. Một trong những đại úy của tôi rành tiếng Anh đã la thật to: “Cố gắng! Cố gắng! Một tàu cứu hộ sẽ đến ngay.”
Sau khi nhận nhiên liệu ở Bandjermasin, chúng tôi trở về Surabaya vào ngày 1 tháng 3. Ngang qua Bawean, tôi nhìn quanh, nhưng không còn thấy bóng dáng một thủy thủ sống sót nào của Đồng Minh trên mặt nước. Ngày hôm qua chúng tôi không nghe một hoạt động tiếp cứu nào trong khu vực nầy. Trái tim tôi bổng nhiên chùn xuống.
Trên hải trình tiếp tục trở về Surabaya, chúng tôi phát hiện một tiềm thủy đỉnh địch quá trể, lúc tàu chúng tôi đã vượt qua khoảng cách quá xa. Tôi bỏ quyết định quày lại để tấn công. Chúng tôi kết hợp với Phân đội của Tanaka vào ngày hôm đó, và đến 20 giờ 30, tất cả các chiến hạm hoàn tất việc tái tiếp nhận nhiên liệu. Tuần dương hạm Jintsu và bốn khu trục hạm phối hợp, mở ngay một cuộc săn tiềm thủy đỉnh địch quân mà chiếc Amatsukaze đã phát hiện. Đêm hôm đó, trời u ám, tầm quan sát bị giới hạn, nhưng mặt biển lặng sóng nên chúng tôi hy vọng có thể khám phá ra các mục tiêu dễ dàng.
Một cuộc săn đuổi tiềm thủy đỉnh không có ra đa là một trò chơi đầy kiên nhẫn đối với các chiến hạm Nhật. Mọi khám phá đều tùy thuộc cả vào đôi mắt thường của quan sát viên và dụng cụ sonar không mấy hiệu quả của chúng tôi. Năm chiếc tàu chạy với tốc độ 18 hải lý theo hình chữ chi, nhưng suốt 6 giờ vẫn không tìm thấy một dấu vết nào. Mọi người tỏ vẽ chán nản và mệt mõi.
Sáng sớm ngày 2 tháng 3, bổng quan sát viên Migita la to: “Một điểm đen, 40 độ tả mạn. Hình như một tiềm thủy đỉnh!” mọi người trên đài chỉ huy đều dõi mắt nhìn. Tôi dùng ống nhòm, nhưng vẫn không thấy gì trên mặt biển đầy sương mù lúc ấy. Migita lại nói: “Điểm đen bây giờ giống như một mảnh rác.” Mọi người thất vọng. Riêng tôi, hiện tại qua ống nhòm đã nhìn thấy điểm đen giống như mảnh vở của một chiếc xuồng. Chán nản mệt mỏi lại ùa đến qua các phát hiện ấy.
Lúc 8 giờ 40, quan sát viên hữu mạn Bumichi Ikeda kêu lên: “không biết vật gì, hướng 30 độ… có thể là một tiềm thủy đỉnh.” Tất cả các cặp mắt đều mở bét ra để nhìn. Ikeda lại la: “Đúng là tiềm thủy đỉnh.”
Đôi mắt sắc bén của Iwata, quan sát viên có thể nhìn xa 20.000 thước trên mặt biển, gấp đôi các quan sát viên khác, nhìn chăm chú về phía trước, xoay lại nói một cách khoan khoái: “Tiềm Thủy Đỉnh không còn nghi ngờ gì nữa.”
Tôi bước đến ông nhắm của khẩu đại bác 127 ly và quan sát. Một chiếc tiềm thủy đỉnh không sai, ở xa khoảng 6.000 thước. Tôi ra lịnh: “Tốc lực chiến đấu số 2 (26 hải lý), 50 độ phải. Mọi người vào vị trí chiến đấu. Xạ thủ sẵn sàng hành động. Bật đèn dò tìm tàu địch! Chuẩn bị thủy lôi nổ ngầm!.”
Hoạt động nhộn nhịp và chiếc tàu gia tăng tốc độ. Khu trục hạm Hatsukaze cho biết là đang theo sau chúng tôi. Tôi ra lịnh bật “đèn xanh” (tức tốc độ 26 hải lý)
Iwata bây giờ la lên: “Tiềm thủy đỉnh trồi lên mặt nước xa 3.500 thước.”
Đại úy Akino trên đài kiểm soát hỏa lực nói lớn: “Các pháo khẩu sẵn sàng khai hỏa, thưa hạm trưởng.”
Tôi đáp: “ Chúng ta sẽ khai hỏa khi mục tiêu còn cách 2.500 thước, 60 độ hữu mạn.” Tiềm thủy đỉnh địch nổi hẳn trên mặt biển. Sáu khẩu 127 ly và đèn rọi tìm tàu địch của chúng tôi xoay một góc 60 độ.
Amatsukaze vẫn tiếp tục chạy thẳng đến mục tiêu và khi còn cách 2.700 thước chiếc tàu quanh trái, xoay tất cả họng súng vào tiềm thủy đỉnh địch quân. Một phút sau, hai trọng pháo khai hỏa, và các trọng pháo kế tiếp. Chiếc tiềm thủy đỉnh trúng hai quả đạn trực tiếp, bừng cháy, chìm thật nhanh và biến mất giữa các lượn sóng nước trước khi chúng tôi chạy đến. Chúng tôi thả thêm 2 khối chất nổ ngầm cho chắc ăn trước khi rời mục tiêu. Các sonar của chúng tôi không phát hiện được dấu vết nào khác ngoài vết dầu nổi lên mặt nước.
(Đây là tiềm thủy đỉnh Perch (SS.176) chưa bị hủy diệt trong cuộc tấn công nầy. Perch xuất hiện lại vào sang ngày 3 tháng 8 (tức ngày hôm sau cuộc tấn công của Amatsukaze), lần nầy nó đụng đầu với hai khu trục hạm Nhựt và mới bị loại khỏi vòng chiến thực sụ)
Hai giờ sau chúng tôi quay lại khu vực, vì chỉ một vài sĩ quan và thủy thủ đứng phía trên nhìn thấy chiếc tiềm thủy đỉnh bốc cháy, nên còn nhiều người khác tỏ vẻ nghi ngờ. Dầu vẫn tiếp tục trồi lên ở khoảng nước mà tiềm thủy đỉnh đã chìm. Bây giờ toàn thể thủy thủ đoàn mới thực sự tin tưởng.
Đêm kế đó chúng tôi tiếp tục cuộc săn đuổi, mặc dù thời tiết quá xấu và mưa lớn liên miên khiến mọi dụng cụ quan sát đều vô dụng.
Khoảng 20 giờ 30 đêm đó, tôi nhìn thấy một đốm sáng mong manh cách nhiều ngàn thước trước mũi chiếc Amatsukaze. Đóm sáng chỉ lóe lên một lần rồi tắt ngấm, giống như một diêm quẹt. Phải, có lẽ một người đã quẹt diêm để hút thuốc trên sân tàu. Tôi ước lượng ánh sáng lóe lên ở khoảng cách 4.000 thước chánh Bắc, tức hướng tiến của Amatsukaze.
Tôi cho tàu gia tăng tốc lực chạy thẳng đến mục tiêu. Đó là một chiếc tiềm thủy đỉnh địch nổi lên mặt nước và đang di chuyển khá mau về phía Đông. Amatsukaze gia tăng tốc lực lên 26 hải lý và đảo về phía trái để chạy song song với chiếc tiềm thủy đỉnh ở khoảng cách 2.300 thước. Qua ánh đèn rọi, chúng tôi thấy tàu địch có kích thước trung bình.
Khẩu đội thứ nhứt khai hỏa, nhưng không trúng mục tiêu. Ngay lập tức tôi nhìn thấy hai làn trắng xóa vạch trên mặt nước vượt cách mũi chiếc Amatsukaze một vài thước. “thủy lôi !” Một thủy thủ la lên. Xương sống tôi ớn lạnh. Nổi sợ hải của tôi biến mất một vài giây sau đó khi hai quả đạn của khẩu đội thứ hai trúng mục tiêu. Và hai quả đạn của khẩu đội thứ ba biến chiếc tiềm thủy đỉnh thành ngọn lửa, và ngọn lửa nầy từ từ biến mất trong làn sóng.
Chúng tôi rời khỏi khu vực vào lúc 23 giờ 45 sau khi các máy sô na của chúng tôi không khám phá được dấu vết nào chứng tỏ mục tiêu còn tồn tại.
Ngày hôm sau thời tiết trong sáng, và đêm đến chúng tôi trở lại khu vực cũ. Nơi đây, chúng tôi chú ý đến một vệt dầu nổi trên mặt nước, giống như khói tuôn ra từ một miệng núi lửa ngầm dưới biển. Thủy thủ đoàn được gọi ra để nhìn thấy kết quả của việc làm đồng đội của họ. Không lộ hẳn sự thích thú như đêm trước, nhưng mọi người đều tỏ vẻ hài lòng. Thừa dịp thủy thủ đoàn tụ hợp trên sân tàu, tôi nói với họ: “Các bạn đã nhìn thấy sức mạnh của việc phối hợp đã đưa đến kết quả tốt đẹp như thế nào. Các bạn làm tròn bổn phận, tôi rất hài lòng. Từ khi khởi đầu cuộc chiến, chúng ta đã trãi qua nhiều tháng quây quần bên nhau mà không mất mát một người nào. Chúng ta hãy hy vọng sẽ luôn luôn được sự may mắn nầy. Các bạn đã làm tròn nhiệm vụ trong những ngày đã qua, nhưng tôi chắc chắn các bạn sẽ làm tốt hơn trong những ngày sắp tới.”
“Hãy nhìn dòng dầu nổi lên mặt nước kia! Nó phát ra từ một chiếc tiềm thủy đỉnh địch và cũng là chiếc mồ khổng lồ chon hơn 100 người. Những người nầy chết chỉ vì sự dại dột của một đồng đội, hắn ta đã hút thuốc trong đên tối lúc chiếc tàu nổi lên mặt nước. Tôi đã nhìn thấy que diêm lóe sáng và hậu quả xảy ra.”
“Thủy thủ địch được huấn luyện kỷ, nhân viên thủy lôi của họ tài ba, nên mặc dù chúng ta chiến thắng nhưng chiến thắng đó rất chật vật. Nếu không vì một thủy thủ của chiếc tiềm thủy đỉnh dại dột, chiếc Amatsukaze nầy sẽ là mồ chôn 250 người chúng ta. Chiến tranh là như vậy. Từ đó, tôi tin rằng mỗi người trong các bạn đã rút tỉa được một bài học.”
“Các bạn cũng nên biết tôi là một tay nghiện thuốc là nặng từ hai mươi năm nay. Nhưng đêm vừa rồi, khi chúng ta đánh chìm chiếc tiềm thủy đỉnh nầy, tôi đã bỏ hút. Tôi làm như vậy không phải để các bạn bắt chước theo tôi nhưng để mỗi lần nhớ đến tôi, các bạn sẽ nhớ đến câu chuyên mà tôi vừa nói. Trong tư cách hạm trưởng của các bạn, tôi có trách nhiệm đối với mạng sống của các bạn, và vì vậy tôi phải nêu gương trước.”
“Bây giờ chúng ta hãy dành một phút mặc niệm cho những người đã chết. Mặc dù họ là kẻ thù, họ đã chết cho xứ sở của họ, và vì vậy đáng cho chúng ta dành cho họ phút giây ngắn ngủi nầy.”
Sau khi mặc niệm, tôi gọi Ikeda, quan sát viên đã phát hiện chiếc tiềm thủy đỉnh vào ngày 2 tháng 3, móc túi thưởng cho anh ta 10 yên (khoảng 2.500 VN theo thời giá), kèm theo một gói tặng phẩm và 10 ngày phép đặt biệt. Buổi họp chấm dứt với lời hoan hô của mọi người dành cho Ikeda.
Vào ngày 6 tháng 3, Amatsukaze và Hatsukaze trở về Bandjermasin để tái nhận nhiên liệu, đạn dược và đồ tiếp tế. Trong lúc ở đây, tôi đến viếng chiếc tàu bịnh viện Hòa Lan để dò hỏi tin tức số thủy thủ địch mà chúng tôi gặp trôi nổi gần đảo Bawean một tuần trước đây. Tôi hêt sức vui mừng khi biết được hầu hết số người nầy đã được giải cứu, và hiện có mặt trên chiếc tàu bịnh viện, cùng với 1.000 tù binh khác. Nhìn đám đông dồn chung trêm một chiếc tàu nhỏ bé, tôi nhớ lại những ngày còn là sinh viên sĩ quan và chuyến huấn luyện ở Mỹ Châu và Âu Châu. Trong nhóm tù binh nầy chắc có một số tôi đã từng gặp. Hoàn cảnh hiện tại của họ thật đáng buồn, và tôi thầm nhủ là không bao giờ nên để rơi vào tay địch quân.
Những ngày còn lại của tháng 3, không có gì đáng nói. Vào ngày cuối cùng của tháng nầy, khu trục hạm Amatsukaze tham dự vào cuộc chiếm đảo Christmas, cách Java khoảng 200 dậm. Hòn đảo lẻ loi nầy không chỉ là một địa điểm chiến lược mà còn có nhiều quặng sắt. Cuộc hành quân nầy suông sẽ nhứt so với các cuộc hành quân khác mà tôi từng tham dự trước đây. Cuộc đổ bộ được hơn một chục oanh tạc cơ, hai tuần dương hạm, bốn khu trục hạm Nhựt oanh tạc và pháo kích dọn đường. Bảy giờ sáng hôm đó, hơn 100 quân phòng thủ người Anh đã đầu hàng ngay trước khi cuộc đổ bộ hoàn tất, tất cả bị bắt làm tù binh và trở thành phu khuân vác các tài nguyên của hòn đảo xuống bến tàu.
Có một việc cần nói vào ngày thứ hai của cuộc hành quân êm đẹp nầy. Lúc 8 giờ 05 phút tôi nhìn thấy một làn nước sủi bọt giống như mũi tên lao đến tuần dương hạm Naka, soái hạm của chúng tôi. Đó là một trái thủy lôi được phóng ở khoảng cách không hơn 700 thước và một góc 50 độ phía hữu mạn của chiếc Naka. Soái hạm vội xoay hướng nhưng không kịp. Thủy lôi trúng giữa thân tàu và phá vở một lổ hỏng 5 thước, nhưng không có thủy thủ nào thiệt mạng. Đó là một phép lạ.
Bốn khu trục hạm Nhựt và tuần tiểu đỉnh xông ra và thả xuống nước nhiều khối chất nổ ngầm để hủy diệt chiếc tiềm thủy đỉnh địch vừa phóng thủy lôi, nhưng nó đã cao bay xa chạy (Sau nầy chúng tôi biết đó là chiếc Seawolf của Hoa Kỳ đã liều lĩnh len lỏi vượt qua mũi súng của bốn khu trục hạm Nhựt để mưu đánh chìm cho được soái hạm Naka).
Mặc dù 800 tấn nước tràn vào, nhưng chiếc Naka vẫn không chìm vì đóng chặt các ô riêng rẻ trong tàu kịp thời. Được 7 khu trục hạm hộ tống, soái hạm lê lết trở về Nhựt để sửa chửa lại mất nhiều tuần lễ. Đó là cái giả phải trả cho tánh tự mãn. Tất cả chúng tôi đều chia sẽ lỗi lầm nầy, và riêng tôi lại học được một bài học nữa.
(Tuần Dương Hạm Naka là chiếc cuối cùng của class tuần dương hạm nhẹ Sendai, lớp nầy gồm 3 chiếc: Sendai, Jintsu và Naka, trọng tải 5195 tấn, đóng năm 1922 hoàn tất trang bị và sử dụng vào tháng 10 năm 1925. Lớp tuần dương hạm Sendai thường được dùng làm soái hạm cho các phân đội khu trục hạm. Trang bị 7 pháo khẩu 140 mm, 4 ống phóng thủy lôi, tốc độ chạy tối đa gần 36 hải lý, và mang theo được một thủy phi cơ thám thính. Chiếc tuần dương hạm nầy tuy già nua nhưng tham dự hầu như các cuộc hành quân lớn từ khi bắt đầu cuộc chiến Thái Bình Dương cho đến năm 1944, Naka bị đánh chìm gần quân cảng Truk do các oanh tạc cơ SB2C Helldiver và máy bay phóng thủy lôi Avenger từ hai hàng không mẫu hạm Bunker Hill và Cowpens không tập Truck vào ngày 2 tháng 2 năm 1944, 210 người sống sót trong đó có hạm trưởng cuối cùng của Naka, Đại Tá Yoshimasa Sutezawa)

sakaifan
11-29-2009, 11:43 PM
PHẦN BA
CHUYẾN XE LỬA TỐC HÀNH ĐÔNG KINH

Cuộc đổ bộ đảo Christmas đánh dấu sự kết thúc giai đoạn đầu tiên các cuộc hành của Nhật Bản ở Đông Nam Á. Mặt trận Thái Bình Dương cũng lắng dịu hơn một tháng sau ngày đổ bộ,
Vào ngày 3 tháng 4, chúng tôi được lịnh rời bỏ nhiệm vụ hộ tống soái hạm Naka gần Surabaya và kết hợp với hạm đội ở biển Java. Ngày kế, chúng tôi đến Batavia và trưa đó lên đường đến Macassar. Nơi đây chúng tôi lưu lại năm ngày để kiểm soát lại máy móc và vũ khí. Thành phố nầy nhộn nhịp, cửa hàng buôn bán tấp nập với mọi loại nhu yếu phẩm khó tìm thấy ở Nhựt trước đây.
Đa số dân chúng Nhựt đều tin tưởng Nhật Bản se tự tìm kiếm một nền hòa bình vào mùa xuân năm 1942, thay vì cho đợi các điều kiện hòa binh do Đồng Minh đưa ra sau khi chúng tôi vẫy những lá cờ trắng. Nhưng những tháng đầu năm 1942 trôi qua, và Chánh Phủ Nhật không hề mưu tìm một nền hòa bình nào hết. Thật vậy, các chính trị gia và các nhà lãnh đạo quân sự Nhựt đều khăng khăng tin tưởng việc chiếm đóng Đông Nam Á trở thành vĩnh viễn, với nguồn tài nguyên vô tận của khu vực vĩ đại nầy, Nhật Bản sẽ không thể nào bị đánh bại.
Từ Macassar chúng tôi chạy đến Surabaya, và cuối cùng vào ngày 17 tháng 4, chúng tôi được lịnh quay về Nhật Bản. Mọi người đều hớn hở, những thủy thủ bị động viên mơ mộng được giải ngủ. Họ cũng hy vọng chiến tranh chấm dứt. Nhiều sĩ quan có thể không nhìn thấy các viễn cảnh màu hồng nầy, nhưng được dịp trở về quê hương đã khiến họ vui mừng không kém gì binh sỹ.
Chúng tôi rời khỏi Surabaya để trở về Macassar, và ngày hôm sau chúng tôi kết hợp với một nhóm khu trục hạm hộ tống một đoàn tàu chuyển vận đồng, dầu hỏa và thực phẩm về Nhựt. Chuyến đi bình thường nhưng đầy hân hoan. Khi tiến vào hải phận của xứ sở, và nhìn thấy bóng dáng các hòn đảo Nhật Bản thấp thoáng ở chân trời, mọi người đều nhảy nhót vui mừng. Ngày 2 tháng 5, Amatsukaze và các khu trục hạm khác lặng lẽ chạy vào hải cảng Kure. Biển Nhật Bản với nhiều trăm hòn đảo lấm tấm là một quang cảnh chào đón đầy êm ả. Lũ hải âu dậy tiếng như chào mừng ngày chúng tôi trở về.
Nhật Bản không giống những xứ nóng khác. Vùng biển ở phía Nam như một rừng hoa rực rỡ dưới ánh nắng nung nấu và vạn vật đều óng ả. Trở về quê hương, tất cả màu sắc có vẻ dịu dàng, ve vuốt. Chúng tôi mất dịp ngắm mùa hoa anh đào nở vào đầu tháng 4, nhưng những lá non xanh mướt trên cành đối với chúng tôi chẳng khác nào những nụ hoa.
Ngày hôm sau, tôi ra lịnh mở rộng quầy hàng trên tàu, và mọi người muốn mua sắm bao nhiêu tùy ý. Đại úy Noro Iwabuchi, phụ tá của tôi, lên bờ để sắp xếp một bữa tiệc cho thủy thủ đoàn. Sau khi đặt 240 phần ăn ở nhà hàng Morisawa. Iwabuchi báo cáo với tôi rằng: “Nhà hàng cho biết là không chắc cung cấp đầy đủ phần ăn cho tất cả chúng tôi, bởi nhiều chiếc tàu bạn cũng mở tiệc tại các nhà hàng trong thành phố khiến thực phẩm trở nên khan hiếm, nhưng bù lại nhà hàng có rất nhiều rượu ngon.”
Khi bữa tiệc nầy được thông báo, thủy thủ đoàn Amatsukaze đều nhảy nhót vui mừng. Chỉ mười thủy thủ đoàn kém may mằn vì phải ở lại tàu đảm trách việc canh gác, tât cả số còn lại lên bờ vào lúc 17 giờ. Thành phố Kure phồn thịnh đầy dẫy thủy thủ, các nẽo đường hầu như bị họ dẫm nát.
Để hổ trợ nhà hàng, chúng tôi mang theo nhiều đồ ăn hộp. Chỉ có năm geisha phục dịch cho cả bữa tiệc hơn 200 người của chúng tôi, nên họ phải chật vật lắm mới cung phụng thức ăn và uống đầy đủ. Một vài cô geisha trong số nầy cũng đem vui vẻ thêm cho bữa tiệc qua các màn ca múa của họ. Rượu uống tự do làm bừng chí thực khách, nhiều thủy thủ của tôi nhảy ra tiếp tay bưng dọn với năm cô geisha, và họ còn ca múa nữa.
Tôi được mỗi thuộc cấp mời một ly rượu. Tôi không từ chối một ai. Tôi không biết mình đã uống bao nhiêu ly sake từ đầu cho đến khi bữa tiệc chấm dứt vào lúc nữa đêm, nhưng tôi cảm thấy còn đứng vững.
Ngày hôm sau, mỗi thủy thủ được cấp từ ba đến sáu ngày phép. Đi phép đợt ba, tôi đáp chuyến xe lửa đêm để về nhà. Tim tôi đập rộn ràng khi xe lửa tiến vào thành phố Kamakura vào sáng ngày 4 tháng 5. Những rặng thông bao phủ thành phố cổ 800 năm nầy đang thì thầm trong gió biển.
Vợ tôi và ba con ra chờ đón tôi ở sân ga. Tất cả đều hân hoan thấy tôi trở về. Nhà tôi chỉ cách ga xe lửa 20 phút đi bộ, nhưng tôi cảm thấy lần trở về nầy là lần trở về vinh quang, và tôi gọi ngay một chiếc taxi.
Vào nhà, tôi mở ngay gói quà mà tôi đã mua từ miền Nam. Nhưng sô cô la làm cho các con tôi hớn hở vì ở đây hiếm khi có loại nầy. Buổi chiều hôm đó, ông bạn láng giềng lâu năm của chúng tôi là Tanzan Ishibashi sang thăm. Chúng tôi nhận lời mời dùng cơm tối với ông. Ishibashi là chủ nhiệm kiêm Chủ Bút Tạp Chí Toyo Keizai. Theo tôi, ông là một người thông thái và khôn khéo hiếm có, nhưng tôi không bao giờ tưởng tượng có một ngày ông cầm đầu Nội Các Nhật Bản.
Bữa cơm hoàn toàn vui vẽ. Sau đó, tôi với ông ngồi nhấm nháp sake. Là một kinh tế gia, ông muốn nghe tình hình ở Đông Nam Á. Ông hỏi: “ hải quân của chúng ta có đủ khả năng kiểm soát khu vực rộng lớn nầy và bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú ở đó, để cung ứng cho các cơ xưởng kỹ nghệ Nhật Bản hay không?”
Với một người nhìn xa hiểu rộng như ông, tôi không thể che đậy sự thật được. Tôi đáp: “chúng ta đã đạt được một số chiến thắng, việc nầy đơn giản là địch quân đã không biết yếu điểm của chúng ta. Cũng như tôi, chức ông biết khả năng sản xuất vô tận của Đồng Minh. Không có một chổ nào dành cho sự lạc quan của Nhật Bản trong cuộc chiến nầy.”. Ông chú ý những gì tôi thành thật trình bày. Chế độ kiểm duyệt hiện thời khiến ông không hiểu biết những sự thật của cuộc chiến nầy.
Vào năm 1956, ngay trước khi trở thành Thủ Tướng, cuốn sách viết về kinh nghiệm trong cuộc chiến của tôi ấn hành ở Nhựt đã được ông đề tựa với những lời khen tặng mà tôi nghĩ không xứng đáng nhận lãnh. Trong đó ông viết rằng cuộc đàm đạo buổi chiều vào năm 1942 đã khiến ông xem tôi như là một sĩ quan hải quân phi thường.
Sáu ngày phép trôi qua nhanh chóng. Có lịnh gọi tôi trở về tàu lập tức, để chờ đợi nhận sự bổ nhiệm mới không biết vào lúc nào. Để kéo dài thời gian gần gũi với gia đình, tôi mang tất cả đi theo tôi đến Kure vào ngày 10 tháng 5. Các con tôi tỏ ra thích thú vì được đi xa lần đầu tiên, nhứt là khi chúng tôi vào ngụ trong một khách sạn. Sắp xếp công việc xong xuôi, chúng tôi đi dạo phố hoặc leo núi.
Các bửa ăn ở câu lạc bộ sĩ quan thuộc căn cứ hải quân Kure đã làm cho cả gia đình tôi hài lòng, vì ở đây có những món ăn không thể tìm thấy trong thành phố, và nhiều năm sau nầy các con tôi vẫn còn nhắc nhở, đặt biệt vào những ngày thiếu thốn khi Nhật Bản đầu hàng.
Tôi về Kure được 4 ngày thì có lịnh thuyên chuyển hầu hết các thủy thủ đoàn của tôi. Tất cả các sĩ quan cùng phân nữa hạ sĩ quan và binh sỹ rời khỏi chiếc Amatsukaze. Mỗi ngày, các sĩ quan và binh sỹ đầy kinh nghiệm của tôi lần lượt lên đường sang các tàu mới, nhường tàu cũ cho các sĩ quan vừa ra trường và binh sỹ tân tuyển. Những cuộc hoán chuyển nầy thường xảy ra trong hải quân. Tôi không hiểu Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã nghĩ như thế nào khi cho thi hành việc nầy. Thủy thủ đoàn đã được huấn luyện thuần thục của tôi bị chia manh xẻ mún, thật là một điều đáng tiếc. Các hạm trưởng khác cũng cảm thấy như tôi. Phải mất ít nhất hai tháng mới mong khép những tay lính mới nầy vào qui cũ, những kẻ chưa hề biết làm việc tập thể là gì. Và những gì sẽ xảy ra nếu ngay bây giờ họ được giao phó nhiệm vụ chiến đấu?
Khi kế hoạch hành quân Midway được tiết lộ vào ngày 20 tháng 5, tôi nghĩ Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã mất hẳn khôn ngoan. Tin tức gây ngạc nhiên nầy, tôi đã được đề đốc Raizo Tanaka cho biết riêng ở căn cứ hải quân Kure. Tôi lấp bấp hỏi: “Thưa Đề Đốc, như vậy nghĩa là sao? Chúng tôi sẽ tham dự hành quân với thủy thủ đoàn nầy à?”
Tanaka có vẻ chán nản: “Hừ…! Tôi mong chuyện nầy không có thật.”
Phân đội của Tanaka, gồm một tuần dương hạm và sáu khu trục hạm, lặng lẽ rời Kure vào ngày 21 tháng 5. Với tốc độ 20 hải lý, chúng tôi hướng về Saipan, nơi đây những “lịnh đặt biệt” đang chờ đợi chúng tôi. Ngày kế đó, tôi nghe tiếng la hét giận dữ và tiếng vật gì đó va chạm nên tôi bước lên sân tàu để xem. Tôi thấy Đại úy Kazue Shimizu, tân sĩ quan pháo thuật, đang to tiếng với một thủy thủ có lẽ đã phạm phải lầm lỗi, và sau đó Shimizu cung tay thoi anh nầy. Tôi tức giận hỏi: “ Gì đó?.”
Shimizu xoay lại tôi, đôi mắt vẫn còn hằn học: “Thưa Trung Tá, tên nầy thấy tôi không chào. Tôi trị nó.”
Tôi hỏi tên thủy thủ: “Đúng như vậy không?”
“Đúng, thưa Trung Tá.” Hắn ấp úng đáp. Mặt hắn sưng phù vì nhận lãnh cái thoi vừa rồi.
Tôi hơi xúc động khi thấy thủy thủ nầy là Ikeda, quan sát viên được ban thưởng vì đã khám phá ra chiếc tiềm thủy đỉnh địch gần Surabaya. Tôi mạnh mẻ cảnh cáo anh ta và yêu cầu Shimizu theo vào phòng riêng của tôi. Hắn thoáng ngơ ngác nhưng vẫn im lặng đi theo tôi. Sau đó, tôi đóng cửa phòng và mời Shimizu ngồi trên chiếc ghế đẫu.
Tôi rất bực cảnh vừa rồi, nhưng tôi đã cố dằn xuống. Tôi nói: “Shimizu, anh có thể hút thuốc, đây là câu chuyện giữa một người và một người, không phải giữa hạm trưởng và sĩ quan pháo thuật. Tôi không muốn chỉ trích anh hoặc bảo vệ người lầm lỗi. Nhưng tôi phải trình bày rõ với anh là tôi không chủ trương duy trì kỷ luật bằng hình phạt thể xác. Tôi không hiểu phương pháp chỉ huy của hạm trưởng trước đây của anh như thế nào, nhưng tôi tin rằng một thủy thủ khu trục hạm phải hoàn toàn duy trì việc làm có tánh cách đồng đội. Đó là lối chiến đấu hữu hiệu nhứt. Tất cả 250 người trên chiếc tàu nầy phải làm việc như một người. Tất cả phải chung lưng đấu cật trong tình chiến hữu và sự hòa thuận”
Shimizu chăm chú lắng nghe, hình như hắn không hài lòng nhưng không nói ra.
“Duy trì việc làm đồng đội tốt và một trật tự thích đáng không phải dễ dàng. Nhưng tôi đã từng làm được mà không cần phải áp dụng hình phạt thân xác. Việc khó, nhưng phải làm cho được. Nếu thấy khó khăn, lần sau gặp trường hợp vừa rồi hãy báo cáo cho tôi biết để tôi quyết định.”
Shimizu im lặng nhìn xuống. Tôi nhấn chuông và yêu cầu ba sĩ quan cầm đầu ba ngành khác đến gặp tôi. Tất cả đều là người mới. Đại úy Shigeo Fujisawa, cơ khí trưởng, Trung úy Masatoshi Miyoshi, sĩ quan thủy lôi trưởng, và Đại úy Kinjuro Matsumoto, hoa tiêu trưởng, đến phòng tôi nhanh chóng. Mặt cả ba có vẻ khẩn trương, dĩ nhiên là do lịnh gọi bất thình lình của tôi. Tôi nói ngay: “Tôi vừa thấy Shimizu đánh một thủy thủ một cách ngang nhiên. Đây là lần đầu và cũng là lần cuối, tôi không muốn cảnh nầy tái diễn trên chiếc Amatsukaze. Tôi không cho phép đánh đập thủy thủ đoàn của tôi. Đó là lịnh cho quí vị.”
Tất cả rút lui, và lưỡi tôi như có vị chua chát. Tôi cảm thấy bực bội vô tả. Với một thủy thủ đoàn vá víu thế nầy, tôi làm sao đủ thời giờ khép họ vào qui cũ để tham dự một cuộc hành quân quan trọng sắp xảy ra? Tôi nhớ lại những kinh nghiệm đã trải qua ở Eta Jima những năm trước đây, và tôi vẫn không thể quên được những tên bịnh hoạn được trao quyền tự do đánh đập tôi. Đánh đập người như đánh đập súc vật trên một chiếc khu trục hạm không khác nào tước đoạt sáng kiến của thuộc hạ. Trên một khu trục hạm, mỗi người đều phải đâu lưng làm việc, vì chỉ như vậy mới có thể đòi hỏi một thủy thủ khu trục hạm tận dụng năng lực của mình, thường thường gấp đôi, trong các cuộc hành quân.
Tôi quyết định dành nhiều thời giờ đích thân theo dõi công việc trên tàu. Tôi luôn luôn nghe la hét giận dữ, nhưng không thấy sĩ quan nào đánh đập thuộc cấp nữa.
Chuyến đi dài 1.400 dậm hoàn toàn yên tỉnh, và sáng ngày 25 tháng 5 chúng tôi đến Saipan. Mười sáu tàu chuyển vận khởi hành từ Truk chất đầy 3.000 binh sỹ bộ binh và 2.800 thủy thủ cũng đã đến. Trong hải cảng nầy còn có hơn chục chiếc tàu săn tiềm thủy đỉnh, tuần tiểu đỉnh, trục lôi hạm và tàu chở dầu. Ngày hôm sau, trong một cuộc hợp chiến thuật gồm các vị hạm trưởng, cuộc hành quân Midway được chánh thức công bố. Lịnh hành quân chi tiết được trao cho mỗi sĩ quan. Theo đó, chiếc Amatsukaze lãnh nhiệm vụ hộ tống lực lượng đổ bộ Midway.

sakaifan
11-30-2009, 11:39 PM
Kế hoạch hành quân Midway có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 5 năm 1942. Ngày kế đó, Lực Lượng Đặc Nhiệm của Phó Đô Đốc Nagumo rời khỏi biển Nhật Bản trực chỉ đến Midway. Từ Saipan, lực lượng đổ bộ được các khu trục hạm hộ tống lên đường vào ngày 28 tháng 5. Độ chừng tiềm thủy đỉnh địch thế nào cũng theo dõi, chúng tôi giả vờ chạy về hướng Tây, sau đó quay sang hướng Nam. Đồng thời với cuộc khởi hành của chúng tôi, phân đội của Đề Đốc Takeo Kurita, gồm ba tuần dương hạm và hai khu trục hạm cũng rời khỏi đảo Guam.
Thành phần chánh của Hạm Đội Hổn Hợp do chiếc siêu thiết giáp hạm tối tân Yamato, soái hạm của Đô Đốc Yamamoto, dẫn đầu rời khỏi biển Nhật Bản vào ngày 29 tháng 5. Ngày trước đó là ngày kỉ niệm thứ 37 cuộc chiến thắng hạm đọi Nga Sô ở eo biển Tsushima vào năm 1905 của Nhật Bản. Một điềm lành báo trước, nhưng qua linh tính, tôi cảm thấy có một cái gì sai lầm trong cuộc hành quân nầy và tim tôi như chùng xuống.
Sáu ngày nồi tiếp trôi qua đều đặn. Khoảng 6 giờ sáng ngày 3 tháng 6, một thủy phi cơ địch xuất hiện vài dậm phía trước đoàn tàu chốc lát rồi biến mất. Nhưng chắc chắn chiếc phi cơ nầy đã ghi nhận đoàn tàu của chúng tôi đang hướng về Midway, lúc đó chỉ còn cách phía Đông Nam hòn đảo nầy 600 dậm.
Vào xế trưa, nhiều phi cơ địch bay đến từ phía Nam. Soái hạm Jintsu của Tanaka khai hỏa. Phi cơ địch tránh ra xa, chờ khi tiếng súng dứt chúng quay lại. Jintsu vẫn khai hỏa, nhưng không trúng, và cuối cùng những phi cơ nầy bay mất dạng. Vì không được sự bao che của không quân, nên đoàn tàu của chúng tôi có vẻ nao núng. Nhá nhem tối phi cơ địch quày lại, và lần nầy bay xà thấp nên chúng tôi có thể nhận ra đó là 9 chiếc pháo đài bay B.17.
Tất cả các khu trục hạm đều khai hỏa. Không một phi cơ địch nào trúng đạn, và trước khi bay đi, các oanh tạc cơ 4 máy thả nhiều trái bom, rớt nổ cách chúng tôi 1.000 thước. Quá nữa đêm, bốn oanh tạc cơ địch lại xuất hiện và thả nhiều trái thủy lôi. Một trong những trái thủy lôi trúng ngay chiếc tàu chở dầu Akebono Maru, gây cho 11 người thiệt mạng và 13 người khác bị thương. Nhưng chiếc tàu không chìm vì khu vô nước được ngăn lại kịp thời, và có thể di chuyển theo đoàn tàu chuyển vận chạy chậm chạp.
Chúng tôi hiểu rõ đang phải đối đầu với một địch quân đã chuẩn bị sẵn sàng, nhưng các cố gắng ngăn chặn trước đoàn tàu của chúng tôi như vậy được xem là yếu kém và vụng về. Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo có thể nghiền nát địch quân với các quả đấm ngàn cân của nó.
Bình minh ngày 5 tháng 6, thời tiết u ám, mây giăng kín bầu trời, nhưng đứng gió. Đứng trên đài chỉ huy của chiếc Amatsukaze, mí mắt tôi nặng trĩu sau một đêm không ngủ. Với thời tiết nầy, nếu phi cơ địch thình lình từ trong các đám mây bay thấp xuất đầu lộ diện tấn công, thật khó cho chúng tôi chống đỡ. Tôi thức tỉnh qua tiếng nói từ phòng truyền tin phát ra: “Trung Tá, Lực Lượng Đặc Nhiệm chánh của chúng tôi gởi đi nhiều công điện khẩn cấp.”
“Mang tất cả lên đây cho tôi.” Tôi ra lịnh.
Vài giây sau, tôi nhìn chăm chú vào một mãnh giấy, tim tôi như ngừng đập. Công điện gởi đi của hàng không mẫu hạm Kaga: “chúng tôi bị bốc cháy.”
Những công điện kế tiếp báo cáo các cuộc tấn công có hiệu quả của địch quân vào hai hàng không mẫu hạm Soryu và Akagi, soái hạm của Phó Đô Đốc Nagumo. Sân tàu của ba hàng không mẫu hạm bốc cháy cùng một lúc! Tôi đang đọc những gì đây? Có phải tôi nằm mơ không? Tôi lắc đầu. Không, tôi hoàn toàn tỉnh táo. Tôi kêu trời và trao công điện cho các sĩ quan của tôi. Tay Đại úy Shimizu run rẩy khi lướt mắt trên các giòng chữ. Mặt Đại Úy Matsumoto xanh như tàu lá, trung úy Miyoshi có vẻ nghi ngờ.
Tôi nhìn quanh, đoàn tàu của chúng tôi đang lướt theo hình chữ chi. Tôi chắc các hạm trưởng và sĩ quan trên mấy chiếc tàu khác đã đọc những tin tức gây xúc động nầy. Dù choáng váng, chúng tôi vẫn phải tiếp tục kế hoạch đã sắp xếp, vì chúng tôi không hề nhận được lịnh thối lui.
Tin tức tiếp tục đến, và trong chúng tôi không còn ai nghi ngờ về sự thật đã xảy ra. Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo đã bị cắt nát ra từng mảnh. Nhưng chúng tôi đang muốn gì đây? Cơn buồn rầu của tôi vì sự mất mát ba hàng không mẫu hạm biến thành cơn thịnh nộ. Chúng tôi sẽ rơi vào bẩy nhu lực lượng chánh của chúng tôi?
Cuối cùng lịnh hành quân mang số 154 đến lúc 9 giờ 20 sáng, chỉ thị đoàn tàu chuyển vận của chúng tôi “tạm thời quay mũi về hướng Tây Bắc” và “tất cả các chiến hạm tấn công địch quân từ hướng Tây Bắc Midway.”. Các hộ tống hạm nhỏ và 16 chuyển vận hạm xoay chầm chậm theo đội hình, và chạy thẳng về hướng Bắc. Sáu khu trục hạm và một tuần dương hạm thuộc phân đội của chúng tôi gia tăng tốc độ lên 30 hải lý, trực chỉ Midway.
Cho dù hôm nay trời đứng gió, với tốc độ hiện thời, chiếc Amatsukaze lướt sóng ào ạt, tạo một màn mưa và bọt nước che mờ đài chỉ huy. Bây giờ tôi không còn cảm thấy lưỡng lự nữa. Lúc 10 giờ 10, lịnh hành quân 156 công bố “hoãn lại” kế hoạch chiếm đóng đảo Midway, và chỉ thị cho chúng tôi tiến sát vào bờ biển để pháo kích san bằng hòn đảo nầy.
Chúng tôi vẫn còn cách Midway 300 dậm, còn 10 tiếng đồng hồ nữa chúng tôi mới đến mục tiêu. Hình như đó là một thời gian khá dài, đủ để địch quân kịp thời chuẩn bị. Chúng tôi tiếp tục tiến tới, và vẫn tiếp tục nhận được các tin tức không mấy lạc quan. Lúc 14 giờ 30 ngày 4 tháng 6, báo cáo của chiếc Hiryu, hàng không mẫu hạm cuối cùng còn hoạt động của Nagumo, cho biết: “chúng tôi bị oanh tạc và bốc cháy.” Và lúc 16 giờ 15, Đô Đốc Isoruku Yamamoto ban ra lịnh thứ ba trong ngày, chỉ thị thành phần còn lại thuộc lực lượng của Nagumo tấn công địch quân vào ngay đêm đó. Lịnh nầy không những không đề cập đến sự mất mát tất cả các hàng không mẫu hạm của Nagumo, nhưng còn nhấn mạnh rằng “ hiện thời hạm đội địch đã bị tiêu diệt và tàn quân đang rút về phía Đông.”
Cho dù với sự hiểu biết hạn hẹp của tôi về các biến cố trong trận đánh nầy, tôi cũng thấy lịnh của Yamamoto vừa ban ra có vẻ khó hiểu. Tôi nghĩ là ông đã mất sự sáng suốt. Nhưng ngay sau đó tôi hiểu ra, sở dĩ Yamamoto đã ban lịnh nầy đó chỉ là vì ông đang cố gắng ngăn chận sự sụp đổ tinh thần của các lực lượng dưới quyền của ông.
Lúc 21 giờ 30, Nagumo gọi vô tuyến báo cáo một tin tức khiến cho các lịnh đánh lừa của Yamamoto trở thành mỉa mai: “lực lượng của địch quân bao gồm 5 hàng không mẫu hạm, 6 tuần dương hạm và 15 khu trục hạm đang di chuyển về hướng Tây. Chúng tôi đang hộ tống chiếc Hiryu rút lui về hướng Tây Bắc.” Hai giờ sau đó, Yamamoto đưa ra một lịnh nữa, và ông vẫn chủ tâm tấn công địch quân. Lịnh nầy đến tay tôi khi toi đang nhìn thấy một chiếc tàu đang bốc cháy dữ dội, cách chiếc Amatsukaze khoảng 5.000 thước về phía Tây. Tôi xem lại hải đồ và xác định chiếc tàu đang bốc cháy là hàng không mẫu hạm Akagi. Tôi nhớ lại quang cảnh một chiến hạm địch bốc cháy ở Java. Bây giờ đây là soái hạm của chúng tôi. Trái ngược biết bao. Trong trận hải chiến ở biển Java, cả hai, Nhật Bản và Đồng Minh đều vấp phải lổi lầm, nhưng ở Midway chỉ có một mình Nhật Bản lổi lầm mà thôi.
Trước nửa đêm không lâu, chúng tôi nhận được lịnh chấm dứt cuộc hành quân Midway, và chỉ thị chúng tôi sáp nhập vào lực lượng chánh của Yamamoto.
(Trận hải chiến Midway Nhật Bản bị đánh chìm 4 trong tổng số 6 hàng không mẫu hạm lớn nhất và hiện đại nhất của Hạm Đội Hổn Hợp các chiếc Akagi, Kaga, Soryu và Hiryu và một tuần dương hạm hạng nặng Chikuma.
Chiếc Kaga tiền thân là một thiết giáp hạm cùng nhưng vì các hiệp ước với Đồng Minh trong thập niên 20 nên được biến cải thành một hàng không mẫu hạm trọng tải 38.000 tấn, thủy thủ đoàn 2016 người. Về trang bị nó vẫn giữ được một phần võ trang của thiết giáp hạm gồm 10 khẩu đại bác 200 ly, 8 khẩu 127 ly và 22 khẩu phòng không 25 ly, nó có thể đạt tốc độ tối đa 29 hải lý, mang được tối đa 90 máy bay gồm 18 Zero, 37 Val và 37 Kate số lượng máy bay có thể thay đổi tùy theo các cuộc hành quân.
Hàng Không Mẫu Hạm Akagi, soái hạm của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo trong suốt các cuộc hành quân của Lực Lượng Đặc Nhiệm từ Trân Châu Cảng đến Midway, tiền thân là một kiểu thiết giáp tuần dương hạm lớp Amagi nhưng cũng vì hiệp ước với Đồng Minh nên cả hai được biến cải thành hàng không mẫu hạm nhưng chiếc Amagi bị động đất chôn vùi năm 1923. Chiếc Akagi hoàn tất vào năm 1935 như là một hàng không mẫu hạm hiện đại của Nhật Bản lúc đó, trọng tải 37.000 tấn, thủy thủ đoàn 2.000 người, võ trang giống như chiếc Kaga và cũng mang được tối đa 90 máy bay.
Hàng không mẫu hạm Soryu, đây là kiểu tàu trọng tải lớn được thiết kế đúng với tính năng của một hàng không mẫu hạm hiện đại, nó chỉ nặng 20.000 tấn quá bé nhỏ so với 2 chiếc Kaga và Akagi nhưng đây là hàng không mẫu hạm chạy nhanh, năm 1935 nó được trình làng và được xem là hàng không mẫu hạm chạy nhanh nhất thế giới lúc đó, nó đạt tốc độ đến 35 hải lý, thủy thủ đoàn 1100 người, võ trang gồm 12 khẩu 127 ly dùng để phòng không lẫn tự vệ chống tàu bé như khu trục hạm chẳng hạn, 26 khẩu phòng không 25 ly và 15 khẩu đại liên 13 ly phòng không, mang theo 57 máy bay nhưng có thể mang tối đa đến 80 chiếc.
Hàng không mẫu hạm Hiryu, chiếc tàu đàn em của Soryu, được cải tiến trên kiểu Soryu, trọng tải 20.000 tấn, nó cũng có những tính năng như Soryu nhưng trang bị đến 31 khẩu phòng không 25 ly và vẫn như Soryu nó cũng mang theo 57 đến 80 máy bay gồm Zero, Val hoặc Kate.
Nhật Bản cũng lên kế hoạch đóng tiếp 6 chiếc hàng không mẫu hạm thuộc lớp Soryu nhưng không hoàn tất được chiếc nào, ngoại trừ chiếc Unryu bị tàu ngầm Redfish đánh chìm trên chuyến hải trình đầu tiên của nó từ Manila về Kure vào ngày 12 tháng 9 năm 1944, vì lúc đó Hoa Kỳ đã tấn công vào Luzon mà công việc hoàn tất Unryu vẫn chưa xong. Unryu chìm mang theo hạm trưởngĐại Tá Kaname Konishi và 1318 sĩ quan và thủy thủ đoàn. Chỉ có 146 người được khu trục hạm hộ tống Shigure cứu sống, lúc nầy Hara đã hết làm hạm trưởng của chiếc Shigure. Các chiếc khác không hoàn tất được là Amagi (khác với Amagi đã bị động đất chôn năm 1923), Katsuragi, Kasagi, Aso, Ikoma vẫn còn nằm trên xưởng và bị phá bỏ vào năm 1946, trừ chiếc Katsuragi hoàn tất tháng 8 năm 1944 và nhận nhiệm vụ tháng 10 năm 1944 nó chở một số oanh tạc cơ B7A và B6N thực hiện nhiệm vụ Kamikaze và sau đó được dùng như là một tàu vận tải lớn để chở binh sỹ vì Nhật Bản đã mất hẳn ưu thế trên biển, sống sót sau chiến tranh và bị phá bỏ ngày 22 tháng 12 năm 1946, chiếc Karuma thì bị hủy bỏ từ năm 1943. Trong suốt cuộc Nhật Bản chỉ hạ thủy được thêm một mẫu hạm hạng nặng và tối tân nhất thế giới lúc đó, chiếc Taiho nhưng cũng bị đánh chỉ chỉ bởi 1 phát thủy lôi ở trận Leyte do thủy thủ đoàn quá thiếu kinh nghiệm điều khiển. Và một con quái vật trên biển nữa nhưng cũng chưa hoàn tất, siêu mẫu hạm Shinano, biến cải từ lớp thiết giáp hạm Yamato, Shinano được đóng ở Đài Loan nhưng tình hình bất lợi cho Nhật Bản nên nó được di dời về Nhật Bản để hoàn tất tiếp trên đường về thì bị tàu ngầm Archer-Fish của Hoa Kỳ đánh chìm ngày 28 tháng 11 năm 1944. Chiếc Shinano, trọng tải 70.000 tấn mang được tối đa 140 máy bay, trang bị cả rừng phòng không 16 khẩu 127 ly, 145 khẩu 25 ly và 12 ống rocket 127 ly. Tiếc là nó chưa có cơ hội chứng tỏ.
Tuần dương hạm Chikuma, 14.000 tấn, đây là một trong hai chiếc thuộc lớp Mogami, tuần dương hạm hạng nặng hiện đại nhất của hải quân Nhật Bản, nó đạt tốc độ 37 hải lý, trang bị 10 trọng pháo 203 ly trong 5 tháp súng, 8 khẩu 127 ly, 8 dàn 25 ly và 4 dàn 13 ly phòng không và 12 ống phóng thủy lôi 610 ly. Bị các oanh tạc cơ SBD của Hoa Kỳ đánh chìm trong trận Midway, Chikuma trúng trực tiếp 6 bom 750 cân Anh, chỉ có 240 người được các khu trục hạm cứu sống gồm có cả hạm trưởng Đại Tá Shakao Sakiyama bị thương nặng và thiệt mạng 3 ngày sau đó trong tổng số 850 thủy thủ đoàn.
Bốn hàng không mẫu hạm Nhật chìm trong trận Midway mang theo 250 máy bay và 400 phi công đầy kinh nghiệm của Nhật Bản qua các trận đánh không hải chiến lớn ở Thái Bình Dương, và hơn 2.000 thủy thủ được tôi luyện trong các chiến dịch lớn trước đó. Thiệt hại nầy không thể bù đắp được
Về phía Mỹ, chỉ mất một hàng không mẫu hạm và một khu trục hạm cùng 175 phi cơ. Hàng không mẫu hạm Yorktown đóng năm 1934 và hoàn tất năm 1937, 25.000 tấn, chở được 90 máy bay các loại, tốc độ 33 hải lý, thủy thủ đoàn 2217 người. Hàng không mẫu hạm Yorktown đã bị thương trong trận hải chiến ở biển San Hô và đưa về Trân Châu Cảng sửa chửa cấp tốc trong ba ngày và quay lại tham chiến ở Midway, đây là một điều bất ngờ dành cho người Nhựt.
Khu trục hạm Hammann, hạ thủy năm 1938, đây là lớp khu trục hạm mới của Mỹ, trọng tải 2.200 tấn, trang bị 4 khẩu 127 ly, tốc độ 35 hải lý, thủy thủ đoàn 192 người. Khu trục hạm Hammann tham dự hầu hết các trận đánh lớn ở Thái Bình Dương và bị đánh chìm ở Midway bởi các thủy lôi do tàu ngầm I.168 phóng đi, một trong những trái thủy lôi đó đã kết thúc luôn chiếc Yorktown đang hấp hối sau cuộc oanh tạc của Nhật Bản và đã di chuyển hết thủy thủ đoàn sang các tàu khác. Trận Midway Mỹ chỉ thiệt mất 307 người trên các chiến hạm, bao gồm cả phi công.)

minhthi
12-02-2009, 03:43 PM
Thanks bác saikaifan về cuốn sách hay này...Sách về WW2 xb tại miền nam trước 1975 có nhìu cuốn rất hay e cũng sưu tầm 1 số cuốn :bashful:...E co chỉ có thắc măcsau
1. hình như các nxb thời ấy có vẽ khoái phe phát xít thì phải..sách về Nhật có quyển này..q saburo sakai, q kamikaze thần phong, q tiềm thủy đỉnh tự sát..sách về Đức, Ý.càng nhìu...E ko hiểu lúc đó đáng lẽ sách vể phe đồng minh phải nhìu mới hợp lý chứ... Mỹ đang ở m Nam mà?...
2 hình như tựa gốc của sách cũng được các nxb thay đổi thì phải:
vd cuốn về trận Bulge...thì dịch là trận đánh rừng rậm,sình lầy kinh hoàng nhất đệ nhị thế chiến...
cuốn về 1 sĩ quan Đức ở Bắc phi thì đặt là trận chiến xe tăng dữ dội nhất lịch sử, cuốn này cũng vậy...nhìu khi đọc thấy ko ăn nhập với tựa sách lắm..hay là chiêu tiếp thị hén?..
bác nào biết giải thick cho e..Thank các bác!

sakaifan
12-02-2009, 05:04 PM
Thanks bác saikaifan về cuốn sách hay này...Sách về WW2 xb tại miền nam trước 1975 có nhìu cuốn rất hay e cũng sưu tầm 1 số cuốn :bashful:...E co chỉ có thắc măcsau
1. hình như các nxb thời ấy có vẽ khoái phe phát xít thì phải..sách về Nhật có quyển này..q saburo sakai, q kamikaze thần phong, q tiềm thủy đỉnh tự sát..sách về Đức, Ý.càng nhìu...E ko hiểu lúc đó đáng lẽ sách vể phe đồng minh phải nhìu mới hợp lý chứ... Mỹ đang ở m Nam mà?...
2 hình như tựa gốc của sách cũng được các nxb thay đổi thì phải:
vd cuốn về trận Bulge...thì dịch là trận đánh rừng rậm,sình lầy kinh hoàng nhất đệ nhị thế chiến...
cuốn về 1 sĩ quan Đức ở Bắc phi thì đặt là trận chiến xe tăng dữ dội nhất lịch sử, cuốn này cũng vậy...nhìu khi đọc thấy ko ăn nhập với tựa sách lắm..hay là chiêu tiếp thị hén?..
bác nào biết giải thick cho e..Thank các bác!
Tựa sách minh nghĩ chắc do dịch giả thêm vào cho quyển sách được mượt mà theo cách hành văn của người miền Nam thời đó.
Còn việc ngày xưa in toàn sách của Axis thì em nghe bố em nói ngày xưa ở miền Nam những trí thức xưa rất thích Axis, Đức và Nhựt thua trong danh dự, thử xem từng nước đánh tay đôi xem thì biết, cả đám bu lại ăn hiếp một nước bé nên người miền Nam xem là hèn ấy mà
Em cũng tìm được hai ảnh của bìa quyển sách nầy bản tiếng Anh.
http://www.amazon.com/Samurai-Saburo-Sakai/dp/1596870869#reader_1596870869
ở đây có bản tiếng Anh của quyển Samurai!!! Những trận không chiến dữ dội nhất Thái Bình Dương

sakaifan
12-02-2009, 09:11 PM
Trận đánh Midway là điểm xoay chiều giòng thủy triều của cuộc chiến Thái Bình Dương chảy xuôi về phía Đồng Minh. Nagumo bị đánh tơi tả ở Midway, điều nầy ai cũng công nhận, nhưng không có nghĩa là toàn hải quân Nhật Bản sụp đổ. Hạm Đội Hổn Hợp của Yamamoto chưa hề hấn gì, và Nhựt vẫn còn ít nhất bốn hàng không mẫu hạm, đủ sức đương đầu trên phương diện nầy với hải quân Hoa Kỳ.
Những gì sụp đổ thật sự cho Hải Quân Hoàng Gia theo xét đoán của tôi, chính là một loạt sai lầm về chiến thuật và chiến lược do Yamamoto đưa ra sau trận Midway, và qua những cuộc hành quân được Nhựt phát động khi Hoa Kỳ đổ bộ lên Guadalcanal vào đầu tháng 8 năm 1942.
Sau khi bắt buộc kết thúc cuộc hành quân Midway, Yamamoto đưa Hạm Đội Hổn Hợp của ông đến Truk và sau đó trở về xứ. Khi Hoa Kỳ tiến đánh Guadalcanal, lực lượng chánh của hạm đội Yamamoto đang buông neo gần Kure ở bờ biển Nhật Bản, cách mặt trận 2.700 dậm. Trong suốt các cuộc hành quân có tánh cách quyết định quanh Guadalcanal, Yamamoto đã tung hết đơn vị nhỏ nầy đền đơn vị nhỏ khác. Chiến lược của ông có vẻ không mấy sáng suốt. Chiến lược nầy đã phát triển như thế nào?
Tôi lại kết hợp với đoàn tàu chuyển vận vào ngày 10 tháng 6 tại hải vực phía Bắc đảo Midway 600 dậm, trong nhiệm vụ hộ tống đoàn tàu nầy đến Truk. Ngày 15, chúng tôi hoàn tất nhiệm vụ. Hai ngày sau đó, tất cả chiến hạm trở về Nhật Bản. Chúng tôi đến Yokosuka vào ngày 21 và ba ngày sau di chuyển đến Kure. Mọi người không được phép nói về trận Midway. Các chi tiết thật sự của trận đánh nầy được giữ “Tối mật” ngay đối với các sĩ quan chỉ huy. Một thông cáo chung của Tổng Hành Dinh Quân Lực Hoàng Gia Nhựt được đưa ra, đã thêu dệt quá mức con số thiệt hại của Hoa Kỳ, nhưng không đá động gì đến những mất mát của Nhựt, và thông cáo còn nhấn mạnh rằng trận đánh kết thúc trong sự thắng lợi của Nhật Bản.
Hạm đội hổn hợp đã trở về biển Nhật Bản nhưng không phải để tu bổ. Bởi vì, phải công nhận Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo đã mang những vết thương trầm trọng, nhưng các đơn vị quan trọng khác vẫn còn nguyên vẹn. Yamamoto muốn rèn luyện lại tinh thần binh sỹ của ông, sau khi họ đã nhận một cú đấm choáng váng mặt mày vào tháng trước đó.
Yamamoto và Bộ Tư Lịnh Tối Cao hải quân ở Đông Kinh không hề có chút hồ nghi nào về việc người Mỹ sẽ tung ra một cuộc tấn công quan trọng, nhắm vào Guadalcanal trong vòng hai tháng sau trận đánh Midway. Họ tin rằng Hoa Kỳ nếu có muốn tấn công thì sớm nhứt cũng phải giữa năm 1943 họ mới đủ sức.
Từ ngày 28 tháng 6 cho đến ngày 5 tháng 8, tôi lãnh nhiệm vụ giữ an ninh cho các tàu buôn Nhựt trong khu vực vịnh Đông Kinh. Công việc nầy dễ dàng, và nhờ đó tôi có dịp huấn luyện thủy thủ đoàn mới của tôi.
Việc rút Hạm Đội Hổn Hợp của Yamamoto về hải phận Nhật Bản ở thời gian nầy, quả thật là một sai lầm quá mức. Hầu hết các lực lượng của Hạm Đội nầy bị cầm chân ở Truk. Tuy nhiên chiến lược của Yamamoto không phải hoàn toàn dở. Hầu hết 104 khu trục hạm của ông có thời giờ nghỉ ngơi và tái huấn luyện. Đây là vấn đề tối cần thiết, bởi vì tất cả những khu trục hạm nầy sẽ tham dự vào hàng loạt các trận đánh dữ dội và đẩm máu kéo dài thêm hai năm nữa. Trong các trận đánh nầy, khu trục hạm đã nắm vai trò tiên phong lần đầu tiên, và có thể cũng là lần cuối cùng trong lịch sử.
Một sai lầm to tát khác là việc xé lực lượng khu trục hạm ra từng mảnh nhỏ để sử dụng ở quần đảo Salomon, và thường thường không có sự hổ trợ của các phi cơ hoặc các chiến hạm lớn hơn. Dù vậy, các khu trục hạm nầy vẫn chiến đấu dũng mãnh trước các địch thủ vượt trội. Thêm vào nhiệm vụ chiến đấu, khu trục hạm còn lãnh nhiệm vụ chuyển vận binh sĩ. Những khu trục hạm được xưng tặng là “Chuyến xe lửa tốc hành Đông Kinh” thực sự là những con ngựa hùng hục kéo xe trên Nam Thái Bình Dương, và cũng vì vậy mà sự hao mòn không sao tránh khỏi. Từ khi cuộc hành quân Guadalcanal của Hoa Kỳ phát khởi vào ngày 7 tháng 8 năm 1942, cho đến trận “Dunkirk” của Nhật Bản (tức trận đánh quyết định trên hòn đảo nầy) vào ngày 7 tháng 12 năm 1943, 12 khu trục hạm Nhựt đã bị địch quân đánh chìm.
Riêng các cuộc hành quân liên tục ở hải phận quần đảo Solomon từ tháng 3 đến tháng 11 năm 1943, tôi có tham dự trong tư cách hạm trưởng khu trục hạm Shigure, con số mất mát của loại tàu này cao hơn 6 tháng trước đó, vì địch quân càng lúc càng nắm ưu thế trên không và ra da của họ cũng được cải tiến. Chiếc Shigure của tôi là “Chuyến Xe Lửa Tốc Hành Đông Kinh” duy nhứt còn tồn tại mà không mất một thủy thủ nào qua các trận đánh ở hải phận nầy. Ba mươi khu trục hạm khác đều bị loại khỏi vòng chiến.
Các chiến hữu hải quân của tôi đã gọi chiếc Shigure (Xuân Vũ) là “Khu Trục Hạm Ma Quái” hoặc “Khu Trục Hạm Kiến Cố” và tôi có biệt danh “Hạm Trưởng Huyền Diệu”. Đây có lẽ là giai đoạn thực sự vẻ vang nhất trong đời binh nghiệp của tôi.
Trung Hoa có câu tục ngữ: “Một con sư tử dồn hết sức mạnh để tấn công một con thỏ.” Hải quân Hoa Kỳ không khác nào con sư tử trong câu tục ngữ nầy, khi nó cố xé Guadalcanal và Tulagi vào bình minh ngày 7 tháng 8 năm 1942. Điều mỉa mai là phi trường Nhựt ở Tulagi vừa thiết lập xong ngày trước đó. Lực lượng phòng thủ của Nhựt trên đảo Tulagi ngoài 800 binh sĩ hải quân, được trang bị một vài pháo khẩu và một số đại liên, ở đây chỉ có 9 thủy phi cơ chiến đấu và 12 thủy phi cơ quan sát không võ trang.
Lực lượng Hoa Kỳ đã làm cỏ quân phòng thủ Nhựt ở Tulagi trong vòng hai tiếng đồng hồ, và chỉ với một tiểu đoàn quân của họ, quân Nhựt ở Guadalcanal cũng nhanh chóng chịu chung số phận. Lúc đó “Con Sư Tử” Nhật Bản tức Hạm Đội Hổn Hợp đang ngủ kỷ trên biển Nhật Bản cách hòn đảo nầy 2.700 dậm. Nhưng Yamamoto có một “con chó giữ nhà” nằm ở Rabaul. Đó là Đệ Bát Hạm Đội của Phó Đô Đốc Gunichi Mikawa.
Lực lượng của Mikawa, bao gồm 5 tuần dương hạm hạng nặng, 3 tuần dương hạm hạng nhẹ và một khu trục hạm, rời khỏi Rabaul lúc 15 giờ ngày 7 tháng 8, và tấn công lực lượng của Hoa Kỳ vào giữa đêm 8 tháng 8. Các chiến hạm của Mikawa đã đánh chìm 4 tuần dương hạm hạng nặng và gây thiệt hại nặng nề cho một tuần dương hạm và hai khu trục hạm của Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi trong một trận đánh kéo dài 30 phút. Mikawa chỉ thiệt mất tuần dương hạm Kabo (bị tiềm thủy đỉnh S44 của Hoa Kỳ đánh chìm hai ngày sau đó, khi các chiến hạm của ông đang di chuyển gần Kavieng). Mikawa đã đạt được một trong những chiến thắng trên mặt biển vang lừng nhất của cuộc chiến. Tuy nhiên, ông đã sai lầm khi bỏ qua không tìm cách tấn công các đoàn tàu tiếp tế cho Guadalcanal của Hoa Kỳ. Sau chiến tranh, sự sai lầm nầy của Mikawa vẫn còn bị cả hai phía Đồng Minh và Nhật Bản bàn tán chê bai. Tuy nhiên theo tôi, Mikawa đã làm tròn nhiệm vụ “giữ nhà” của ông, và Yamamoto chính là người phải chịu trách nhiệm phần lớn lỗi lầm nầy, vì ông đã trói chân Hạm Đội Hổn Hợp của ông trong hải phận Nhật Bản.
Khi cuộc xâm chiếm của Hoa Kỳ được báo cáo về Nhựt, hai tai của “Con Sư Tử” bị quào, nhưng nó chưa chịu thức dậy. Thiên Hoàng Hirohito, đang nghỉ hè tại dinh thự mùa hè của Ngài ở Nikko, nghe được tin nầy đã lập tức chuẩn bị trở về Đông Kinh, nhưng Đô Đốc Osami Nagano, Tổng Tham Mưu Trưởng Hải Quân, địch thân đến Nikko để bệ kiến.
Nagano giải thích với Thiên Hoàng: “Tâu bệ hạ, chuyện nầy không đáng để bệ hạ lưu tâm.” Và ông cho biết, theo tin tức “tình báo” của Tùy Viên quân sự Nhựt ở Mạc Tư Khoa gởi về, chỉ có 2.000 địch quân Guadalcanal. Nhiệm vụ của nhóm quân nầy là phá hủy các sân bay và sau đó đã rút lui khỏi đảo.
Tôi không biết có bao nhiêu loại báo cáo ngu xuẩn như thể đã được cung cấp. Nhưng dù cho có nhận được các báo cáo ngu xuẩn, các sĩ quan cao cấp cũng phải đánh giá bằng cách đối chiếu các nguồn tin tình báo khác mới phải. Cuối cùng, vào ngày 10 tháng 8, ba ngày sau khi cuộc hành quân được phát động, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia Nhựt mới ra lịnh cho 5.800 quân từng tham dự trận đánh Midway, đang nằm chờ ở Truk, tiến về Guadalcanal.
“Con sư tử” Yamamoto lại khép đôi mắt ngủ tiếp sau khi nghe tin cuộc “chiến thắng phi thường” của Mikawa, và nó chỉ từ từ mở mắt ra sau khi biết được lịnh của Bộ Tư Lịnh Tối Cao. Ngày kế đó, 11 tháng 8, Đệ Nhị Hạm Đội của phó Đô Đốc Nobutake Kondo tách rời Hạm Đội Hổn Hợp, di chuyển 2.700 dậm đến Guadalcanal. Lực lượng của Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo nằm lại, với lí do những phi công trên hàng không mẫu hạm mới của ông chưa sẵn sàng tham chiến, nhưng với sự thúc giục ông đã gấp rút chuẩn bị để ra đi với lực lượng chánh của Yamamoto vào ngày 16 tháng 8. Vào thời gian nầy các lực lượng của Hoa Kỳ đã đổ bộ lên Guadalcanal.
Qua các thay đổi vào phút chót, chiếc Amatsukaze của tôi được đặt dưới quyền sử dụng của Nagumo, người bạn cũ của tôi. Amatsukaze và 14 khu trục hạm gia nhập phân đội 10, quanh tuần dương hạm Nagara (trở thành soái hạm của Nagumo từ khi chiếc Akagi bị đánh chìm ở Midway). Phân đội do một chuyên viên khu trục hạm chỉ huy, Đề Đốc Susumu Kimura.

sakaifan
12-04-2009, 11:54 AM
Với vận tốc 18 đến 20 hải lý, chúng tôi tiến về phía Nam. Tất cả các khu trục hạm nầy đều có vận tốc tối đa 33 hải lý, nhưng nếu vận tốc càng cao mức độ tiêu thụ nhiên liệu của chúng càng nhiều. Theo chương trình, chúng tôi sẽ đến Truk vào ngày 20 tháng 8, nghĩa là trên hải trình dài 2.000 dậm trong vòng 5 ngày. Sau đó chúng tôi sẽ tiếp tục tiến đến Guadalcanal.
Nửa đường đến Truk, chúng tôi nghe tin Nhật Bản đã mắc một lỗi lầm khác ở Guadalcanal. Vào đêm 18 tháng 8, sáu khu trục hạm Nhựt đã đổ 800 khinh binh lên bờ biển phía Đông Guadalcanal. Những lúc đó không có một ai trong Bộ Tư Lịnh Tối Cao biết được việc người Mỹ đã đổ 20.000 Thủy Quân Lục Chiến với trang bị tối tân của họ lên hòn đảo nầy rồi. Lực lượng Nhựt sau khi đổ bộ đã tiến như vũ bảo xuyên qua rừng rậm, và chỉ sụp bẩy của địch quân hai ngày sau đó. Kết quả, hơn phân nữa lực lượng nầy bị tiêu diệt, thành phần còn lại bỏ chạy tán loạn.
Tin tức nầy đưa đến làm nao núng Yamamoto. Ông lập tức đình chỉ kế hoạch tiến đến Truk và ra lịnh cho hạm đội chỉa mủi thẳng về Guadalcanal. Nhưng hành động nầy đã quá trể. Và Bộ Tư Lịnh Lục Quân Nhựt lúc đó còn nói chuyện hoang đường khi cho rằng hàng ngủ địch đang lung lay vì tinh thần xâm lăng của họ. Sau khi trung đoàn thứ nhứt dưới quyền của Đại Tá bộ binh Kiyanao Ichiki bị đánh tan, Lục quân quyết định tung thêm một trung đoàn nữa. Lực lượng nầy, dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Seiken Kawaguchi, cũng bị đánh tan. Như vậy mà Lục Quân vẫn còn chần chừ rất lâu trước khi tung hẳn một sư đoàn lên hòn đảo nầy.
Tánh tự phụ của Yamamoto hoàn toàn biến mất vào ngày 20 tháng 8. Sáng ngày nầy, một phi cơ quan sát bay cách phía Tây Bougainville 500 dậm đã phát hiện một lực lượng đặc nhiệm của địch quân, gồm có ít nhất một hàng không mẫu hạm và hai khu trục hạm, chạy hướng về phía Bắc với vận tốc 14 hải lý.
Việc các lực lượng Nhựt ghé lại Truk đã được Yamamoto bải bỏ, nhưng lúc ấy tất cả các chiến hạm của ông đều gần cạn nhiên liệu, và phải tái tiếp nhận từ các tàu chở dầu ngay trên mặt biển trước khi di chuyển tiếp. Lấy nhiên liệu trên mặt biển là một việc làm khó khăn và dễ gây sự đụng chạm, và đặt biệt rất nguy hiểm trong thời chiến. Cả hai tàu chở dầu và tàu chiến phải chạy thật chậm, khoảng 6 hải lý và phải tung nhiều khu trục hạm để bảo vệ, đề phòng tiềm thủy đỉnh hoặc phi cơ địch tấn công vào mục tiêu gần như chết đứng. Chúng tôi thực hiện việc tiếp nhiên liệu nầy kéo dài đến 4 giờ sáng ngày 23, ngày lúc chúng tôi tiến vào hải vực cách phía Bắc Guadalcanal 400 dậm.
Hai tàu chuyển vận mang 1.500 binh sỹ khác dưới quyền Đại Tá Ichiki, chạy phía trước chúng tôi 50 dậm với sự hộ tống của 1 tuần dương hạm và 6 khu trục hạm thuộc phân đội 2 khu trục hạm. Theo kế hoạch, phân nữa lực lượng của Ichiki sẽ tấn công Guadalcanal và phân nữa còn lại sẽ tiếp liền theo sau đó, sau khi lực lượng trước đã đổ bộ xong. Thêm vào đó, các đơn vị tăng viện thuộc Lữ Đoàn của Tướng Kawaguchi được chuyển vận từ Truk đến.
Vào ngày 23 tháng 8, Phân đội 2 khu trục hạm báo cáo rằng các chiến hạm thuộc Phân đội bị phi cơ thám thính của địch phát hiện. Do đó, Yamamoto phải tìm cách đối phó. Một giải quyết hợp lý nhứt là tạm đình chỉ cuộc đổ bộ theo thời gian sắp xếp, để nhường hành động quyết định cho hải quân. Tuy nhiên, Yamamoto vẫn ra lịnh cho Phân đội 2 khu trục hạm tiếp tục chuyển trung đoàn của Ichiki đến mục tiêu đúng theo kế hoạch, nhưng ông không đưa ra một lịnh nào cho đoàn tàu chuyển vận Lữ Đoàn của Kawaguchi. Yamamoto quyết định hạ gục lực lượng đặc nhiệm nhỏ của Hoa Kỳ, sau đó sẽ tiếp tục cuộc hành quân đổ bộ theo ngày giờ đã định.
Có những điểm trong quyết định của Yamamoto cần phải giải thích, và nếu giải thích theo sự việc xảy ra vào lúc đó thì không bao giờ lượng định được gánh nặng của người đưa ra quyết định nầy. Từ cuộc chiến tranh Hoa – Nhựt, vấn đề Lục Quân khởi xướng kế hoạch và Hải Quân tiếp tay thi hành đã trở thành truyền thống. Thoạt đầu, theo ý kiến của Lục Quân trong cuộc hành quân Guadalcanal là đổ bộ một tiểu đoàn, sau đó là một trung đoàn và kế nữa là một lữ đoàn. Vì vậy, dù biết là sai lầm, nhưng nếu hải quân yêu cầu sửa đổi lại ý kiến nầy tức là phá bỏ truyền thống.
Tuy nhiên, Yamamoto biết được sức mạnh của địch quân trên đảo Guadalcanal, ông sẽ không ngần ngại phá bỏ truyền thống, nhưng không hiểu sao tình hình thực sự đã không đến được tay ông. Quan tâm ưu tiên của ông lúc ấy là làm cách nào lực lượng bộ binh thiếp lập một đầu cầu ở bờ biển phía Đông Guadalcanal, việc nầy hình như chỉ là vấn đề thời gian, và tìm hết cách giữ cho được đầu cầu đó.
Yamamoto đã vội vã thành lập một lực lượng để đánh lừa địch quân, bao gồm hàng không mẫu hạm nhỏ nhất của Hạm Đội Hổn Hợp chiếc Ryujo 10.150 tấn, tuần dương hạm hạng nặng Tone và hai khu trục hạm Amatsukaze và Tokitsukaze. Bốn chiếc tàu nầy do Đề Đốc Chuichi Hara chỉ huy, giả vờ tấn công Guadalcanal và ngăn lực lượng đặc nhiệm của Hoa Kỳ tiến Bougainville. Lực lượng đặc nhiệm của Nagumo với thành phần chủ chốt là hai hàng không mẫu hạm 40.000 tấn (Shokaku và Zuikaku) được chỉ thị xoay về hướng Đông – Nam, và tấn công vào cạnh sườn các chiến hạm địch truy đuổi lực lượng chim mồi của Đề Đốc Hara.
Chúng tôi xuất quân vào 2 giờ sáng ngày 24 dẫn đầu với tuần dương hạm hạng nặng Tone, một chiếc tàu thoạt nhìn giống một con quái vật với 8 khẩu 203 ly chỉa mũi tua tủa. Theo sau là hàng không mẫu hạm Ryujo, được Amatsukaze hộ vệ bên phải và Tokitsukaze hộ vệ bên trái. Chúng tôi hướng về Guadalcanal với tốc độ 26 hải lý.
Nhiệm vụ không phải dễ dàng và nhiệm vụ quan trọng thực sự đầu tiên của tôi trong cuộc chiến. Tôi đứng trên đài chỉ huy với đầu óc căng thẳng. Đề Đốc Hara, ở soái hạm Tone, là một trong những Tư Lịnh tài ba nhứt của hải quân. Tôi biết ông từ những ngày còn học ở Hàn Lâm Viện hải quân. Lúc đó ông là một huấn luyện viên và tôi đã nể phục sự hiểu biết của ông. Trong trận Trân Châu Cảng, Hara chỉ huy một hải đội hàng không mẫu hạm thuộc Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo.
Điều đáng quan tâm hơn hết là chiếc Ryujo. Nhìn chiếc hàng không mẫu hạm 10 tuổi nầy tôi thấy bất an. Các phi công tài ba không bao giờ được bổ nhiệm phục vụ trên một chiếc tàu già nua, và sau khi được nhìn khả năng của các hàng không mẫu hạm trận Midway, chiếc Ryujo đối với tôi thật đáng bi quan. Tôi xem “con chim mồi” nầy chắc không sống sót nổi qua phát đạn đầu tiên.
Lúc 7 giờ 13, khi bình minh tỏa rộng trên Nam Thái Bình Dương, kẻ thù đầu tiên chúng tôi nhìn thấy là một chiếc thủy phi cơ, nó đã bay theo sau chúng tôi nhiều dậm nhưng cuối cùng bỏ đi, chứng tỏ nó đã đếm xong lực lượng của chúng tôi. Theo kế hoạch, chúng tôi tiếp tục tiến về phía trước và trong vòng 4 tiếng đồng hồ không thấy phi cơ nào khác của địch quân xuất hiện. Biển lặng như tờ. Thời tiết rất thích hợp cho phi cơ tấn công, nhắc tôi nhớ lại trận đánh ở Midway. Một ngày bất lợi biết bao, tôi thầm nghĩ.

Hai Hòn
12-07-2009, 01:13 PM
Hai Hòn xin chào các bác
http://i415.photobucket.com/albums/pp239/nhacyeuem/Airshow%20EAB2009/YamamotoT1-323.jpg
Yamamoto's air plane was shot down on April 18-1943

baloo2000
12-11-2009, 05:34 PM
Một số chiến hạm Nhật :

Tuần dương hạm IJN Tone

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNTone01.jpg

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNTone02.jpg
--------------------------------
Mẫu hạm chim mồi IJN Ryujo :

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNRyujo01.jpg
--------------------------------
Lực lượng chính :

IJN Shokaku

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNShokaku01.jpg

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNShokaku02.jpg
--------------------------------
IJN Zuikaku

http://i333.photobucket.com/albums/m375/falcon2000/IJNZuikaku01.jpg

Lưu ý vị trí ống khói được xoay hướng xuống biển để khói không làm khuất tầm nhìn các phi công. Khi không có hoạt động phi hành trên tàu, các ống khói sẽ hướng lên cao.

sakaifan
12-11-2009, 09:31 PM
Lúc 11 giờ, chúng tôi cách phía Bắc Guadalcanal 200 dậm. Ryujo tung lên 6 oanh tạc cơ và 15 chiến đấu cơ hướng đến hòn đảo theo kế hoạch. Khi chiếc Ryujo xoay về hướng Tây, tiến đến điểm hẹn với các phi cơ nầy, tàu của tôi chạy song song theo phía tả mạn của nó, cách 1.000 thước. Tôi biết 21 phi cơ vùa cất cánh chưa đủ con số mà hàng không mẫu hạm Ryujo chuyên chở, và tôi tự hỏi tại sao lại không cho chín chiến đấu cơ còn lại bay lên để bao che chúng tôi. Nhìn các đám mây dày đặc, tôi độ chừng thế nào phi cơ địch cũng phóng ra những cú đấm chết người giống như ở Midway. Càng nghĩ tôi càng bồn chồn.
Một giờ trôi qua, vẫn không một phi cơ nào của chúng tôi trở về. Tôi không hiểu tại sao, và điều nầy khiến tôi càng thêm bồn chồn. Lúc 12 giờ 30, từ phòng truyền tin gọi tên tôi: “ Thưa Trung tá, một phi cơ của Ryujo gởi báo cáo về cho biết cuộc oanh tạc Guadalcanal thành công.” Tôi nhẹ nhõm, nhưng tự hỏi với chừng ấy phi cơ thì làm sao thành công được. Tôi ăn trưa ngay trên đài chỉ huy. Vừa ăn xong, tôi nghe một trong số thủy thủ quan sát la lên: “Một phi cơ, hình nhừ của địch, hướng 30 độ tả mạn.” Xuyên qua ống dòm, tôi nhìn thấy một phi cơ ẩn hiện trong các đám mây.
Cờ báo động được kéo lên, còi tàu rít vang, và các khẩu cao xạ chuẩn bị sẵn sàng. Khi chiếc phi cơ đến gần, chúng tôi nhận ra đó là một pháo đài bay B17, giống mấy “người bạn cũ” của chúng tôi ở Davao. Tôi nhìn về phía hàng không mẫu hạm Ryujo, không thấy động tỉnh gì hết, tôi nghĩ viên hạm trưởng chắc đang nằm ngủ.
Để báo động Ryujo, tôi ra lịnh khai hỏa, mặc dầu phi cơ địch còn nằm ngoài tầm súng cao xạ. Tone và Tokitsukaze lập tức đáp ứng. Cuối cùng, hai chiến đấu cơ cất cánh từ Ryujo. Phi cơ địch trở hướng và biến mất trong đám mây khi hai chiến đấu cơ bay đến. Hai phi cơ Nhựt bay lộn về và quần trên hàng không mẫu hạm.
Tôi hết tin tưởng. Nếu phi cơ địch ồ ạt bay đến, thì Ryujo, với tình trạng vừa qua, sẽ không làm sao chống đỡ nổi. Tôi thảo một công điện và gọi sĩ quan truyền tin của tôi: “Gởi lập tức công điện nầy cho Ryujo bằng hiệu kỳ.”
Một nhân viên truyền tin chạy lên sân tàu và vẩy các lá cờ: “Trung tá Tameichi Hara, hạm trưởng Amatsukaze, gởi Trung tá Kishi, hạm phó Ryujo: biết là quá đáng, nhưng tôi bắt buộc phải gởi sự lưu ý nầy đến Trung Tá. Phi của Trung Tá đã thiếu hẳn sự chuận bị. Tại sao lại có vấn đề nầy?”
Công điện có vẻ thô lổ và chắc chắn không làm hài long người nhận. Tôi không biết có một sĩ quan nào khác đã làm như tôi hay không. Tôi gởi công điện nầy chi Kishi dựa vào việc chúng tôi cùng xuất thân ở Eta Jima. Kishi không chịu trách nhiệm các cuộc hành quân trên không, nhưng ý định của tôi là muốn thức tỉnh viên hạm trưởng của Ryujo và phi công có trách nhiệm.
Vừa tự hỏi Kishi sẽ có phản ứng như thế nào, tôi vừa nhìn đăm đăm chiếc Ryujo, và thấy cờ hiệu trả lời: “Kishi gởi Trung Tá Hara: rất tán thành vấn đề đã lưu ý. Chúng tôi sẽ cải thiện và ghi nhận sự hợp tác của ông.” Ryujo lập tức hành động. 7 chiến đấu cơ được đưa lên sàn tàu và mọi chong chóng đều xoay để sẵn sàng cất cánh. Nhưng đã quá trể. Lúc đó các quan sát viên của tôi la lên: “nhiều phi cơ địch bay đến.”
Khi chiếc Ryujo xoay theo hướng gió để các phi cơ cất cánh thì các oanh tạc cơ Hoa Kỳ chúi xuống tấn công. Tôi nhìn Ryujo lo lắng. Các hàng không mẫu hạm khác của Nhựt có thể dọn dẹp phi cơ trên sàn tàu chỉ trong một vài phút, nhưng chiếc Ryujo không đủ khả năng làm như vậy.
Tôi phải lo nhiệm vụ của tôi. Tàu của tôi, cũng như tuần dương hạm Tone và khu trục hạm Tokitsukaze chạy xa khỏi Ryujo 5.000 thước để chống với các phi cơ địch đang bay đến. Ryujo gọi vô tuyến cho 21 phi cơ tấn công Guadalcanal ra lịnh cho chúng bay đến phi trường Buka nằm giữa Guadalcanal và Rabaul, thay vì trở về hàng không mẫu hạm. Tại sao không gọi về một số để đương đầu với phi cơ địch?
Tôi không đủ thời giờ để suy nghĩ. Các oanh tạc cơ và chiến đấu cơ địch đang xà xuống Ryujo, các phi cơ nầy xuất phát từ hàng không mẫu hạm Saratoga (CV3) của Hoa Kỳ. Có trên hai mươi chiếc oanh tạc cơ xoay tròn quanh hàng không mẫu hạm và nhiều chiến đấu cơ xà thấp xuống nước trước rừng hỏa lực phòng không của chúng tôi. Mười hai súng cao xạ của Ryujo đồng loạt khai hỏa nhưng không trúng một chiếc phi cơ nào.
Hai hoặc ba trái bom đã trúng phía sau và sân bay của hàng không mẫu hạm. Những cột lửa rực đỏ bốc lên đồng thời với những tiếng nổ vang dội. Nhiều trái bom khác lại trúng thẳng, chiếc tàu bị che phủ bởi những cột nước và màn khói đen dày đặc. Bồn chứa xăng của Ryujo bốc cháy. Nó đang chìm hoặc đã chìm?
Các phi cơ địch bây giờ bỏ Ryujo xoay sang tấn công các chiến hạm khác của chúng tôi. Tất cả súng đều khai hỏa khi phi cơ xà thấp. Khu trục hạm của tôi gia tăng tốc độ 33 hải lý và chạy theo hình chữ chi rất nhặt, khiến nước biển tung như xối lên đầu tôi trên đài chỉ huy. Chiếc Amatsukaze chịu đựng 30 phút tấn công, nhưng rất may các trái bom đều tránh né nó.
Tôi thở phào khi phi cơ địch bay đi. Tôi xoay sang nhìn chiếc Ryujo. Khói đen bắt đầu tan loảng và chiếc tàu hiện ra lờ mờ. Xuyên qua ống dòm, tôi thấy Ryujo đã chết, hoàn toàn bất động, và đang từ từ sụm xuống. Nó nghiêng hẳn về hữu mạn, không còn là một hàng không mẫu hạm nữa, đó là một chiếc lò khổng lồ có nhiều miệng, và tất cả đều phựt lửa đỏ rực.
Soái hạm Tone báo hiệu: “Các khu trục hạm tiến đến Ryujo để tiếp cứu.”
Tàu của tôi lập tức chạy về phía hàng không mẫu hạm đang chìm, nhưng ngưng lại ngay khi thấy ba chiếc phi cơ thình lình nhô ra khỏi các đám mây. Khi chúng bay đến gần, mới biết đó là 3 chiến đấu cơ Nhựt trở về. Chúng bay quân trên chiếc tàu chìm, như để chào vĩnh biệt. Một phi cơ đáp xuống biển gần tàu của tôi, và hai chiếc kia gần Tokitsukaze. Cả ba phi công đều được cứu thoát, nhưng các phi cơ thì đành bó tay.
Công việc tiếp cứu đã mất nhiều thời giờ, tôi tưởng chiếc Ryujo đã biến mất trên mặt đại dương rồi. Nhưng thật kì lạ, mặc dù có nhiều lổ hỏng, chiếc tàu vẫn nổi và ngay cả các miệng lửa cũng hạ xuống.
Chúng tôi lại tiến đền chiếc Ryujo, nhưng rồi phải ngưng nửa chừng. Lần nầy 2 chiếc B.17 xuất hiện. Hai khu trục hạm và tuần dương hạm Tone gia tăng tốc độ chạy theo hình chữ chi và tất cả cao xạ đều khai hỏa vào hai oanh tạc cơ địch. Nhưng hai phi cơ nầy chỉ tấn công qua loa, hoặc chúng không quen tấn công các mục tiêu di động nhanh trên biển. Tất cả các trái bom thả xuống đều không trúng đích.
Khi các oanh tạc cơ bay đi, sương mù bổng trùm lấp mặt biển. Chúng tôi bắt tay vào công việc tiếp cứu. Nhờ trời chiếc Ryujo vẫn chưa chìm, nhưng hoàn toàn bất động. Có lẽ chúng tôi phải kéo nó về Truk để sửa chữa. Lửa cháy xém khắp nơi, tất cả vũ khí và vật dụng khác đều bị thiêu hủy. Xác chết rãi rác khắp nơi trên tàu. Chiếc tàu nghiêng về hữu mạn khoảng 40 độ, và có thể chìm bất cứ lúc nào.
Một nhân viên giải cứu gởi tín hiệu bằng cờ: “chúng tôi bỏ chiếc tàu sắp chìm. Các tàu khác hãy đến tiếp tay giải cứu thủy thủ đoàn.” Lúc ấy tàu của tôi chay đến bên tả mạn còn nổi của chiếc Ryujo. Nếu chiếc tàu chìm, việc nầy không biết xảy ra lúc nào, chiếc Amatsukaze có thể bị lôi cuốn và chôn vùi theo với nó. Không thể chần chờ được nữa, tôi quyết định bắt tay vào việc lập tức.
Đại dương lúc đó đang yên tỉnh, nhưng thỉnh thoảng các luồng sóng dài bổ đến, khiến cột cờ của chiếc Ryujo chao đi chao lại, có khi chạm cả vào đài chỉ huy của khu trục hạm nhỏ bé của tôi. Mồ hôi lạnh ướt đẩm lưng tôi. Hàng chục thủy thủ khỏe mạnh dung sào dài để chống đở cột cờ của chiếc Ryujo. Khi chiếc cầu được bắt nối người bị thương được di tản trước, kể đó là những xác chết và tài liệu quan trọng còn sót lại. Cuộc tiếp cứu nhanh chóng và gọn ghẻ. Hơn 300 người sống sót được đưa sang chiếc Amatsukaze.
Độ nghiêng của Ryujo thình lình gia tăng. Bây giờ nó đang chìm “Chấm dứt di tản” tôi la lên. Một sĩ quan đứng phía bên kia cầu gật đầu và đáp: “Đúng, thưa Trung tá! Phải chấm dứt ngay. Nguy hiểm lắm rồi.”
Máy của Amatsukaze vẫn chạy đều, nó lập tức dang ra xa chiếc Ryujo, và không đầy 350 thước, chúng tôi nhìn lại thấy hàng không mẫu hạm đã biến mất trong làn sóng. Sức chìm của chiếc tàu đã tạo ra một vực nước xoáy khổng lồ, ghì chặt lấy chiếc Amatsukaze và cuốn chạy như một mảnh rác. Nhưng rất may là vực nước đó không đủ sức nhận chìm tàu của tôi. Tôi còn đang thở muốn đứt hơi thì một giọng nói thật nhỏ phía sau lưng tôi : “Trung tá Hara. Tôi … tôi không biết nói gì để cảm ơn ông…”
Tôi bổng thấy buồn cho vị sĩ quan nầy, ông ta không phải là một chuyên viên hàng không mẫu hạm, và tôi thấy tức giận Đô Đốc Yamamoto đã chọn một người như thế nầy để thi hành kế hoạch “chim mồi” của ông. “Ông không cần phải cảm ơn tôi, Đại tá Kato,” tôi nói. “Xem ông không được khỏe! ông có bị thương không?”
“Không, Hara, tôi không bị một vết trầy nào cả. nhưng … nhiều thuộc cấp của tôi đã chết, và cả chiếc tàu!.” Ông ta đưa tay ôm lấy mặt, khóc nức nở như một đứa trẻ. Tôi sợ ông ta có hành động nông nổi nên lên tiếng gọi: “Y ta, mau lên dìu Đại tá Kato vào ca bin của tôi.”
Kato phản đối: “Ồ! Không, Hara! Hãy để tôi ở chung với thủy thủ của tôi, nếu việc nầy không làm ngăn trở nhiệm vụ của ông.”
Tôi để ông ta làm theo ý thích. Trên tàu của tôi lúc ấy không có chổ nào là không có thủy thủ của chiếc Ryujo. Tôi xúc động khi nhìn vị Đại tá già lê bước về phía cầu thang để rời khỏi đài chỉ huy. Tôi gọi: “Đại tá Kato, xin chờ một chút. Tôi muốn hỏi người bạn thân của tôi là Kashi, phụ tá Đại tá, hắn ta có được bình yên không?”
Kato xoay lại, không thốt nên lời nào, khuôn mặt của ông ta đau khổ tột cùng. Tôi hiểu và gật đầu. Kato cúi đầu và bước xuống cầu thang.
Tôi đứng lặng. Anh bạn tôi của tôi đã chết. Kashi, một chuyên viên hàng không đã gặt hái được nhiều thành tích sáng chói. Anh ta từng đỡ tay cho viên hạm trưởng ngù ngờ nầy biết bao. Tôi lắc đầu. Tôi còn nhiều việc phải làm, đau buồn hãy chờ sau khi nhiệm vụ hoàn tất.
Tàu của tôi kết hợp với khu trục hạm Tokitsukaze và soái hạm Tone, và tôi vui mừng khi thấy hai chiếc tàu nầy, như chiếc Amatsukaze của tôi, không bị tổn hại gì cả. Cả hai cũng đang bận rộn cứu vớt một số thủy thủ của Ryujo đã nhảy xuống biển để thoát thân. Trong lúc đó, 14 phi cơ của hàng không mẫu hạm trở về sau nhiệm vụ ở Guadalcanal và đang bay quần trên trời. Bảy chiếc, trong số có một chiếc duy nhứt trang bị hệ thống liên lạc bị địch quân bắn rơi, thành thử các chiếc còn lại không nhận được lịnh đáp xuống Buka. Số còn lại nầy bây giờ bắt buộc phải đáp xuông biển, các chiến hạm cứu vớt hết phi hành đoàn nhưng tất cả các phi cơ đều vùi sâu dưới đáy biển.
Ba chiến hạm còn lại của chúng tôi được lịnh Phó Đô Đốc Nagumo chạy về hướng Tây để kết hợp với lực lượng chánh của ông. Ngày nầy, 24 tháng 8 năm 1942, mặt trận trên các đảo phía Đông Salomn vẫn còn tiếp diễn. Sau khi vượt 50 dậm về điểm hẹn, chúng tôi nhìn thấy một số chiến hạm Nhựt tất cả đều mở đèn chạy chầm chậm về phía Nam. Các chiến hạm nầy đang tìm kiếm một số phi công bắt buộc phải hạ cánh trên mặt biển.
(Hàng Không Mẫu Hạm Ryujo, theo thiết kế ban đầu là một tàu chở thủy phi cơ nhưng sau đó sửa đổi thành một hàng không mẫu hạm nhẹ trọng tải dưới 10.000 tấn tuân theo các điều khoản của Hiệp Ước năm 1922 của Nhật và Đồng Minh. Nó được đóng năm 1922 và hoàn tất trang bị vào năm 1931, trọng tải tối đa có thể lên đến 13.000 tấn nhưng thông thường nó chỉ mang đến 10.600 tấn. Nó được mang ra sử dụng trong cuộc chiến Hoa Nhật năm vào năm 1937 với nhiệm vụ yểm trợ cho Lục Quân, lúc nầy nó trang bị 12 chiến đấu cơ Nakajima A4N và 17 oanh tạc cơ Aichi D1A cả hai loại đều là phi cơ hai lớp cảnh cổ lổ. Năm 1940 nó được tái trang bị các phi cơ và sửa chửa nâng cấp để mang được tối đa 37 phi cơ hiện đại. Khi đệ nhị thế chiến bắt đầu Ryujo hoạt động ở Philippine cung cấp cây dù không quân cho các đoàn chuyện vận đổ bộ lên Davao. Và sau đó nó hoạt động suốt từ Philippine cho đến tận vịnh Bengal. Tháng sáu năm 1942, Ryujo tham gia cuộc hành quân Midway nhưng trong thành phần lực lượng tấn công quần đảo Aleutian, trong suốt cuộc hành quân này một chiến đấu cơ A6M Zero do hạ sỹ Tadahito Koga lái đã rơi xuống quần đảo nầy, Koga thiệt mạng nhưng chiếc Zero còn nguyên vẹn, đây là chiếc Zero đầu tiên lọt vào tay của Đồng Minh, nhờ vào đó mà Đồng Minh cho ra đời một loạt chiến đấu cơ mới để chọi lại chiếc chiến đấu cơ đáng sợ nầy. Ngày 24 tháng 8 năm 1942, Ryujo tham dự trận đánh ở Guadalcanal trong thành phần dụ địch và bị các oanh tạc cơ SBD và Avenger của hàng không mẫu hạm Saratoga đánh chìm, trong số 924 thủy thủ đoàn chỉ có 127 người thiệt mạng số còn lại được cứu sống.
Hàng không mẫu hạm Sarotoga của Hoa Kỳ, cùng loại với chiếc Lexington đã bị chìm ở trận San Hô, trọng tải 38.500 tấn chở được 90 phi cơ các loại, thủy thủ đoàn 2.200 sĩ quan và binh sỹ, chiếc nầy cũng là một thiết giáp tuần dương hạm biến cải thành hàng không mẫu hạm nên vẫn còn mang theo những khẩu đại bác lớn 8 khẩu 200 ly, và trang bị các loại phòng không từ 76 ly đến 12,7 ly. Nó đã tham chiến suốt từ đầu đệ nhị thế chiến cho đến hết chiến tranh, có thể nói đây là hàng không mẫu hạm lì đòn nhất của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Nó bị đánh chìm ngày 25 tháng 7 năm 1946 bởi cuộc thử bom A của Mĩ, chung số phận với nhiều tàu chiến khác như Prinz Eugen của Đức và Nagato của Nhựt).

sakaifan
12-12-2009, 08:23 AM
Đêm tối như bưng. Nhiều giờ trôi qua, tiếng bom và tiếng súng không còn nghe vọng đến. Tôi bắt đầu cảm thấy rã rời trong suốt một ngày một đêm chiến đấu không ngừng nghỉ. Tôi định đi nằm thì sĩ quan truyền tin của tôi cho biết hàng không mẫu hạm Shokaku (tức soái hạm của Nagumo) gởi một công điện đến Amatsukaze: “Phó Đô Đốc Nagumo chỉ thị cho Trung tá Hara giải cứu hai phi công của hàng không mẫu hạm Zuikaku bắt buộc phải đáp xuống biển. Thi hành lập tức tại vị trí KIN.21.”
Tôi vội vã trả lời: “Trung tá Hara gởi Đô Đốc Nagumo. Amatsukaze sẽ tiến ngay đến KIN.21 và giải cứu các phi công của Zuikaku.”
Quay sang hải đồ, tôi ghi tọa độ được cho là KIN.21 cách 98 dậm chánh Bắc vị trị hiện thời của tôi, và tọa độ nầy nằm sâu trong khu vực của lực lượng đặc nhiệm địch 60 dậm. Sở dĩ tôi biết được khu vực của địch quân là do tin tức đưa đén vào lúc chiếc Ryujo đang chìm. Nhưng lịnh là lịnh, và nhiệm vụ quá cấp bách không thể chần chờ. Cơn buồn ngủ tiêu tan, tôi triệu tập ngay bộ tham mưu để bàn thảo.
Chúng tôi không thể nào dám để cho một sai lầm nhỏ nào xảy ra trong nhiệm vụ nầy. Tôi không dám chắc tọa độ được cho có chánh xác hay không, nhưng nếu co một sai chạy nào thì công việc giải cứu của chúng tôi vô hy vọng.
Phó Đô Đốc Nagumo đã đặt biệt chọn tôi thi hành nhiệm vụ nầy, tôi biết ông đã đặt nhiều hi vọng vào tôi. Tôi quyết định không để ông thất vọng. Chúng tôi đang hút đầu vào miệng cọp, nhưng thuộc cấp của tôi lại tỏ ra thích thú và hăng hái khiến tôi cũng phấn khởi.
Chạy với tốc độ 24 hải lý, bốn tiếng đồng hồ sau chúng tôi có mặt trên khu vực phỏng định. Tôi ra lịnh chiếc tàu giảm tốc độ xuống chỉ còn 6 hải lý. Khi thiếu úy Hideo Shoji báo cáo chúng tôi đang ở ngay trên vị trí đã được cho, tôi gọi tất cả thủy thủ nào không bận việc lên boong tàu để quan sát, và tôi tuyên bố là ai phát hiện hai viên phi công trước tiên, người đó sẽ được thưởng. Mọi người hưởng ứng nồng nhiệt.
Tôi nghĩ nếu hai phi công Nhựt rơi xuống khu vực nầy thì phi công địch cũng có thể rơi xuống, và họ cũng đang được đồng bọn tìm kiếm. Do đó, dù trời tối đen như mực, tôi cũng không cho sử dụng đèn rọi, vì khu trục hạm lúc đó chỉ chạy có 6 hải lý một giờ, tiềm thủy đỉnh địch có thể phát hiện ánh đèn và tấn công chúng tôi.
Sau hơn một giờ tìm kiếm vô vọng, tôi lo ngại thiếu nhiên liệu. Hơn nữa, Amatsukaze của tôi đã tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu trong nhiệm vụ chim mồi vừa qua và cần phải dự trữ để quay về Rabaul cách xa đây 500 dậm. Để cho công tác mau lẹ, tôi ra lịnh bật đèn rọi nhỏ. Vài phút sau, một thủy thủ bổng la lên: “Một vật nổi ở hữu mạn, giống như một cái chai.” Tôi nghiêng mình ra ngoài đài chỉ huy và nhìn thấy cái chai loáng thoáng qua ánh đèn, tôi nói: “Đúng rồi, họ ở gần đây chứ không xa!” tôi cho bật đèn hiệu tên chiếc tàu của hai viên phi công: “Zuikaku! Zuikaku!”
Nửa giờ trôi qua, bình minh sắp đến, và lúc hy vọng sắp tan, tôi bổng thấy một đóm sáng thật nhỏ chợt lóe lên ở phía trái chiếc tàu cách khoảng 2.000 thước. Đóm sáng lại lóe lên một lần nữa rồi tắt hẳn, nhưng tôi đã xác định được vị trí. Chiếc tàu tiến thẳng đến, và tôi cho thả một chiếc xuồng xuống khi nhìn thấy hai người đang bám vào một cái phao. Thiếu úy Hideo Shoji cầm đầu xuồng giải cứu. Khi chiếc xuồng còn cách cái phao 50 thước, anh ta báo cáo rằng hai người đeo cái phao nầy giống người Mỹ.
Tôi quan sát bằng ống dòm và thấy đúng như lời Shoji, nhưng tôi ra lịnh: “người gì cũng mặc, hãy cứu cái đã.”
Tôi nao núng, nếu đây là hai người Mỹ thì công cuộc tìm kiếm của phe họ cũng quanh quẩn đâu đây. Nhưng tôi đã quyết tâm thi hành nhiệm vụ, cho dù kéo dài đến bình minh đi nữa. Khi xuồng cấp cứu vớt hai người dưới nước lên và báo cáo cho biết đây là hai phi công mà chúng tôi tìm kiếm, bấy giờ tôi mới thở phào nhẹ nhỏm.
Sau khi tất cả lên tàu, chúng tôi hướng về phía Bắc với tốc độ 24 hải lý, và tôi thoải mái lần đầu tiên sau nhiều giờ căng thẳng. Công cuộc giải cứu hoàn toàn thành công.
Mặt khác, cuộc hành quân chim mồi của chúng tôi dù gặp vận xấu ở phút cuối cùng, nhưng chưa hẳn là một thất bại. Sự hi sinh của Ryujo đã đánh lạc hướng địch quân, không chú tâm vào lực lượng chánh của Nhật Bản, và cho phép Phó Đô Đốc Nagumo tập trung đầy đủ sức mạnh không quân của ông để chống lại hàng không mẫu hạm Enterprise của Hoa Kỳ. Nhưng chiếc Enterprise chỉ bị hư hại, nó được sửa chửa và hoạt động lại trong vòng hai tháng, trong khi đó hàng không mẫu hạm Ryujo bị đánh chìm hẳn. Nếu có thất bại là thất bại ở điểm nầy.
Mặt khác, các phi thuộc hải quân Hoa Kỳ đã oanh tạc các tàu chuyển vận trung đoàn của Đại tá Ichiki và gây hư hại cho tuần dương hạm Jintsu, soái hạm của phân đội khu trục hạm hộ tống. Sáu khu trục hạm Nhựt tiến sát vào Guadalcanal và pháo kích dữ dội lên đảo nầy suốt đêm, nhưng sáng hôm sau các oanh tạc cơ B.17 của Hoa Kỳ bay đến và gây xáo trộn cho các chiến hạm Nhựt nhiều tiếng đồng hồ. Đoàn tàu chuyển vận thoát được đến Bougainville, nhưng khu trục hạm Mutsuki và tàu chuyển vận Kinryu Maru bị đánh chìm. Trong lúc đó, đoàn tàu chuyển quân của tướng Kawaguchi nhận thấy kho đi suông sẽ nên đã quay về Truk.
Vì vậy, toàn thể cuộc phản công lần thứ nhì của Nhựt ở quần đảo Solomon kết thúc với sự thất bại trên cả hai phương diện chiến thuật và chiến lược. Và việc nầy đã chứng minh quyết định của Yamamoto là sai lầm.
Hai ngày sau cuộc hành quân, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia đưa ra một thông cáo chung. Theo đó, trận đánh kéo dài từ 23 đến 25 tháng 8, Nhật Bản đã gây thiệt hại nặng nề cho địch quân, với một hàng không mẫu hạm lớn và một hàng không mẫu hạm trung, cùng với một thiết giáp hạm của Hoa Kỳ. Phía Nhựt chỉ bị đánh chìm một khu trục hạm và một hàng không mẫu hạm nhỏ hư hại nặng.
Về phía Hoa Kỳ, một công bố cho biết các phi cơ của họ đánh chìm một hàng không mẫu hạm, gây thiệt hại cho một tuần dương hạm và một khu trục hạm Nhựt. Công bố cũng nói đến việc hàng không mẫu hạm Enterprise bị hư hại, nhưng bù lại phi cơ của hải quân Hoa Kỳ cũng đã đánh chìm một thiết giáp hạm và hai khu trục hạm nhỏ của Nhựt.
Chiếc Ryujo đã chìm ngay trước mắt tôi, nhưng không còn chiếc tàu nào khác thuộc lực lượng chim mồi của chúng tôi bị đánh chìm, ngay cả một vết đạn cũng không. Có lẽ phi công Hoa Kỳ đã báo cáo lầm chiếc tàu chuyển vận Kinryu Maru thành ra một thiết giáp hạm và khu trục hạm Mutsuki thành ra một tuần dương hạm.
Từ đó trở về sau tôi không còn tin vào các công bố liên quân đến cuộc chiến, kể cả hai phía Nhật Bản và Đồng Minh.
Khi khu trục hạm Amatsukaze kết hợp với lực lượng đặc nhiệm của Nagumo, ngày 25 tháng 8, tôi nhận được một mạng lịnh mới đầy thích thú, gởi đến từ hàng không mẫu hạm Shokaku.
“Đô Đốc Nagumo thành thật ngọi khen Trung Tá Hara đã hoàn thành nhiệm vụ một cách hoàn hảo, và chỉ thị cho ông di chuyển lập tức đến Truk để đưa những người được giải cứu lên bờ.”
Một lần nữa, Amatsukaze lại tách rời khỏi lực lượng đặc nhiệm và đơn thân độc mã đến Truk. Ngày hôm sau, chúng tôi tiến vào hòn đảo san hô nầy.
--------------------------------
3

Lưu Bang đánh Đông dẹp Bắc và khai sáng triều đại nhà Hán vào năm 102 (trước Thiên Chúa Giáng Sinh). Sau khi lên ngôi, một hôm Lưu Bang hỏi nguyên soái của ông là Hàn Tín: “Nhà ngươi nghĩ sức trẫm có thể cầm được bao nhiêu quân?” Hàn Tín đáp: “Theo hạ thần nghĩ, bệ hạ chỉ có thể điều động một đạo quân vài ba chục ngàn người mà thôi.” Lưu Bang hỏi: “Còn sức của nhà ngươi thì sao?” Hàn Tín đáp: “Nhiều quân chừng nào hạ thần càng điều động hữu hiệu nhiều chừng nầy.” Lưu Bang cười: “Vậy tạo sao trẫm làm Hoàng Đế còn nhà ngươi chỉ là một vị tướng dưới trướng?” Hàn Tín đáp: “Đó là do mạng trời, bệ hạ sanh ra là để chỉ huy những người chỉ huy.”
Lưu Bang là một trong những vị vua vĩ đại nhứt, còn Hàn Tín là một trong những vị tướng tài ba và nổi tiếng nhứt lịch sử Trung Hoa. Trong thời đệ nhị thế chiến nhiều vị Đô Đốc cũng tài ba và gây được tiếng tăm như thế. Đô Đốc Isoroky Yamamoto của Nhựt là một. Ông là nhân vật tài ba, nhưng tôi nhận thấy tiếng tăm của ông có vẽ phóng đại hơn là những gì mà ông đáng được hưởng thực sự. Tôi không có ý so sánh ông với Lưu Bang, nhưng với sự kính trọng khả năng có thật của họ, tôi bắt buộc phải so sánh.
Mặc dù cuộc chiến Thái Bình Dương, Nhựt bại trận một cách đau thương, quốc gia vẫn xem Yamamoto như là một vị anh hùng. Sau chiến tranh, biết bao nhiêu chỉ trích nhắm vào các nhà lãnh đạo Hải Quân và Lục Quân Nhựt, nhưng riêng Yamamoto không hè được đá động tới. Nếu những nhận xét của tôi về Yamamoto có vẻ nghiêm khắc, thì chẳng qua tôi chỉ nhận xét theo công tâm. Đây có lẽ là lần đầu tiên một quân nhân Nhựt viết ra sự thật tất cả những gì mà người khác đã tránh né.
Đối với tôi, Đô Đốc Yamamoto là một người sanh ra để chỉ huy những người chỉ huy, và trên phương diện nầy sự kính trọng phải được dành cho ông. Nhưng ông, như Lưu Bang, không có khả năng điều động hàng mấy ngàn chiếc tàu và hàng mấy trăm ngàn thủy thủ dưới tay một cách hữu hiệu. Chọn ông để cầm đầu Hạm Đội Hổn Hợp, nghĩa là cầm đầu toàn thể lực lượng tham chiến của Nhựt trên mặt trận Thái Bình Dương, đó là một sự lựa chọn bi thảm.
Nhiều đồng nghiệp của tôi đều tin rằng Yamamoto là một vị Bộ Trưởng Hải Quân lý tưởng nhứt, và có nhiều cuộc vận động trong hàng ngũ sĩ quan Hải Quân Nhựt để đưa ông lên chức vụ nầy. Và theo ý kiến họ, Đô Đốc Mitsumasa Yonai mới xứng hợp với chức vụ Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp. Nhưng cuộc vận động nầy thất bại, vì Mitsumasa Yonai, một nhân vật chống đối chiến tranh mạnh mẽ, đã từ chối. Ông đã nói: “Tôi không phải là một Đô Đốc chiến đấu, do đó tôi sẽ gây “nguy hại” cho những gì mà Lục Quân đang theo đuổi. Hơn nữa, nếu một người cứng đầu như Yamamoto mà trở thành Bộ Trưởng Hải Quân, không sớm thì muộn ông ta sẽ bị Bộ binh cuồng tín sát hại.”
Lục Quân Nhựt là binh chủng gây rắc rối nhiều nhứt. Khi chiến tranh bắt đầu, Nội Các Nhựt dưới quyền lãnh đạo của Đại Tướng Hedeki Tojo, Bộ Trưởng Hải Quân là Đô Đốc Shigetaro Shimada chỉ là một anh hề của Tojo. Tổng Tham Mưu Trưởng Hải Quân, Đô Đốc Osami Nagano, lại không đủ mạnh để chống đối các kế hoạch của Lục Quân. Nếu muốn chỉ trích những gì mà Yamamoto đã làm hoặc không làm, các yếu tố vừa nêu cần phải được xét đến, vì các yếu tố nầy đã bó tay ông phần nào.
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Yamamoto nổi tiếng là một tay “đỏ đen” vào hàng siêu đẳng. Bất cứ trò chơi nào, ông cũng đều vượt trội, nhứt là đánh xì phé. Quyết định tấn công Trân Châu Cảng là một ván bài vĩ đại nhứt của ông, gây tối tăm mặt mủi cho một đối thủ tiền rừng bạc biển. Tuy nhiên có một điều lạ, là khác với một tay đỏ đen thật sự, Yamamoto không bao giờ lập lại “canh bạc xã láng Trân Châu Cảng” một lần nào nữa. Các bài học ở biển San Hô cũng không được ông mang ra áp dụng lại ở trận Midway, trận đánh mà Yamamoto đã hành động một cách sai lầm, là chia lực lượng của ông ra nhiều mục tiêu nhỏ mà không dồn hết nổ lực vào mục tiêu quyết định. Sau nầy, Yamamoto lại cứ mãi bận tâm với vấn đề bảo toàn lực lượng.
*
Khu trục hạm Amatsukaze, chở đầy những người còn sống sót, lặng lẽ tiến vào hải cảng Truk vào ngày 25 tháng 8 năm 1942. Tôi chắc chắn sẽ nhận được lịnh trở lại nhiệm vụ ngay khi đổ xong người. Nhưng, không một ai trong chúng tôi ngờ rằng Amatsukaze phải đậu ở Truk một tháng trời, trong lúc trận chiến nằm trong giai đoạn ác liệt nhứt. Ở đây, tôi đã thâu thập được nhiều chi tiết về trận hải chiến ở biển San Hô ngày 7 và 8 tháng 5 trước đây, tức là trong thời gian tôi đi phép.
Trận hải chiến nầy bùng nổ là do hậu quả kế hoạch đổ bộ của Nhựt nhằm chiếm giữ hải cảng Moresby, một cứ điểm then chốt của Đồng Minh nằm trên bờ biển phía Nam New Guinea. Trận đánh đã làm Nhựt chìm một hàng không mẫu hạm hạng nhẹ Shoho, và hai hàng không mẫu hạm hạng nặng là Shokaku và Zuikaku bị hư hại đến nỗi không thể tham dự và trận đánh ở Midway xảy ra một tháng sau đó. Qua công bố, Hải Quân Hoàng Gia không đề cập đến sự thiệt hại của Nhựt, chỉ cho biết là Nhựt đã đạt được chiến thắng qua việc đánh chìm được ba hàng không mẫu hạm địch trong trận đánh nầy. Nhưng mất mát thật sự của địch quân gồm có: hàng không mẫu hạm Lexington CV2 36.000 tấn, hàng không mẫu hạm Yorktown bị thiệt hại nhẹ, tàu dầu Neosho và khu trục hạm Soins bị đánh chìm. Mặc dầu các công bố đều nói đến hai tiếng chiến thắng, nhưng rõ ràng Nhựt đang bắt đầu thoái bộ.
Một tháng sau, Nhựt bị đánh tơi bời ở Midway, thiệt mất các hàng không mẫu hạm Akagi, Kaga, Hiryu và Soryu cùng với tuần dương hạm hạng nặng Mikuma, và với sự tham chiến của hàng không mẫu hạm Yorktown của Hoa Kỳ (hư hại trong trận đánh biển San Hô được sữa chữa lại) đã khiến cho Nhật Bản ngẩn ngơ, nhưng cuối cùng nó cùng với khu trục hạm Hammann bị Nhựt đánh chìm trong trận nầy.
Vào thàng 7, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhật Bản lại vấp thêm một lỗi lầm nữa qua cuộc đổ bộ một sư đoàn bộ binh vào Buna, nằm ở bờ biển Đông Papua. Sư đoàn nầy sau khi đổ bộ đã vượt qua dãy nũi Owen Stanley, mưu tấn công hải cảng Moresby. Nhưng con số binh sĩ thiệt mạng do núi non, rừng rậm hiểm trở và khí hậu độc địa gây ra dọc lộ trình di chuyển nhiều hơn là do địch quân gây ra.
Một việc có ý nghĩa là Đồng Minh đã đổ bộ lên đảo Guadalcanal vào ngày 7 tháng 8, đúng ngày lực lượng Nhựt sa lầy ở Papua. Yamamoto đã đánh giá một cách sai lầm các cuộc hành quân ở Papua và Guadalcanal. Hồi ở Midway ông đã phân chia lực lượng của ông để tấn công cùng một lượt vào các hòn đảo vô giá trị Aleutian, ở Guadalcanal ông cũng chia jai lực lượng, một tấn công hòn đảo nầy và một vào bán đảo Papua. Các cuộc tấn công phân tán đã không kết quả mà còn đưa đến hậu quả tàn khốc.
Vào đêm 24 tháng 8. trong lúc chiếc Amatsukaze đang giải cứu hai phi công, 7 khu trục hạm Nhựt đã đột kích Guadalcanal một cách gần như phí công. Vào hai ngày kế, các phi cơ Nhựt lại tấn công hòn đảo nầy, nhưng cũng không đạt được kết quả là bao. Trong khi đó thành phần chánh của Hạm Đội Hổn Hợp dàn quanh các đảo Solomon, nhưng lại không nhắm vào một mục đích nào hết. Sự do dự của Yamamoto hiển nhiên ai cũng thấy.
Bốn ngày sau đó, đoàn tàu vận chuyển quân của Đại tá Ichiki một lần nữa cố gắng tiến về Guadalcanal. Hai mươi khu trục hạm hộ tống đoàn tầu nầy bị phi cơ Đồng Minh tấn công, đánh chìm chiếc Asagiri và gây thiệt hại nặng cho ba khu trục hạm khác là Shirakumo, Yugiri, Amagiri. Yamamoto chần chờ khá lâu mới tung 30 chiến đấu cơ và 30 oanh tạc cơ của hai hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku để yểm trợ đoàn tàu bị tấn công. Nhưng khi các phi cơ nầy đến nơi thì đoàn tàu đã xuôi hướng trở về quần đảo Shortland. Trong khi đó, tiền quân thuộc trung đoàn của Ichiki, nằm kẹt cứng ở một góc đảo Guadalcanal đã lên tiếng kêu cứu. Do đó, sáng ngày 29 tháng 8, binh sĩ lại được đưa xuống 6 khu trục hạm để lên đường tăng viện. Lực lượng 1.000 người nầy đã đổ bộ thành công lên mũi Taivu, nằm giữa bờ biển phía Bắc Guadalcanal, ngay trong đêm.
Lữ đoàn của Trung tướng Seiken Kawaguchi, thoạt đầu dự định đổ bộ lên Papua, đã khởi hành từ Truk để tăng cường thêm cho cánh quân của Ichiki. Trên đường, Lữ đoàn ghé Bougainville, và ngày 30, tiểu đoàn đầu tiên thuộc Lữ đoàn nầy được 3 khu trục hạm vận chuyển đến đảo Guadalcanal. Tiếp theo đó, vào ngày 31. tám khu trục hạm khác đã vận chuyển thêm 1.200 quân nữa. Và vào ngày 1 tháng 9, đơn vị thứ ba của Lữ đoàn xuống 4 khu trục hạm và sau đó đổ bộ lên phía Nam hòn đảo. Ngày kế, 20 chiến đấu cơ và 18 oanh tạc cơ Nhựt tấn công Guadalcanal. Cuộc đổ bộ của toàn thể Lữ đoàn Kawaguchi hoàn tất và ngày 4 và 7 tháng 9.
Trong suốt giai đoạn xảy ra các hoạt động tăng viện nầy, chiếc Amatsukaze của tôi nằm bất động ở Truk, nhưng tôi cũng hình dung được mọi diễn tiến. Tôi biết lực lượng được các khu trục hạm đổ lên bờ chỉ có thể mang các vũ khí nhẹ, và điều nầy khiến cho tôi lo ngại. Bởi vì, cho dù lực lượng Nhựt đông đảo đi nữa, ho cũng không thể nào chịu đựng nổi trước sức đề kháng của lực lượng Hoa Kỳ, được trang bị vũ khí nặng, đã nằm sẵn trên đảo.
Truk hoàn toàn yên tỉnh, sau khi đoàn tàu chở lữ đoàn của Kawaguchi ra đi. Mặt nước hải cảng lặng như tờ. Khung cảnh bình an làm tiêu tan cơn mệt mõi của thủy thủ đoàn Amatsukaze.
Quanh hòn đảo san hô nầy đầy dẫy mọi loại hải sản. Mỗi ngày thuyền chài đều mang cá tươi về. Đó là một cơ hội tốt để đổi món ăn cho những kẻ quanh năm chỉ biết đồ hộp như chúng tôi.
Trong lúc đó, thành phần chánh của Hạm Đội Hổn Hợp chấm dứt mười ngày “lang thang” vô ích và tiến vào hải cảng Truk ngày 5 tháng 9. Hải cảng rộng lớn nầy bổng nhiên hẹp lại khi 50 chiến hạm, với thiết giáp hạm Yamato, 69.100 tấn dẫn đầu lần lượt ùa vào.
Suốt ba ngày liền thay phiên trên các soái hạm đơn vị, toàn thể hạm trưởng và sĩ quan chỉ huy hội họp để bàn thảo các chi tiết chiến thuật. Cuộc họp cuối cùng mở ra trên soái hạm Yamato, dưới sự chủ tọa của Yamamoto. Các cuộc bàn thảo sơ khởi trước đó đều xoay quanh các phương cách đối phó với những vấn đề không quan trọng. Không thấy ai đề cập đến những khiếm khuyết đã gặp phải trong các cuộc hành quân trước đây. Sự thật, nếu ai mang các vấn đề nầy ra bàn thảo thì không tránh khỏi đụng chạm đến thượng cấp. Do đó, các cuộc bàn thảo sơ khởi không đi đến đâu.
Chủ tọa buổi họp cuối cùng nầy, Đô Đốc Yamamoto ngồi im lặng nghe, và sau cùng để kết thúc buổi họp, ông lên tiếng cảnh cáo sự khinh thường khả năng chiến đấu của Hoa Kỳ và đưa ra chỉ thị đơn giản:
- Phải che đậy hành tung của các hàng không mẫu hạm Nhựt
- Ưu tiên tận dụng sức mạnh không lực để chống lại địch quân
Tôi trở về tàu với tâm hồn trống rỗng, cảm thấy các buổi họp hoàn toàn vô bổ. Gặp Đại úy Shimizu, thấy mặt ông bí xị tôi hỏi: “Gặp rắc rối gì rồi, phải không?”
“Chúng tôi vừa để xẩy một con cá. Ba ngày nay, hạm đội siêu đẳng của chúng ta đã làm lũ cá quanh hòn đảo san hô nầy khiếp đảm.”
Vào ngày 9 tháng 9, Hạm Đội Hổn Hợp rời khỏi Truk, và khu trục hạm Amatsukaze gia nhập trở lại lực lượng đặc nhiệm Nagumo. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ tiến công xả láng Guadalcanal vào ngày 12 tháng 9, đồng lúc với cuộc tấn công của tướng Kawaguchi trên bộ. Tuy nhiên, chúng tôi phải nằm chờ qua đêm 12 để đợi tin tức dứt khoát xem có phải các phi trường ở Guadalcanal hiện nằm trong tay quân Nhựt hay không. Ngày kế đó, chúng tôi lại tiếp tục kiên nhẫn chờ đợi, cho đến quá nửa đêm, Tổng Hành Dinh Hải Quân ở Rabaul gọi vô tuyến báo tin: “Theo các phi cơ thám thính, các phi trường ở Guadalcanal dường như nằm trong tay các lực lượng của chúng ta.”
Sáng sớm ngày hôm sau, bảy phi cơ thám thính của chúng tôi trở về với đầy đủ các báo cáo trái ngược hẳn với tin tức của Rabaul. Cuối cùng, vào ngày 15, công điện mong đợi cũng đã đến tay chúng tôi, do Kawaguchi gởi. Theo đó lực lượng của ông đã gặp sức chống cự dũng mãnh của địch quân, chịu đựng thiệt hại nặng nề, và bắt buộc phải bỏ rơi các phi trường.
Buổi chiều cùng ngày, phi cơ tuần thám và các tiềm thủy đỉnh của chúng tôi báo cáo một lực lượng đặc nhiệm hùng hậu của địch quân, gồm nhiều hàng không mẫu hạm và thiết giáp hạm, ở cách Đông Nam Guadalcanal 260 dậm. Thiếu tá Takaichi Kinashi, hạm trưởng của tiềm thủy đỉnh I.19, qua một “công điện vui vẻ đầu tiên” trong tuần lễ đầy đen tối nầy, cho biết tàu của ông đã phóng thủy lôi đánh chìm hàng không mẫu hạm Wasp của Hoa Kỳ. (Wasp bị trúng 3 trái thủy lôi của I.19 vào ngày 16 tháng 9, hư hại trầm trọng, nên sau khi di tản thủy thủ đoàn, chiếc tàu được khu trục hạm Lansdowne của Hoa Kỳ ban thêm nhiều phát thủy lôi “ân huệ” để nhận chìm hẳn).
Lực lượng của chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng và nôn nóng chờ đợi thử sức với hạm đội của địch quân. Nhưng sau một tuần chạy lang thang, tất cả chiến hạm Nhựt đều gần cạn nhiên liệu. Chúng tôi phải lấy thêm nhiên liệu từ các tàu chở dầu ở một hải vực cách phía Bắc Guadalcanal 200 dậm. Công việc nầy đã mất hết ba ngày, vì vậy hi vọng đụng độ với địch quân của chúng tôi tiêu tan.
Trong lúc đó, Đô Đốc Yamamoto cuối cùng cũng quyết định cần phải có một sư đoàn đầy đủ quân số để tăng viện cho các lực lượng Nhựt bị kẹt ở Guadalcanal. Do đó, sau khi tiêu thụ một số nhiên liệu khổng lồ mà không thâu hoạch được một lợi lộc gì cả, Hạm Đội Hổn Hợp quay trở lại Truk để chờ đợi quân.
Cũng trong thời gian nầy, Yamamoto ra lịnh cho Đề Đốc Kakuji Kakuta, hiện đang đảm trách về việc huấn luyện 3 hàng không mẫu hạm mới trong hải phận Nhựt, đem các tàu của ông đến Truk càng sớm càng tốt. Yamamoto cũng quyết định ngưng các cuộc hành quân để chờ đợi Đệ Nhị Hạm Đội của Kakuta. Cho mãi đến ngày 9 tháng 10, hạm đội nầy mới đến được Truk. Do đó, sau khi địch quân đổ bộ lên Guadalcanal, Nhật Bản mất hai tháng tròn mới chuẩn bị được một lực lượng phản công đầy đủ.

Hai Hòn
12-14-2009, 05:20 AM
HH cảm ơn bác đả dánh công khó đánh máy lại một cuốn sách mà HH tui đã say mê từ thời xa xưa
HH

sakaifan
12-14-2009, 07:20 PM
4

Một nhà quân sự tài ba của Trung Hoa đã viết: “Một chiến thuật gia khôn khéo có thể ví như một con rắn: đầu bị đánh thì đuôi sẽ dậy, còn đuôi bị đánh thì đầu sẽ dậy. Còn nếu bị đánh ở giữa thì đầu và đuôi của nó đều dậy.”
Tháng 10 năm 1942, Hạm Đội Hổn Hợp của Đô Đốc Yamamoto lần đầu tiên áp dụng “xà trận” nầy. Đầu của con rắn là Lực Lượng Đặc Nhiệm của Nagumo, thân con rắn là phân đội riêng của Yamamoto, và đuôi của con rắn là các chiến hạm mới đến, dưới quyền chỉ huy của Đề Đốc Kakuta.
Hàm răng sắt của Nagumo là hai hàng không mẫu hạm Zuikaku và Shokaku (29.800 tấn mỗi chiếc và tổng số trang bị và chuyên chở lên đến 40.000 tấn). Đây là hai hàng không mẫu hạm tối tân nhất của Nhựt Bản thời ấy, gồm toàn thủy thủ đoàn và phi công chọn lọc. Thêm vào đó còn các hàng không mẫu hạm biến bải Hiyo, Junyo (mỗi chiếc 27.500 tấn) và Zuiho (13.100 tấn) của Đề Đốc Kakuta. Các chiếc tàu sau gồm thủy thủ đoàn và phi công mới huấn luyện, nhưng dưới bàn tay trui rèn của Kakuta, sự thiếu kinh nghiệm của họ cũng được bù đắp phần nào. Kakuta là một vị Đề Đốc trẻ tuổi nhứt dưới quyền của Yamamoto, và là một tay chiến đấu chưa hề biết lùi bước. Ông đến Truk với ý định phục thù cho hàng không mẫu hạm Ryujo, chiếc tàu mà ông từng chỉ huy trước đây. Theo Kakuta, Ryujo sở dĩ bị đánh chìm trong trận hải chiến ở Đông Solomon là do sự cẩu thả của giới chỉ huy cao cấp của Hải Quân Nhựt. Ông cũng tỏ ra tức tối cuộc đại bại ở Midway. Lúc đó ông đang bận chỉ huy lực lượng 2 xung kích tấn công các đảo Aleutian, nên không rảnh tay để nhảy vào tham chiến. Trong trường hợp nầy ông không khác nào cái đuôi con rắn bị kéo đi quá xa, nên không thể nào quật được khi cái đầu của nó bị đánh.
Vào tháng 9 năm 1942, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng Gia ở Đông Kinh ý thức được tình thế nghiêm trọng nên đã cho phép Yamamoto tập trung nổ lực vào cuộc hành quân Guadalcanal và “bỏ rơi” cuộc hành quân ở Palau. Do đó, ông có cơ hội trở thành “một chiến thuật khôn khéo” như lời của nhà quân sự tài ba Trung Hoa, nhưng ông không thực sự tự do để khai thác đầy đủ cơ hội nầy. Lục Quân vẫn giữ các quyết định tối hậu.
Lục Quân đã chuyrn sư đoàn 2 Bộ Binh của họ đóng ở Java đến Rabaul và đòi hỏi “một cuộc hành quân phối hợp Hải Lục ở Guadalcanal”. “Hành quân phối hợp Hải Lục” có nghĩa là lục quân cung cấp binh sĩ và vũ khí, còn hải quân chỉ có nhiệm vụ chuyển vận và yểm trợ mà thôi. Lục quân có trong tay phân nửa tổng số phi cơ chiến đấu của Nhật Bản, nhưng họ không cung cấp một chiếc nào cho cuộc hành quân nầy. Như vậy, ý niệm về một cuộc “hành quân phối hợp” của Nhựt khác xa của Hoa Kỳ.
Khi cuộc hành quân đổ bộ Guadalcanal được chuẩn bị, các chiến hạm được mang danh là “Chuyến xe lửa tốc hành Đông Kinh”(tức các khu trục hạm) lãnh nhiệm vụ chuyên chở sư đoàn 2 Bộ Binh. Đây là các khu trục hạm thuộc Đệ Bát Hạm Đội của Đề Đốc Gunichi Mikawa ở Rabaul.
Lực Lượng Đặc Nhiệm của Đề Đốc Kakuji Kakuta rời khỏi Truk vào ngày trước đó để bắn phá đảo Ndeni, thuộc nhóm phía Bắc Satan Cruz, vì chúng tôi cho rằng các thủy phi cơ của Hoa Kỳ hiện đóng tại đây. Nhưng trước khi chúng tôi đến địch quân đã rút đi hết. Chúng tôi quay lại phía Bắc quần đảo Solomon vào ngày 15 tháng 10, để kết hợp với lực lượng đặc nhiệm Nagumo đã rời Truk ngày 11.
Các “chuyến xe lửa tốc hành Đông Kinh” của Đề Đốc Mikawa, qua tám chuyến chuyên chở vào những ngày từ 2 đến 11 tháng 10, đã đổ 10.000 binh sĩ của Sư Đoàn 2 lên Guadalcanal một cách suông sẽ và thành công đến nỗi gây kinh ngạc cho Đồng Minh. Trong thời gian nầy chỉ có một cuộc đụng độ nhỏ vào ngày 11 giữa hải đội 6 tuần dương hạm của Đề Đốc Aritomo Goto và Lực Lượng Đặc Nhiệm 64 của Đề Đốc Hoa Kỳ Norman Scott. Nhóm chiến hạm hộ tống bị lực lượng của Scott phục kích ở eo biển nằm giữa Savo và nhóm đảo Guadalcanal, và trận đánh nầy thường gọi là trận đánh Cape Esperance. Lực lượng Hoa Kỳ gồm 4 tuần dương hạm và 5 khu trục hạm trong khi Nhựt chỉ có 3 tuần dương hạm và 2 khu trục hạm. Cuộc quần thảo dữ dội kết thúc với hai chiến hạm Nhạt là Furutaka bị đánh chìm và tuần dương hạm Aoba bị hư hại nặng, phía Hoa Kỳ có khu trục hạm Duncan chìm, khu trục hạm Farenholt và hai tuần dương hạm Salt Lake City và Boise hư hại nặng. Sự thiệt hại to tát của Nhật Bản trong trận đánh nầy là cái chết của Đề Đốc Goto, nhưng cũng có cái lợi là đuổi sạch tàu chiến của Hoa Kỳ trong hải vực nầy. Do đó, phó Đô Đốc Takeo Kurita có thể đưa hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna của ông tiến sát vào bờ biển Guadalcanal vào đêm 13 thán 10 để mở các cuộc pháo kích và cánh sườn của địch quân.
Đây là bước đầu phế bỏ chánh sách “cất giữ” thiết giáp hạm do Yamamoto chủ trương trước đây. Trong các cuộc hành quân đã qua, ông luôn luôn từ chối đưa các thiết giáp hạm đến gần các khu vực chiến đấu. Và trong cuộc hành quân nầy, Yamamoto cũng tận dụng không yểm, phát xuất từ một phi trường ở Bougainville, cho thấy là bài quyết định đã được ông đánh xuống.
Lúc 23 giờ ngày 13 tháng 10, hai thiết giáp hạm, mỗi chiếc 27.500 tấn, tiến vào cách bờ biển trong vòng một dậm, với vận tốc trung bình 18 hải lý, và cả 16 khẩu trọng pháo đồng loạt nả 918 trái đạn và phi trường của địch quân. Phi trường bốc cháy suốt 24 tiếng đồng hồ. Trước màn ngoạn mục nầy, tất cả binh sĩ đã đổ bộ lên Guadalcanal đều phấn khởi và thúc giục Yamamoto “trình diễn” một lần nữa. Yamamoto đồng ý, và đêm sau hai tuần dương hạm Chokai và Kinugasa của Đề Đốc Mikawa chạy dọc theo bờ biển, dập phi trường địch thêm 753 trái đại pháo nữa.
(Thiết Giáp Hạm Kongo và Haruna cùng lớp, trọng tải 27.500 tấn, hạ thủy năm 1915, lớp thiết giáp hạm nầy gồm 4 chiếc Kongo, Hiei, Haruna và Kirishima, nguyên thủy được xem là thiết giáp tuần dương hạm, trang bị 8 đại pháo 350 ly, 16 đại pháo 150 ly và nhiều loại vũ khí khác, nó đạt tốc độ 30 hải lý (sau khi cải tiến lại trong thập niên 30), thủy thủ đoàn 1437 người, cả 4 chiếc đều bị đánh chìm trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Hiei và Kirishima bị đánh chìm ở Guadalcanal, Kongo mất trong trận Leyte còn Haruna sau khi đào thoát được về quân cảng Kure và buông neo trốn trong quân cảng cũng không thoát các phi cơ của Lực Lượng Đặc Nhiệm 58 của Hoa Kỳ, nó bị đánh chìm vào ngày 28 tháng 7 năm 1945, chưa đầy một tháng sau Nhật đầu hàng)
Trong các ngày nầy hải quân đảm trách những công việc nhẹ nhàng, và chỉ có một nhiệm vụ được xem là quan trọng, đó là nhiệm vụ tải võ khí nặng để trang bị cho quân đổ bộ. Trong khi đó, lực lượng của Hoa Kỳ đã bắt đầu phản công. Vào ngày 15 tháng 10, phi cơ Hoa Kỳ đã đánh chìm hoặc gây hư hại cho 6 tàu chuyển vận của Nhật Bản. Và sáng sớm ngày 17, hai khu trục hạm Hoa Kỳ đã pháo kích cháy nhiều tàu tiếp tế của Nhựt, và buổi trưa cùng ngày, 7 oanh tạc cơ trở lại “dọn dẹp” thêm một lần nữa.
Vì thiếu phương tiện cơ động để nhanh chóng chuyển đồ tiếp tế từ tàu lên bờ cất dấu tại những nơi an toàn, Nhật Bản đã phải chịu đựng sự thiệt hại nặng nề. Chúng tôi chỉ biết nhìn ngọn lửa bốc cao mà lắc đầu.
Các chiến hạm Hoa Kỳ sau khi hoàn tất nhiệm vụ đã rút lui và bị phát hiện cách phía Nam Guadalcanal 110 dậm, nhưng lực lượng Kakuta lại nằm cách phía Bắc hòn đảo 200 dậm, thành thử không thể nào truy đuổi được.
Khi Yamamoto tăng cường trong khu vực, địch quân đã hành động đúng theo Tôn Tử binh pháp:
“Khi đương đầu với một lực lượng địch quân mạnh mẽ, phải chờ lúc tinh thần của lực lượng đó suy vi mà đánh… một lực lượng vừa phất cờ giống trống ra quân bao giờ cũng hăng hái, chúng ta nên tránh né. Lực lượng nầy sẽ mệt mõi và biếng nhác hẳn khi trên đường trở về điểm xuất phát, đây là lúc nên đánh.”
Hai lực lượng đặc nhiệm hải quân Nhựt đã ở trên hải vực phía Nam quần đảo Solomon hơn một tuần lễ mà không hề đụng một trận nào có thể gọi là dữ dội với địch quân, thành thử đã bắt đầu uể oải, tinh thần hăng hái trước đó tan biến dần.
Đồng thời, đến ngày 20 tháng 10, chúng tôi cũng đã hết kiên nhẫn trong việc chờ đợi các lực lượng đổ bộ ở Guadalcanal mở một cuộc tấn công toàn diện. Sư đoàn 2 Bộ binh, hiện có mặt trên đảo Guadalcanal, chính là sư đoàn chiếm đóng Nam Kinh trong cuộc chiến tranh Hoa Nhựt trước đây, và gây nhiều tai tiếng không tốt cho Nhật Bản qua các hành động dã man và hãm hiếp của họ trong thành phố nầy. Mới đây, sư đoàn nầy cũng đã đánh chiếm Java một cách dễ dàng. Nhưng ở Guadalcanal sư đoàn đành phải bó tay một cách không ngờ trước khí hậu độc địa và địa thế hốc búa trên hòn đảo. Hiện tại, với hơn phân nửa trang bị vừa mới đưa đến đã bị chiến hạm và phi cơ của Hoa Kỳ thêu rụi, sư đoàn đang chiến đấu trong tình cảnh nguy ngập thực sự.
Nhưng mặc dù tình thế của bộ binh nguy ngập như vậy cuộc phản công dự định vào ngày 20 tháng 10 lại đình hoãn trong lúc hải quân đã thấy chán nãn vì bị chôn chân một chổ. Và không may hơn nữa, hàng không mẫu hạm Hiyo, soái hạm của Đề Đốc Kakuta, bị trục trặc máy móc vào ngày 22 tháng 10, sửa chửa cách nào cũng không được. Hàng không mẫu hạm nầy nguyên thủy sử dụng kiểu máy móc của một chiếc tàu vận tải, vì vậy trước đó nó cũng không đầy đủ khả năng của một hàng không mẫu hạm. Kakuta đã dời bộ chỉ huy sang hàng không mẫu hạm Junyo và ra lịnh cho chiếc Hiyo trở về Truk. Trên hải trình trở về chiếc Hiyo không thể nào chay nổi quá 6 hải lý một giờ.
Một cuộc tấn công dữ dội đang được Hoa Kỳ sắp xếp nhằm vào hải quân Nhựt hơn là nhắm vào các lực lượng Nhựt đã đổ bộ lên đảo Guadalcanal. Hiện thời Lực Lượng Đặc Nhiệm của Kakuta chỉ còn một hàng không mẫu hạm. Chiếc Zuiho được chuyển đến cho lực lượng đặc nhiệm của Nagumo trước đó. Như vậy khúc đuôi của “con rắn” đã mất hết hai phần ba sức mạnh. Các lực lượng hăng hái và khỏe mạnh của Hoa Kỳ đang trong tư thế sẵn sàng khai chiến.
(Hàng Không Mẫu Hạm Hiyo và Junyo, cả hai chiếc đều biến cải từ tàu vận tải lớn vào năm 1940, sau khi hoàn tất trang bị và thử nghiệm nó được đưa sang tham gia chiến dịch ở Guadalcanal, chiếc Hiyo hư máy phải về Nhật sửa chữa và hoạt động động lại vào đầu năm 1943, chiếc nầy bị đánh chìm trong trận Leyte, nó thuộc hạm đội “chim mồi” của Đô Đốc Ozawa. Junyo thì may mắn hơn, tham gia trận đánh Santa Cruz sau Guadalcanal và các chiến dịch lớn khác, và ngoạn mục nhất là sống sót qua trận Leyte trong khi các mẫu hạm hiện đại nhất Taiho và hai mẫu hạm vinh quang Zuikaku và Shokaku cùng các tiểu mẫu hạm khác đều bị đánh chìm. Cả hai chiếc Hiyo và Junyo đều được trang bị pháo khẩu 130 ly để tự về và hơn 80 khẩu phòng không 25 ly, sang năm 1944 nó còn được trang bị các dàn rocket 130 ly và có khả năng mang theo 53 máy bay các loại, thông thường là 12 Zero, 18 Val và 18 Kate. Hàng không mẫu hạm Zuiho, đây là mẫu hạm nhẹ cùng loại với chiếc Shoho bị đánh chìm ở trận hải chiến biển San Hô, 14.200 tấn, nguyên thủy là một tàu dầu hạ thủy năm 1934 đến năm 1940 được sửa đổi thành một tàu chở tiềm thủy đỉnh tốc độ cao, nhưng sau đó vì mục đích xây dựng lực lượng hàng không mẫu hạm quan trọng hơn nên nó được chuyển đổi một lần nữa thành mẫu hạm hộ tống hạng nhẹ mang được 30 máy bay, trang bị súng 130 ly và 56 khẩu phòng không 25 ly. Zuiho tham chiến ở các chiến dịch tấn công Phi Luật Tân và cuộc hành quân Midway nhưng không đụng độ với Mỹ nhiệm vụ của Zuiho là hộ tống. Tháng 10 năm 1942, Zuiho tham gia trận đánh Santa Cruz và bị trúng bom từ các oanh tạc cơ SBD, sức nổ phá tan gần như đường băng sân bay và nó bị loại khỏi vòng chiến, tuy nhiên sau khi sửa chưa tháng 1 năm 1943 Zuiho quay lại Guadalcanal một lần nữa kết hợp với Zuikaku và Junyo tấn công Guadalcanal. Sau chiến dịch ở Guadalcanal, Zuiho bị đánh chìm trong trận đánh ở vịnh Leyte.)

sakaifan
12-14-2009, 10:09 PM
5

Quá trưa ngày 24 tháng 10, Phó Đô Đốc Chuichi Nagumo ngồi trầm ngâm trong cabin trên hàng không mẫu hạm Shokaku. Sau cuộc chiến ở Midway, ông trở nên cằn cổi. Tóc ông đã ngã sang màu muối tiêu, mặt mày hốc hác và luôn luôn cau có. Ông liếc nhìn hai mảnh giấy trên bàn. Ông đã đọc hàng trăm lần để cố gắng hiểu ý nghĩa của những dòng chữ chứa đựng trong hai mảnh giấy nầy. Một mảnh để ngày 20 tháng 10 cho biết hải quân Hoa Kỳ đang chuẩn bị một trận đánh Hải Không hổn hợp quan trọng ở Nam Thái Bình Dương. Nagumo tự hỏi không hiểu có đúng hay không, hay là một tin tức đánh lừa?
Mảnh giấy thứ hai là con số những chiến hạm của địch quân được phi cơ thám thính của Nagumo phát hiện trong thời gian lực lượng của ông có mặt trong khu vực, theo đó từ 12 đến 24 tháng 10, hàng không mẫu hạm của địch quân vắng bóng, ngoại trừ hai chiếc liên hiệp vào ngày 13. Thiết Giáp Hạm của địch cũng ít ỏi, hai ba chiếc và nhiều nhứt là 5 chiếc vào ngày 24. Con số tuần dương hạm nhiều hơn, nhưng nhiều nhứt là 8 chiếc vào ngày 16. Riêng khu trục hạm của địch có con số đáng kể, 15 chiếc vào ngày 16 và 19 chiếc vào ngày 24.”
“Như vậy các hàng không mẫu hạm địch vắng bóng trong khu vực suốt một tuần lễ.” Nagumo lẩm nhẩm. “Sự vắng mặt nầy có ý nghĩa gì?”
Ông đứng dậy đi qua đi lại trong phòng. Ông chợt dừng lại và mỉm cười. Ông nghĩ đến lời khuyên của Tôn Tử: “Một lực lượng địch quân hăng hái nên né tránh, hãy chờ cho lực lượng nầy chán nãn và trễ biếng rồi sẽ đánh.” Một tiếng gõ cửa, và một trong những sĩ quan tham mưu của Nagumo bước vào.
Đó là Trung tá Toshitane Takada. Sau khi chào, ông ta lên tiếng: “Thưa Đô Đốc, truyền tin báo cáo là thình lình họ đã bắt được một số công điện dồn dập, mà họ không hiểu nghĩa, nhưng rõ ràng đó là những công điện trao đổi giữa tiềm thủy đỉnh và phi cơ của địch quân lai vãng đâu đây.”
Nagumo gật đầu: “Tốt! Hãy gọi Tham Mưu Trưởng Kusaka lập tức.”
Đề Đốc Ryunosuke Kusaka, một người hăng hái và nặng kí ba chân bốn cẳng từ phòng chỉ huy chạy đến.
Nagumo hỏi: “Vấn đề tiếp tế xăng nhớt cho tàu bè chúng ta như thế nào?”
Kusaka đáp: “Thưa Đô Đốc, tất cả đang nhận từ các tàu chở dầu.”
Nagumo gật đầu: “Tốt! Báo cho tất cả hạm trưởng biết họ sắp sửa nhận một nhiệm vụ quan trọng. Các chiếc tàu đã lấy dầu xong thì phải trở về đội ngũ ngay.”
Cũng khoảng thời gian nầy, trên hàng không mẫu hạm Junyo, Đề Đốc Kakuji Kakuta, đang nghe tin tức của đài phát thanh Hạ Uy Di. Theo đó, một trận đánh Không Hải quan trọng sắp xảy ra gần Salomon được xác nhận của xướng ngôn viên địch. Kakuta cũng đã xem qua hai mảnh báo cáo giống như của Nagumo. Kakuta khịt mủi và day lại sĩ quan không quân của ông, Thiếu tá Masatake Okumiya: “Tốt! Masatake, anh nói gì?”
Viên sĩ quan thông minh và hoạt bát, đôi mắt long lanh trên khuôn mặt bị nám đen do một tai nạn rớt phi cơ gây ra trước đây, hắng giọng và nói một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Đề Đốc, ngày 27 tháng 10 là ngày của hải quân Hoa Kỳ.”
Kakuta, một tay chiến đấu không biết mệt, nhảy dựng lên và cất tiếng cười to: “Tuyệt diệu, tuyệt diệu. Hay chuẩn bị gấp mấy món quà Ngày hải quân hậu hỉ cho mấy tên Yank tự phụ nầy.”
Trên soái hạm Shokaku, Nagumo vẫn hội hợp với Kusaka. “Thế trận của chúng ta hiện tại đã dàn như thế nào?” Nagumo hỏi. Kusaka đáp: “Hai thiết giáp hạm Hiei và Kirishima, tuần dương hạm Chikuasa và 7 khu trục hạm của Đô Đốc Kiki Abe, cách phía trước chúng ta 60 đến 80 dậm tức hướng Nam. Tuần dương hạm Tone và khu trục hạm Terutsuki của Đề Đốc Chuichi Hara ở hướng Đông cách đây 200 dậm. Lực lượng của Đề Đốc Kakuta cách 300 dậm hướng Tây.”
“Có tin tức gì về các hàng không mẫu hạm địch không?”
“Dạ không!”
Một khoảng im lặng ngắn ngủi được Nagumo phá vở với một câu nói có hơi lưỡng lự và nghĩ ngợi: “Ở Midway, địch quân đã chọn lựa thời gian để đánh chúng ta. Hiện tại chắc họ cũng làm như vậy, những mục tiêu mà họ nhắm vào chúng ta đã rõ như ban ngày, nhưng chúng ta vẫn đui mù.”
Trung tá Takada, một sĩ quan tham mưu, lên tiếng: “Xin lỗi, thưa Đô Đốc, tôi có thể mạn phép đề nghị gởi một công điện cho Yamato (tức soái hạm của Yamamoto lúc đó ở Truk) để xin các chỉ thị?”
Nagumo im lặng. Kusaka nhắm mắt một lát, sau đó mở bừng ra nói: “Phải, Takada, hãy chuyển một công điện như sau: Kusaka, Tham Mưu Trưởng Đệ Nhứt Không Hạm Đội gởi Phó Đô Đốc Matome Ugaki, Tham Mưu Trưởng Hạm Đội Hổn Hợp. Tôi xin mạn phép đề nghị ngừng bước tiến về phía Nam của chúng ta cho đến khi nào chúng ta nhận được tin tức dứt khoát cho biết Lục Quân đã chiếm giữ các phi trường ở Guadalcanal. Hình như chúng ta càng lúc càng chui đầu vào rọ nếu chúng ta cứ tiếp tục dấn bước thêm.”
Nagumo chăm chú lắng nghe và gật đầu để chứng tỏ sự đồng ý của ông. Công điện được gởi đi và ca bin chìm trong nổi lặng im trĩu nặng. Nagumo và bộ tham mưu quyết định bất động để chờ hồi đáp.
Khu trục hạm Amatsukaze lúc đó đang chạy cách tả mạn soái hạm Shokaku của Nagumo 2.000 thước. Tàu của tôi, một tuần dương hạm và 9 khu trục hạm là nhóm chiến hạm bao quanh chiếc Shokaku và hai hàng không mẫu hạm Zuikaku và Zuiho thuộc Hải Đội 1 Hàng Không Mẫu Hạm. Nagumo và Kusaka cùng học hỏi được một bài học cay đắng và đắc giá ở Midway, nên cả hai không dám khinh suất trong thời gian nầy.
Vừa bước qua nửa đêm, phúc đáp đến từ Truk: “Ugaki gởi Kusaka: lực lượng của ông tiếp tục tiến nhanh về phía địch quân. Các lịnh hành quân vẫn duy trì.”
Kusaka bậm môi. Takada kêu trời. Nagumo khịt mủi, và sau đó nói một cách trầm tỉnh: “Được, ra lịnh cho các hàng không mẫu hạm lấy thêm nhiên liệu.”
Ba hàng không mẫu hạm chạy chầm chậm để lấy nhiên liêu trong bóng đêm. Bình minh ngày 25 tháng 10, mọi việc đang xúc tiến đều đặn thì một báo cáo bay đến ca bin của Nagumo làm đảo lộn tất cả. Nagumo lúc đó còn đang ngủ.
Mọi người đều bàng hoàng, và hiểu là chúng tôi đã thoát bẩy của địch quân chỉ trong đường tơ kẻ tóc. Nếu chúng tôi tiếp tục tiến về hướng Nam ma không xoay hai lần để chạy về hướng Bắc, lực lượng Hoa Kỳ có thể đánh tập hậu chúng tôi, và chúng tôi sẽ rước thêm thảm bại nhục nhã.
Trên đài chỉ huy của soái hạm Shokaku, Phó Đô Đốc Nagumo mỉm cười lần đầu tiên sau nhiều giờ lo âu. Ông ra lịnh cho phi cơ cất cánh. Mọi người đã học được bài học ở Midway, nếu vì ngần ngừ một chút thì thảm họa có thể xảy ra. Hai hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku tung 40 oanh tạc cơ và 27 chiến đấu cơ lên trong vòng 15 phút. Sự nhậm lẹ nầy trái ngược hẳn với sự chậm chạp như rùa của chiếc Ryujo cách hai tháng trước đây cũng trong khu vực nầy.
Hai phi cơ tuần thám của Hoa Kỳ bổng xuất hiện, bay vượt qua đầu chúng tôi và bỏ vài trái bom xuống ngay hàng không mẫu hạm Zuiho. Một trái bom nổ tung trên sân bay và phát hỏa. Ngọn lửa được dập tắt ngay, nhưng sân bay của Zuiho bị thiệt hại nặng.
Hạm trưởng của Zuiho cho biết phi cơ của ông vẫn còn cất cánh được nhưng không thể trở về. Sau khi cho cất cánh tất cả chiến đấu cơ, Nagumo ra lịnh cho chiếc Zuiho rút lui.
Những chất dẫn hỏa trên sân tàu của tất cả chiến hạm được lịnh dọn dẹp, và mọi thùng đựng nước để chửa cháy đều mở nắp. Địch quân đã biết vị trí của lực lượng chúng tôi và ồ ạt xuất hiện không biết lúc nào.
Một làn sóng tấn công thứ nhì của Nhật Bản, bao gồm 16 chiến đấu cơ, được tung ra vào lúc 6 giờ sáng. Hiện tại, tất cả hàng không mẫu hạm không còn được một chiếc phi cơ nào bao che. Chúng tôi phải ra tay trước, đánh phủ đầu địch quân.
Trong lúc đó, trên hàng không mẫu hạm Junyo, Đề Đốc Kakuta đã tỏ vẽ tức tối khi biết địch quân còn cách ông đến 300 dậm. Ông ra lịnh cho các chiến hạm của ông xả hết tốc lực về hướng Đông Nam. Chiếc Junyo, một hàng không mẫu hạm biến cải, đã chạy với tốc độ 26 hải lý thay vì 20 hải lý như thường khi bức xa 3 khu trục hạm hộ tống chạy phía sau. Đây là lần đầu tiên các thủy thủ khu trục hạm nhìn thấy soái hạm chậm chạp nầy rời bỏ họ khá xa như vậy, cho đến cả tiếng đồng hồ sau họ mới đuổi theo kịp. Mục tiêu cách 330 dậm không phải quá xa. Kakuta có thể xử dụng phi cơ quày lai Shokaku hay Zuikaku để chỉ huy. Nhưng ông muốn mặt đối mặt với quân địch.
Lúc 7 giờ 14 phut, Kakuta tung 29 phi cơ làm ba đợt để tấn công địch quân. Sau đó, các phi cơ báo cáo: “Nhìn thấy hàng không mẫu hạm địch… tất cả phi cơ đều nhào xuống.” Bốn mươi oanh tạc cơ và các phi cơ trang bị thủy lôi đã tập trung bom vào hàng không mẫu hạm Hornet của Hoa Kỳ, kéo dài 10 phút. Nhiều trái bom đã trúng thẳng mục tiêu.
Tôi đã tạm quên các tin tức đầy phấn khởi nầy, khi một oanh tạc cơ quay trở về và cố đáp trên chiếc Shokaku, nhưng vì hỏng máy nên chiếc phi cơ đã chúc xuống biển, phía sau hàng không mẫu hạm. Khu trục hạm Amatsukaze chạy đến vớt phi công. Trong khi công việc đang xúc tiến, phi cơ địch bay đến. Báo động toàn thể, và tất cả mọi người đều xoay sang chiến đấu. Tôi liếc nhìn nhận thấy khoảng một chục oanh tạc cơ địch thoát ra khỏi mây, bay thấp ở độ cao 2.000 thước. Tôi tiếp tục công việc giải cứu phi công lâm nạn, vì tin rằng phi cơ địch sẽ chọn hàng không mẫu hạm Shokaku để tấn công hơn là chiếc tàu bé nhỏ của tôi.
Trong khi Amatsukaze quay lại, với hai phi công được giải cứu, tất cả chiến hạm khác của Nhật đều khai hỏa vào nhóm phi cơ địch đang bay đến. Cùng lúc sáu chiến đấu cơ của chúng tôi lập tức cất cánh. Amatsukaze nhảy ngay vào vòng chiến. Hành động phản công nhanh nhẹn của Nhựt khác xa hai tháng trước đây khi hàng không mẫu hạm Ryujo chịu đựng cuộc không kích biết bao.
Hai phi cơ trang bị thủy lôi địch trúng đạn của chiến đấu cơ Nhựt, bốc khói và nổ tung. Một chiến đấu cơ của chúng tôi đâm thẳng vào một oanh tạc cơ địch gây ra một tiếng nổ kinh hồn, và cả hai tan ra từng mãnh. Hai oanh tạc cơ khác của địch trúng đạn cao xạ, đâm đầu xuống biển. Một việc lạ lùng là chúng tôi không nhìn thấy một chiến đấu cơ nào của địch quân. Tôi tự hỏi tại sao địch quân lại không cho loại phi cơ hộ tống nầy bay theo?
Con số phi cơ địch giảm xuống nhanh dần. Hỏa lực phòng không của chiến hạm Nhựt tạo một màn lửa dầy đặt trên không. Có thể xem như chúng tôi đẩy lui cuộc tấn coogn với sự thiệt hại ít ỏi. Amatsukaze chạy theo hình chữ chi với vận tốc 33 hải lý để chiến đấu, nhưng luôn luôn dòm chừng chiếc soái hạm Shokaku, vì nó cần được bảo vệ tối đa. Tôi nhìn thấy hai oanh tạc cơ chui xuyên qua màn hỏa lực của chiếc Shokaku và đâm thẳng vào chiếc tàu nầy từ một độ cao khoảng 7.000 thước, nhưng cuối cùng nó bổng bay vượt lên và biến mất trong mây. Cùng lúc hai hoặc bốn vệt sáng trắng giống như các làn chớp, rơi xuống khoảng giữa chiếc soái hạm, trúng một nơi gần đài chỉ huy và bùng cháy. Khói lan tỏa ra mọi phía, bao phủ toàn thể sàn tàu. Vào giây phút cuối cùng của cuộc tấn công, soái hạm Nhựt lãnh 4 trái bom.
Shokaku xoay hướng, vẫn chạy với tốc độ 30 hải lý, hiển nhiên máy móc của nó không hề hấn gì, và bắt đầu rút lui với hai khu trục hạm hộ tống. Trước khi rời khu vực, Nagumo chỉ thị cho tôi bảo vệ Zuikaku, hàng không mẫu hạm duy nhứt còn hoạt động của ông. (Còn hàng không mẫu hạm Junyo, nằm trong lực lượng tiền phương của Kondo, nhưng không nằm dưới quyền chỉ huy của Nagumo).
Tôi vẫn còn ngơ ngác, không hiểu tại sao Shokaku, với các phi công tài ba và thủy thủ đoàn kinh nghiệm, lại tỏ ra yếu kém như vậy? Việc chiếc Ryujo bị đánh chìm không làm tôi ngạc nhiên mấy, vì kinh nghiệm chiến đấu nghèo nàn của nó, nhưng chiếc Shokaku bị loại ra khỏi vòng chiến mới gây xúc động thật sự cho tôi. Tuy nhiên, tôi không có thời giờ để nghĩ vẫn vơ. Làn sóng tấn công của phi cơ địch đã chấm dứt, nhưng các làn sóng khác sẽ ào đến không biết lúc nào để tấn công hàng không mẫu hạm duy nhứt còn lại. Hơn nữa, chiếc Zuikaku phải nhận tất cả các phi cơ của ba hàng không mẫu hạm khác đang hoạt động trở về. Dĩ nhiên, có một số phi cơ bắt buộc phải đáp xuống biển vì một mình chiếc Zuikaku không đủ chổ chứa. Khu trục hạm Amatsukaze xả hết tốc lực chạy lại gần chiếc Zuikaku.
Một giờ trôi qua, không thấy cuộc tấn công nào mới của địch quân. Các phi cơ của hàng không mẫu hạm Zuikaku trở về từng nhóm nhỏ. Theo báo cáo của các phi công chúng tôi mới biết tại sao oanh tạc cơ địch không có chiến đấu cơ bay theo bảo vệ. Phi xuất đầu tiên của Nhựt bao gồm 40 oanh tạc cơ và 27 chiến đấu cơ đã đụng đầu với nhóm phi cơ tấn công thứ nhứt của địch quân trên không. Một sự đụng độ ít thấy xảy ra trước đây. Phân nữa con số phi cơ Nhựt mở ngay một cuộc không chiến dữ dội với phi cơ địch trên Thái Bình Dương. Tám chiến đấu cơ địch bị bắn rơi, nhưng chúng đã cầm chân được các phi cơ Nhựt để cho oanh tạc cơ thoát đi và tấn công, loại soái hạm Shokaku ra khỏi vòng chiến. Đồng thời, nửa nhóm phi cơ Nhựt còn lại vẫn tiếp tục bay đến tấn công mục tiêu là hàng không mẫu hạm Hornet của Hoa Kỳ. Nhưng lực lượng tấn đã giảm đi sức mạnh nên gặp nhiều khó khăn. Kết quả 7 oanh tạc cơ Nhựt bị bắn hạ nhưng cũng gây thiệt hại nặng cho chiếc Hornet. Địch quân đã bỏ rơi hàng không mẫu hạm nầy sau đó.
Như vậy, nhóm 27 oanh tạc cơ và chiến đấu cơ của hàng không mẫu hạm Hornet đã tấn công đơn vị tiền phương của chúng tôi, còn nhóm phi cơ ít hơn của hàng không mẫu hạm Enterprise tấn công soái hạm Shokaku. Tại sao nhóm phi cơ lớn hơn lại chọn mục tiêu là các tuần dương hạm đi đầu thay vì hai hàng không mẫu hạm của chúng tôi, cho đến bây giờ tôi cũng không thể đoán ra. Các tuần dương hạm tiền phương lúc đó đang chạy cách 120 dậm phía trước chúng tôi, thay vì 60 dậm như trước đây. Việc nầy là do hai lần đổi hướng của Nagumo. Trong cuộc oanh kích chỉ có tuần dương hạm Chikurma bị tổn hại do 7 trái bom gây ra, và được hai khu trục hạm hộ tống về Truk. Cuộc taasnc ông của các phi cơ địch thất bại đã làm cho thế cờ lật ngược. Trong khi chiếc Hornet bị bỏ rơi, chiếc Enterprise bị các đợt phi cơ mới tung lên của Nhựt tấn công vũ bảo nên Đề Đốc Kinkaid đã ra lịnh cho tất cả lực lượng của ông rút lui.
Sau cuộc tấn công, năm khu trục hạm, bao gồm chiếc của tôi, chạy quanh hàng không mẫu hạm Zuikaku để giải cứu các phi công đâm đầu xuống biển. Amatsukaze vớt được hai phi công oanh tạc cơ. Kế đó, một oanh tạc cơ trang bị thủy lôi hạ cánh xuống sân tàu nhưng không thể ngừng lại được nên đã chạy vượt ra phi đạo và đâm đầu xuống biển. Chiếc tàu của tôi chạy nhanh đến giải cứu nhưng không kịp, cả phi công và phi cơ đều chìm sâu dưới đáy biển.
Một chiến đấu cơ khác đâm đầu xuống biển, song song với Amatsukaze. Tôi ra lịnh xả hết tốc lực chạy đến và ngừng lại để giải thoát phi công trước khi chiếc phi cơ chìm xuống. Phi công nầy bị thương nặng, khi chúng tôi mang lên tàu, hắn chỉ kêu được một tiếng “Mẹ” nho nhỏ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Hôm đó, chúng tôi giải cứu được tất cả 13 phi công, 3 người đã chết ngay khi mang lên tàu.
Hai hàng không mẫu hạm còn lại hoạt động manh mẽ. Trước trưa ngày hôm đó, hai chiếc Junyo và Zuikaku phối hợp, đã tung ra một làn sóng tấn công thứ nhì với 15 phi cơ vào lúc 11 giờ 6 phút. Năm phút sau, Zuikaku lại cho cất cánh thêm 13 phi cơ nữa. Chiếc Junyo của Đề Đốc Kakuta vẫn giữ hướng đâm thẳng về phía địch quân và cho cất cánh tất cả phi cơ còn lại.
Nhưng không phải mọi vị tư lịnh Nhựt đều “dữ dội” như Kakuta. Phó Đô Đốc Nobutake Kondo, Phụ tá Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hổn Hợp nắm trong tay một lực lượng bao gồm hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna, với hàng chục khu trục hạm và tuần dương hạm bao quanh, một lực lượng có thể đè bẹp địch quân dễ dàng như vậy mà ông lại nhút nhác không đưa ra một hành động ngoạn mục nào.
Một kẻ rụt rè khác là Đề Đốc Koki Abe, chỉ huy một đơn vị tiền vệ gồm hai thiết giáp hạm và năm kht, đã chân trước chân sau rời khu vực chiến đấu với soái hạm Chikuma và hai khu trục hạm hộ tống. Ông nầy quả là một người quá cẩn thận.
Vào buổi trưa, khi mạng lịnh đưa đến từ Truk bắt chúng tôi săn đuổi và tiêu diệt địch quân đang tháo chạy, thì đã quá trể. Dù cho các chiến hạm của Kondo xả hết tốc lực cũng không thể nào nuốt trôi khoảng cách 300 dậm giữa ông và địch quân.
Trong đêm, hai khu trục hạm Makigumo và Akigumo tiến đến hknh Hornet. Hai chiến hạm Hoa Kỳ lảng vảng gần chiếc hàng không mẫu hạm bất động nầy đã quay đầu bỏ chạy. Hai khu trục hạm Nhựt thiêu rụi “mục tiêu” với 4 trái thủy lôi.
Trên khu trục hạm Arashi, Nagumo đã trở lại khu vực vào sáng sớm ngày 27 tháng 10. Lửa bốc cháy trên hàng không mẫu hạm Shokaku đã được dập tắt ngay trưa hôm đó. Nagumo chuyển soái kỳ của ông từ chiếc Arashi sang chiếc Zuikaku. Nhiều phi cơ của hàng không mẫu hạm Zuikaku và Junyo cất cánh tìm tung tích địch quân tháo lui, nhưng không thấy bóng dáng nào trong vòng bán kính 300 dậm. Lúc 6 giờ 30 ngày 27 tháng 10, Nagumo ra lịnh chấm dứt các hoạt động nầy. Tất cả chiến hạm tụ hội suốt ngày, và sau đó quay mủi trở về Truk.
Tổng kết trận đánh vừa qua, được mệnh danh là trận Santa Cruz, phía Nhựt hư hại 6 chiến hạm mọi loại trong đó có hàng không mẫu hạm Shokaku, và mất 66 phi cơ. Phía Hoa Kỳ chìm hàng không mẫu hạm Hornet và hư hại năm chiến hạm mọi loại và mất 74 phi cơ.
Vì vậy, nếu so sánh con số, có thể nói Nhật Bản đã chiến thắng. Địch quân bước vào trận đánh với các lợi thế tâm lý và chiến thuật, nhưng đã phải trả một giá khác cao. Địch quân dọn chiến trường với thời gian và không gian do họ chọn lựa. Nhưng họ đã phải kinh ngạc. Họ không ngờ đầu và đuôi “con rắn Nhật Bản” đã biết ứng biến và rất mềm dẽo, trái ngược hẳn trận Midway và kết quả gậy ông đập lưng ông.
Mặc dù qua sự so sánh thiệt hại, Nhựt xem như đã chiến thắng, nhưng địch quân thật sụ đã nắm phần thắng về mặt chiến lược. Khi trận đánh nầy kết thúc, Hoa Kỳ có được một khoảng thời gian quí giá cho phép họ tăng cường lực lượng và chuẩn bị hành động kế tiếp. Sự chiến thắng chiến lược của địch quân phải qui trách nhiệm cho lực lượng trung ương của Nagumo, dưới quyền chỉ huy của Đề Đốc Kondo, đã thiếu tinh thần diệt địch. Nếu lực lượng của Kondo tận lực như đầu đuôi đã làm, lực lượng địch quân có thể bị tiêu diệt hoàn toàn.
Hết quyển 1

baloo2000
12-16-2009, 09:58 AM
Mẫu hạm hạng nhẹ IJN Zuiho : kẻ đầu tiên bị loại khỏi vòng chiến

baloo2000
12-16-2009, 10:59 AM
Các tử sỹ phía Hoa Kỳ :
USS Lexington (trận Coral Sea) & USS Hornet (trận Santa Cruz)

baloo2000
12-16-2009, 11:07 AM
Lực lượng chủ lực của Phó Đô Đốc Nobutake Kondo : Battlecruiser Kongo & Haruna

baloo2000
12-16-2009, 11:57 AM
Cánh quân của Đề đốc Koki Abe : 2 battlecruiser Hiei & Kirishima

cùi bắp
12-16-2009, 02:04 PM
Xin đa tạ bác Sakai đã dày công viết lách "kinh sử" , đệ xin bái phục sư phụ Sakai ddddddddddddààààààaààààiiiiiiiiiiiiiiiii iiiiiii hhhhhhhhhheeeeeeeeehhhhhhhhhhhhhheeeeeeeeeeeee, mới đọc xong quyển 1 của bác mà em đã tốn hết $100 mua mh của thằng cùi bắpI rồi hhhuuuuhhhuuuuuhhhuuuuu, địêu này sớm muộn gì chắc em cũng bị ra đường làm "homeless" quá .

ice_cube
12-16-2009, 09:31 PM
một trong những quyển mình thích nhất. không hiểu sao, mình cũng rất thích đọc các tư liệu về phe Trục, chứ không thích đồng minh. có thời gian, mình sẽ edit lại quyển này như quyển của sakai tặng các bạn

thanx to sakaifan

tonyteo
03-06-2010, 01:06 AM
Tặng bác Sakaifan và các bác một cuốn phim về chiếc Thiết Giáp Hạm nổi tiếng Yamato:

YAMATO: SINKING THE SUPER SHIP

http://rapidshare.com/files/343718854/Nova_-_Sinking_The_Supership_D3pZ4i_.part1.rar

http://rapidshare.com/files/343719287/Nova_-_Sinking_The_Supership_D3pZ4i_.part2.rar

http://rapidshare.com/files/343719953/Nova_-_Sinking_The_Supership_D3pZ4i_.part3.rar


http://rapidshare.com/files/343719965/Nova_-_Sinking_The_Supership_D3pZ4i_.part4.rar

sakaifan
03-06-2010, 10:06 AM
8. TOÁN TATARA LÊN ĐƯỜNG

Sau khi tu bổ, thủy thủ đỉnh I.47 trở về Hikari trong tuần lễ cuối cùng của tháng Ba. Tôi nhìn chiếc tàu tiến vô hải cảng lúc đang đứng trên boong của một ngư lôi đỉnh để quan sát Trung úy Kakizaki chạy Kaiten. I.47 được sơn một lớp sơn chống ra da mới. Tôi vẩy nón với thủy thủ đoàn khi chiếc tàu lướt ngang qua ngư lôi đỉnh của tôi. Chúng tôi chấm dứt thực tập, trở về cầu tàu vừa lúc một chiếc xuồng máy đưa Hạm Trưởng Orita vô bờ. Sáu hoa tiêu Kaiten chúng tôi đến ngay nơi cư trú của sĩ quan.
“A! Kakizaki, Chui! Shibaraku, dana?”
Hạm Trưởng Orita chào đón toán trưởng của chúng tôi một cách vồn vã. Rồi nụ cười rạng rỡ của ông biến sang buồn rầu:
“Toán Kaiten có nhiều biến đổi phải không? Tôi rất buồn khi nghe Trung úy Yazaki thiệt mạng, nhưng khi tin tức về cái chết của Đại úy Miyoshi đến tai tôi, tôi mới xúc động hoàn toàn. Khi nghe tin, tôi đã ngồi chết sững, hầu như tê liệt mấy phút.”
Kakizaki nói, giọng cứng rắn và rõ ràng:
“Chúng tôi quyết tâm đền bù sự mất mát của Yazaki và Đại úy Miyoshi.”
Hạm Trưởng Orita nói:
“Anh nói đúng. Tôi nghĩ các bạn sẽ làm nên việc. Hơn nữa, sáu anh là những hoa tiêu Kaiten đầy đủ kinh nghiệm nhứt hiện nay.”
Kakizaki nói:
“Cảm ơn Thiếu tá! Bây giờ, tôi mạn phép giới thiệu những người khác trong toán của chúng tôi với Thiếu tá.”
Lần lượt chúng tôi được giới thiệu và mỗi người đều cuối đầu chào cung kính. Trong cuộc gặp gỡ nầy, tên toán của chúng tôi, Tatara, được bàn tán. Hồi thế kỷ thứ 15, có một đại chiến tướng Nhật Bản tên là Tokimure Hojo. Ông đã đảm trách nhiệm vụ phòng thủ chống lại hạm đội đồ sộ của Mông Cổ đang mưu toan đổ bộ và chinh phục xứ sở chúng tôi. Được trợ giúp bởi một cơn bảo thổi tan hầu hết hạm đội nầy, ông đánh bại địch quân, trong trận hải chiến gần bãi Tatara, ở phía Bắc Kyushu. Cơn bão nầy là một trong hai ngọn “Thần Phong” thường được đề cập đến trong lịch sử của chúng tôi. Các phi đội Kamikaze mang ý nghĩa của ngọn gió thần nầy. Toán của chúng tôi được đặt tên Tatara, bởi lẽ chúng tôi cũng sẽ tấn công một lực lượng đổ bộ của Hoa Kỳ đang mưu toan đánh chiếm Okinawa nằm trong chuổi đảo Ryukyu của chúng tôi.
Soái hạm của toán Tarata là chiếc I.47, chở Kakizaki, Maeda, Shinkai, Yamaguchi, Furukawa và tôi. Cũng còn có ba tiềm thủy đỉnh khác. Chiếc I.44 sẽ ra khơi, dưới quyền chỉ huy của một hạm trưởng mới, Thiếu tá Kiyoshi Masuzawa, và các hoa tiêu Kaiten: Trung úy Hideo Doi, Thiếu úy Yasuhito Ikaku, Thiếu úy Takaharu Tatewaki và Trung sĩ Hikogo Sugabara. I.44 không có dịp may tấn công địch quân, vì nó bị các chiến hạm và phi cơ Hoa Kỳ khám phá, giữ riết dưới mặt nước gần hai ngày ròng rã. Bắt buộc Thiếu tá Masuzawa phải cho tàu quay về và bị cách chức lập tức, mặc dù tất cả hoa tiêu Kaiten đều tán thành hành động của ông.
Chiếc I.56, do Thiếu tá Keiji Shoda chỉ huy, cũng mang theo 6 hoa tiêu Kaiten. Đó là Trung úy Seiji Fukushima, xuất thân Hàn Lâm Viện Hải Quân, Thiếu úy Hiroshi Yagi và bốn hạ sĩ quan.
Tiềm thủy đỉnh thứ tư là chiếc I.58 của Thiếu tá Mochitsuda Hashimoto. Trung úy Nabuo Ikebuchi sẽ hướng dẫn ba hoa tiêu Kaiten khác: Thiếu úy Ichiro Sonoda, Trung sĩ Hidemasa Yanagiya và Trung sĩ Raita Irie. Những người nầy đã từng ra đi một lần, cũng trên tiềm thủy đỉnh nầy và đã trở về.
Do đó, sứ mạng hiện tại bao gồm 12 “tiềm thủy đỉnh tự sát”, chống lại với các chiến ham tập trung ở hải phận Okinawa.
Tôi đã kinh ngạc khi biết được mục tiêu ưu tiên của chúng tôi sẽ nhắm vô các chiến hạm địch thả neo ngay sát các hòn đảo do lực lượng Nhựt chiếm giữ. Chúng tôi sẽ không được tấn công những loại tàu nào khác trừ phi chúng tôi gặp một số lượng đông đảo. Hoặc gặp một đoàn tàu bao gồm những hàng không mẫu hạm và thiết giáp hạm chúng tôi mới được phép đổi hướng mục tiêu chánh. Việc nầy cho thấy tình thế đã trở thành tuyệt vọng.
Bởi hiện tại lực lượng tiềm thủy đỉnh loại lớn của chúng tôi đã giảm xuống gần như đến con số không. Ngoài bốn chiếc đang thực hiện sứ mạng Tatara, chỉ còn lại một hai chiếc. Chúng tôi phải lựa chọn những mục tiêu tốt nhứt để đánh, đó là lí do tại sao đại chiến hạm địch là mục tiêu ưu tiên của chúng tôi.
Kaiten được buộc vô I.47 sau ngày chiếc tàu cập bến Hikari, và mang chúng tôi ra khơi để thử áp lực dưới độ sâu. Nếu buổi chạy thử hoàn hảo, chúng tôi sẽ phát xuất cuộc tấn công vào ngày 29 tháng Ba.
Ngay ngày mới tới, sau bửa ăn trưa, Thiếu tá Orita đưa cả sáu người chúng tôi xuống một chiếc tàu nhỏ để ra tiềm thủy đỉnh I.47. Đại úy Obori, phụ tá của ông tập hợp thủy thủ đoàn ngay khi chúng tôi bước lên tàu. Trong một vài phút, tôi hiểu tại sao I.47 có được một thành tích chiến đấu như vậy. Khi lịnh tập hợp ban ra, thủy thủ các cấp đã túa ra sắp hàng ngay ngắn. Tôi thầm nghĩ, đây mới đúng là hành động trên mặt biển, trong lúc chiến đấu. Tiềm thủy đỉnh nầy chiến đấu hữu hiệu là một điều không đáng ngạc nhiên.
Orita nói:
“Tôi muốn giới thiệu những hoa tiêu Kaiten của chúng ta với các bạn.”
Sau đó, ông giới thiệu cấp bậc và tên họ từng người một, bắt đầu là Trung úy Kakizaki. Mỗi lần được giới thiệu, các thủy thủ đều nhìn chúng tôi mỉm cười và chúng tôi gật đầu đáp lễ. Đứng đây, nhìn thấy nỗi hân hoan mừng đón trong đôi mắt của họ, tôi cảm thấy ấm áp dễ chịu.
Khi cuộc tập hợp được giải tán. Hạ sĩ quan thường vụ của I.47 là Thượng sĩ Fujisaki bước đến chúng tôi và nói:
“Tôi lấy làm hân hạnh về sự hiện diện của quí vị trên tàu nầy. Thông thường, mỗi chuyến ra đi, chúng tôi có tổ chức một buổi trình diễn tài tử. Một số người tỏng thủy thủ đoàn nầy có biệt tài, kể cả sĩ quan. Nếu quí vị không bận, tôi hi vọng quí vị có thể tham dự. Một số trong quí vị đây chắc cũng có tài riêng để góp tay vô buổi trình diễn.”
Trung úy Kakizaki thay mặt cả bọn nhận lời mời. Sau đó, chúng tôi xem xét qua Kaiten của chúng tôi. Gần mũi Kaiten của tôi nhân viên bảo trì có viết mấy dòng chữ “Chắc chắn”, “Địch Quân”, “Chớp Nhoáng”. Mấy chữ nầy đã mang đến may mắn cho ngày hôm đó. Buổi chạy thử hoàn hảo. Nhưng khi trở vô vịnh, chúng tôi phải từ chối lời mời tham dự buổi trình diễn của Thượng sĩ Fujisaki. Một ám hiệu từ căn cứ ra lịnh cho sáu hoa tiêu Kaiten lên bờ.
Ngày hôm sau, 27 tháng Ba, một ngày hoàn toàn yên tĩnh. Tất cả Kaiten đều được mang lên bãi, đặt trên những mảng bằng cây và chúng tôi kiểm soát đi kiểm soát lại để các cơ khí viên điều chỉnh lần cuối cùng trước khi lâm trận. Thấy im lìm, tôi đoán chừng sẽ không có buổi tiệc tiễn hành, như thường thấy trong mỗi sứ mạng trước đây. Nhưng sau bữa ăn tối, tin tức đưa đến cho biết buổi tiệc nầy sẽ được tổ chức. Có khoảng 70 người sẽ tụ hội ở nhà ăn sĩ quan để nâng ly tiễn chúng tôi lên đường.
Khi tất cả chúng tôi ngồi xuống, Đề Đốc Mitsuru Nagai, đương kiêm Tư Lịnh Đệ Lục Hạm Đội bước vô. Tất cả chúng tôi đều đứng dậy, trong khi vị Đề Đốc và Bộ Tham Mưu của ông tiến đến chổ ngồi. Thiếu tá Koreeda, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Hikari, mở lời sau khi tất cả chúng tôi đều ngồi xuống. Ông nói:
“Chúng tôi lấy làm vinh hạnh vì sự hiện diện của Đề Đốc Nagai đêm nay, trong bửa tiệc danh dự nầy được mở ra để cầu chúc cho Trung úy Kakikazi và năm đồng đội của ông thành công…”
Đề Đốc Nagai đứng dậy và nói:
“Tôi cầu chúc cho những hoa tiêu Kaiten thuộc toán Tatara thâu đạt thành công. Tôi hy vọng mỗi người trong các anh đều hạ được một kẻ thù của chúng ta. Lúc đó, linh hồn của các anh sẽ bay đến Yasukuni, để nhìn sự bất diệt của xứ sở thần thánh Nhật Bản. Tôi xin đảm bảo rằng chúng tôi, những người còn lại của Đệ Lục Hạm Đội, chúng tôi sẽ làm mọi cách để an ủi và giúp đỡ những người thân yêu của các anh. Gia đình của các anh sẽ được chu toàn.”
Chỉ huy phó căn cứ của chúng tôi, Đại úy Mayata đứng dậy thật mau và nói lớn:
“Rót rượu!”
Những chai sake đặt rãi rác trên các bàn xung quanh, mọi người muốn uống bao nhiêu thì cứ việc rót. Đề Đốc Nagai đích thân rót sáu ly rượu đầu tiên cho các hoa tiêu Kaiten chúng tôi. Sau đó, Thiếu tá Koreeda giơ ly rượu của ông lên cao và nói:
“Tôi xin chúc mừng những người dũng cảm sắp ra đi. Xin tất cả hãy nâng ly với tôi”
Trước khi đến Hikari, tôi ít uống rượu, nhưng tôi coi đây là một buổi lễ đặt biệt, nên đã nốc cạn một ly đầy. Một thoáng yên lặng sau tuần rượu nầy, nhưng tan biến ngay khi Trung úy Horoshi Hashiguchi, một sĩ quan trẻ tuổi cuồng nhiệt đã tự sát sau nầy, đứng dậy và đề nghị mọi người cùng hát bản “Chiến sĩ ca”
Ra khơi, sóng bạc chôn vùi
Lên bờ, cỏ nội ngậm ngùi xác thân
Một đi, không ngại không ngần
Một đi, hồn đã hiến dân Thiên Hoàng.
Tiếng hát vang động khắp căn phòng rộng lớn. Tôi nhắm mắt lại, lắng nghe và nghĩ đến Nishina, Yazaki, Miyoshi, và những người đã ra đi về bên kia cõi khác. Mọi phân vân trong lòng tôi tan biến. Tôi đã chấp nhận. Tôi không còn cân nhắc thiệt hơn, không còn tự vẫn tại sao tôi ra đi. Hai ngày nữa, tôi lên đường! Tôi không hứa sẽ làm một cái gì vĩ đại, như những người khác đã hứa trong các buổi tiệc như thế nầy. Tôi sẽ ra đi một cách đơn giản, làm tất cả sức mình, để tiêu diệt kẻ thù.
Với ý nghĩ đó, tôi đưa ly về phía Trung úy Mitami đang ngồi gần tôi. Ông rót rượu vô ly, và tôi uống cạn. Hết ly nầy tới ly khác. Căn phòng bắt đầu quay cuồng trước mắt tôi. Tôi nhìn thấy Trung úy Kakizaki, Trung úy Meada và Trung sĩ Furukawa ở phía bên kia căn phòng đang ca hát. Tôi gượng dậy, bước lảo đảo ngang qua phòng tiến đến họ. Tôi tựa vô một người và cất tiếng hát. Rượu sa kê lai láng. Tiếng la hét càng lúc càng dâng cao, trong đó có tôi. Một người la lớn:
“Đừng quên nghe! Chúng tôi hy vọng các anh làm nên việc!”
Một người khác:
“Chúng tôi sẽ sớm theo các anh!”
Và tiếng của người thứ ba:
“Sáu hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ! Hãy hạ chúng!”
Thêm nhiều bài hát được cất lên, trong đó có bài “Hải Quân Hành Khúc” và những bài khác quen thuộc với thủy thủ Nhật Bản. Hơn năm mươi người chúng tôi vẫn còn rống cổ ca hát khi buổi tiệc kết thúc vào lúc 10 giờ 30 với ba tiếng la “muôn năm” dành cho các hoa tiêu Kaiten. Tôi xiểng niểng và Shinkai cũng không hơn gì. Hai Trung úy Kakizaki và Maeda được khiêng về phòng. Tôi không thấy Furukawa và Yamaguchi, tôi chắc hai tên nầy đã chui vô một xó nào đó để tiếp tục uống nữa. Nhứt là Yamaguchi, một tay đại tửu lượng. Sau khi nốc hai ba lít, hắn thường nói:
“Tôi là dân Kyushu, không những mạnh uống mà còn mạnh về đàn bà nữa!”
Cái mạnh sau của hắn thì tôi không biết rõ, nhưng cái manh trước thì tôi hoàn toàn tin tưởng. Tôi chưa từng thấy có người nào uống rượu hơn hắn, uống rồi vẫn tỉnh bơ, vẫn làm nhiệm vụ vào sáng hôm sau. Lúc uống rượu, Yamaguchi thường hay nói rằng khi tình nguyện thi hành sứ mạng Kaiten, hắn chỉ tiếc một điều: dưới âm phủ không có rượu sa kê.
Đêm chỉ kết thúc đối với tôi và Shinkai lúc Trung úy Kozu xốc nách chúng tôi về phòng. Chúng tôi chúi xuống giường với quần áo nguyên vẹn.
Sáng hôm sau, tôi cảm thấy đầu tôi nặng còn hơn tượng Phật vĩ đại ở Kamakura. Việc đầu tiên của tôi là chạy đến cái ấm nước trà, ngước đầu về phía sau và trút nước vô miệng. Tôi uống không còn một giọt. Sau đó tôi cảm thấy dễ chịu chút ít. Tôi nhủ thầm: “Ngày hôm nay sẽ là một ngày mệt dữ đây!” Tôi phải có mặt trên tiềm thủy đỉnh khi Kaiten được xếp lên. Tôi cũng phải dọn dẹp căn phòng nầy và xếp các vật dụng cá nhân. Những gì để lại đây sẽ được gởi về gia đình sau khi tôi đã chết. Các hạ sĩ quan khác vẫn còn ngày khò khò. Tôi ngại đánh thức họ dậy, nhưng không làm sao hơn. Họ cũng có nhiều việc phải làm như tôi. sau khi tôi rửa mặt, nít thêm một số nước nữa và đi gặp Trung úy Kakizaki và Meada.
Khi bước vô phòng của họ, tôi bật cười. Hai người ngủ chung một giường, chỉ mặt áo thun lá, ôm nhau như đôi vợ chồng. Tóc tai của Trung úy Kakizaki bù xù. Cả hai ngáy vang như sấm. Nếu có một cái máy chụp hình thì hay biết mấy. Tôi gọi lớn:
“Trung úy Kakizaki!”
Tôi gọi hai ba lần. Ông mở mắt, nhìn chăm chú nhưng tôi chắc ông ta không thấy tôi. Kakizaki dụi mắt nhiều lần và cuối cùng nhận ra tôi, mỉm cười, ngồi bật dậy và lay gọi Maeda. Tôi quay về phòng và hài lòng khi thấy mọi người đã thức dậy lo dọn dẹp đồ đạc. Tôi thâu tóm vật dụng cá nhân, buộc chung thành một gói để gởi về nhà.
Mấy chiếc Kaiten được đưa lên I.47 lúc 11 giờ 30 sáng. Tất cả đều đã gắn đầu đạn, được nhân viên bảo trì và quân cụ xem xét cẩn thận. Hiện thời trước mũi của mỗi Kaiten chứa 3.000 cân Anh chất nổ cực mạnh, và được một tàu cần trục đưa ra tiềm thủy đỉnh đậu ở ngoài xa.
Kaiten của tôi mang số 3, xếp gần lái. Tôi vổ vổ vô hông nó, như người ta vổ một con vật thân yêu và nói: “Hãy thi hành nhiệm vụ cho tốt đẹp nghe!” Câu nói nầy chính là câu nói của không biết bao nhiêu sĩ quan đã nói với tôi trong suốt 8 tháng qua. Sau đó, tôi leo vô bên trong Kaiten để kiểm soát các dụng cụ. Hài lòng, tôi leo trở ra và báo cáo với Hạm Trưởng Orita. Mọi sự kiểm soát chấm dứt và chúng tôi trở về doanh trại lúc 4 giờ 30 chiều.
Nơi đây, một vật đang nằm chờ tôi, Shinkai, Yamaguchi và Furukawa. Trên giường của chúng tôi có bốn bộ quân phục mới toanh, bao gồm áo lót, bao tay trắng, và đôi giày. Mấy thứ nầy là lý do mà sĩ quan tiếp liệu yêu cầu chúng tôi cho kích thước một vài ngày trước đây. Tôi nghĩ đây là đồ lịm xác của tôi.
Thật là phí của! Nhứt là đôi giày. Có lẽ nó sẽ được mang không đầy một tuần, trên hải trình từ đây đến Okinawa. Tôi cảm thấy tốt hơn là nên trai mấy thứ nầy cho một người có thể “tận dụng” chúng.
Những chuẩn bị cuối cùng của tôi phải được làm vội vàng. Tôi đã gởi thơ cho gia đình, ám chỉ xa gần rằng lần nầy có lẽ là lần cuối cùng những người thân nghe được tin tức về tôi.
Mọi nới lỏng hiện thời đã được thắt lại. Tôi sẵn sàng ra đi.
Sáng hôm sau, ngày 29 tháng Ba năm 1945, tôi thức dậy hối hả. Tôi nhảy xuống giường, quơ chiếc khăn lông và chạy vô phòng tắm. Khi tôi đang kỳ cọ một cách sản khoái, miệng hát nho nhỏ, một giọng cất lên từ phía sau tôi.
“Chào anh! Yokota!”
Đó là Thiếu úy Kishie Kirizawa, cũng là một hoa tiêu Kaiten, và là người lùn nhứt ở Hikari.
Tôi ngưng tắm và quay lại:
“Chào Thiếu úy!”
Tôi tự hỏi hắn gặp tôi có chuyện gì. Kirizawa, một tay chắp sau lưng, nói tiếp:
“Tôi đến phòng anh để chúc anh gặp may mắn trong sứ mạng, nhưng không gặp anh ở đó.”
“Cám ơn, thiếu úy! Chúng tôi sẽ cố gắng lấp đầy khoảng trống mà Đại úy Miyoshi và Trung sĩ Yazaki để lại”
“Tốt lắm!”
Hắn nói và rút cánh tay chấp phía sau ra. Trong tay hắn cầm một con búp bê nhỏ nhắn và rất xinh xắn.
“Tôi tự hỏi anh có thích mang vật nầy đi theo anh không?”
Hắn ta vừa nói vừa trao con búp bê cho tôi
“Utsujushii sesu! Đẹp quá! Con búp bê nầy chắc làm bằng tay. Tại sao Thiếu úy muốn tôi mang nó theo?”
Hắn nói:
“Đừng nên hỏi tôi một câu gì hết! Hãy cứ mang nó đi theo anh. Nếu anh nhận lời, tôi mang ơn anh lắm!”
Tôi quyết định không hỏi thêm nữa, vì tôi nhận thấy đôi mắt của hắn lộ vẻ bối rối.
“Cảm ơn! Thiếu úy nhiều!”
Hắn quay lưng, và tôi tiếp tục tắm với đầu óc đầy nghi vấn. Lý do nào hắn cho tôi con búp bê nầy? Hay hắn không nở quăng nó nên nhờ tôi mang đi? Có lẽ đây là con búp bê do một người yêu cũ tặng hắn, và hắn muốn lãng quên kỷ niệm bằng cách nầy. Hoặc gia đình hắn đã may cho hắn con búp bê nầy, coi như lá bùa hộ mạng trong chiến đấu. Với chỉ một vài tiềm thủy đỉnh còn lại, chắc chắn có một số hoa tiêu Kaiten không bao giờ được chọn lựa để thi hành sứ mạng, do đó hắn không mong gì được ra đi. Tôi nhún vai, nghĩ rằng một người khó có thể tự tìm hiểu tư tưởng một người khác. Tôi tắm xong, mang nhét con búp bê vô túi áo. Tôi phải mau lên mới được. Tôi cần chút ít thời giờ để đi từ giả một số sĩ quan đã đối xử tốt với tôi.
Tôi gặp Đại úy Miyata ở cửa phòng thuộc khu cư trú của sĩ quan. Ông nói:
“May mắn, Yokota!”
Tôi mĩm cười, và chào ông, rồi bước dọc theo dãy hành lang, đến những căn phòng khác, gỏ cửa và nói lời cảm ơn về sự đối xử tốt của một số sĩ quan đối với tôi trong thời gian tôi ở Hikari. Khi đến một căn phòng khác, tôi vừa cúi đầu và bắt tay chủ nhân, tôi tự hỏi: “Hạnh phúc của một người là gì? Đó là giữ sự tốt đẹp mãi mãi trong tâm trí những người mà hắn quen biết.” Tring một đôi ngày tới đây, tôi sẽ không còn nữa. Dĩ nhiên, tôi không biết chắc mình sẽ chết theo cách nào. Có lẽ tôi không có dịp tấn công địch quân. Tôi có thể chết, với tất cả thủy thủ đoàn, dưới đáy sâu của Thái Bình Dương, như một số hoa tiêu Kaiten khác đã chết, vì sớm bị kẻ thù khám phá và sát hại. Tôi muốn trong tâm trí của những người mà tôi từng hợp tác ở đây sẽ thoáng nhớ đến tôi. Những tiếng gõ trên mấy cánh cửa nầy có lẽ là cố gắng cuối cùng trong đời sống của tôi cho niềm hạnh phúc ấy.
Khi tôi trở về phòng riêng, Shinkai, Furukwa và Yamaguchi đã mặc quần áo mới.
Shinkai hỏi:
“Bạn đi đâu? Trể rồi!”
Tôi đáp:
“Thăm mấy sĩ quan của căn cứ…”
“Tốt, tôi nghĩ đó là vấn đề lễ độ…”
Hắn không nói nữa, có lẽ thấy tôi không muốn thảo luận xa hơn về việc nầy. Tôi bước đến bộ đồng phục mới của tôi và nói:
“Nào, các bạn hãy quay mặt chổ khác, đừng nhìn tôi. Tôi thay quần áo đây.!”
Tôi uốn éo qua lại ngắm nghĩa bộ đồ mới. Shinkai la lớn:
“Hazukashii, masume san!”
Một cô gái e lệ thẹn thùng, hắn gọi tôi như vậy rất đúng. Nhiều người khác trong doanh trại tụ quanh và nhìn chúng tôi một cách buồn bã. Lúc tôi mặc quần áo xong, một số thủy thủ làm việc ở phòng ăn sĩ quan mang đến cho chúng tôi một tặng phẩm của các sĩ quan. Đó là một con cá chiên ướp muối to lớn. Ở Nhật Bản, trong những dịp vui mừng người ta có tục lệ gởi tặng vật như thế nầy. Kẻ vắng nhà lâu ngày vừa trở về, một người thăng quan tiến chức được bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng hoặc thi đậu chẳng hạn, và kể cả ngày thôi nôi của một đứa trẻ, và vào ngày đầu năm mới. Đó là ngày nhà cửa được lau chùi sạch sẽ, giấy mới được dán trên các cánh cửa Shoji, và cửa sổ. Chiếu mới thay chiếu cũ trên nền nhà. Nợ nần đều được thanh toán. Các bà nội trợ chấm dứt công việc bếp núp, mặc những bộ kimono xinh đẹp và đi thăm viếng đó đây. Quang cảnh hiện tại cũng giống như một ngày Tết đối với tôi. Mọi thứ đều sạch bóng, ngay cả đầu óc của tôi. Tôi đổi mới đời sống, dù ngắn ngủi.
Tôi cảm ơn các thủy thủ mang cá đến và mời những người khác cùng ăn với chúng tôi.Chúng tôi nuốt vội nuốt vàng khi loa phóng thanh kêu gọi tất cả hoa tiêu Kaiten tập hợp ở thính đường. Furukawa hét lớn:
“ Iko! Đi!”
Hắn ba chân bốn cẳng, với ba đứa chúng tôi theo sát phía sau. Chúng tôi vừa chạy vừa nhìn xuống bộ quân phục để coi thức ăn có dính trên đó hay không.
Các lễ nghi đặt biệt diễn tiến trong thính đường, và sau đó mỗi chúng tôi được trao một thanh đoản kiếm. Sáu chúng tôi đứng thành một hàng ngay ngắn. Hàng phía sau chúng tôi là hai Trung sĩ Yoshio Hagita và Teruaki Mizumo cùng với bốn Thượng sĩ Mitsuo Kobayashi, Takettoshi Tsukumi, Eishun Oshiro và Shoji Nao. Sáu người nầy sẽ đi chung với chúng tôi trên chiếc I.47, mỗi người đảm trách bảo trì một chiếc Kaiten. Họ sẽ kiểm soát lại lần cuối cùng và giúp đỡ hoa tiêu leo vô Kaiten ngay trước khi cuộc tấn công bắt đầu.
Tất cả thủy thủ ở căn cứ đều có mặt trong buổi lễ đặt biệt nầy. Một số khó thể dấu diếm nỗi vui buồn lẫn lộn của họ. Họ mừng cho chúng tôi, nhưng buồn bã vì chưa tới phiên họ ra đi. Sự khiếm khuyết Kaiten đã bất đầu gây trì trệ cho chương trình nầy ở Otsujima. Sau đó, khi Kaiten được sản xuất đồng loạt, lại vấp phải vấn đề khiếm khuyết cơ khí viên. Hiện thời lại thiếu tiềm thủy đỉnh để chuyển vận chúng tôi ra mặt trận. Mặc dù mọi nổ lực được đưa ra, nhưng mỗi lần chỉ có một số Kaiten thi hành nhiệm vụ mà thôi.
Khi được gọi tên, chúng tôi giở nó ra và khom mình. Một tấm vải trắng được trải trên một chiếc bàn rộng, và Thiếu Tá Koreeda, Chỉ huy trưởng căn cứ đứng phía sau. Các thanh đoản kiếm với sáu “hachimaki” đặt trên mâm.
Tôi là người cuối cùng được gọi. Trung úy Hamaguchi, sĩ quan chỉ huy phòng bảo trì của toán bảo trì, chính là người đã gọi tên chúng tôi, lấy “hachimaki” thứ sáu quấn quanh đầu tôi. Trên chiếc khăn có viết mấy chữ sắt sảo “Shichi sho hokoku” (Tái sanh bảy lần để phục vụ quốc gia). Đây là khẩu hiệu của Masashige Kusunoki, một chiến tướng của nhiều thế kỷ trước đây, nhằm chứng tỏ lòng trung thành của ông đối với Thiên Hoàng.
Mỗi chúng tôi được trao một chiếc ly đầy nước để uống. Đây là ly nước tử biệt, và là một giây phút trang nghiêm nhứt. Theo truyền thống, một chiến sĩ Nhật Bản sắp diện với cái chết đã uống nước lạnh, thay vì sa kê, mang ý nghĩa chứng tỏ linh hồn trong sạch của hắn. Khi chúng tôi từ từ uống ly nước nầy, cả hàng mấy trăm người hiện diện đều im phăng phắc. Sau đó, chúng tôi đứng trước vị chỉ huy trưởng căn cứ và ông trao cho mỗi chúng tôi một thanh đoản kiếm. Ông nói:
“Đây là tặng vật đặt biệt của Đô đốc Soemu Toyoda, Tổng Tư Lịnh Hạm Đội Hỗn Hợp.”
Chúng tôi cừng giơ thanh kiếm lên, đầu chuôi ngang tầm mắt. Đây là cử chỉ thách đấu của một Samurai tront thời phong kiến ở Nhật Bản. Hiện tại chúng tôi lập lại cử chỉ nầy, thách thức của chúng tôi nhắm vào hạm đội Hoa Kỳ.
Chúng tôi bước ra ngoài để chụp hình. Sau khi việc nầy chấm dứt, những người khác đứng thành hai hàng, và chúng tôi bước giữa hai hàng người nầy để ra cầu tàu, cầm thanh đoản kiếm đưa về phía trước để chào. Mắt của mọi người ngời sáng, một số lấp loáng những hạt lệ nhưng cố ngăn lại, như để khỏi gây rũn chí cho kẻ ra đi. Tôi vui vẻ chúc tất cả những người đứng hai bên đường gặp nhiều may mắn trong tương lai. Tay trái tôi cầm hủ sành đựng hài cốt của Yazaki, tay mặt cầm thanh đoản kiếm, tôi mĩm cười vui vẻ tiến đến cầu tàu.
Chiếc xuồng máy đưa chúng tôi ra tiềm thủy đỉnh I.47 cũng mang vẻ rộn rã như mọi cảnh vật xung quanh. Trên những tàu cần trục, những chiếc ngư lôi đĩnh, và tàu nhỏ khác đều tràn ngập biểu ngữ, mang những giòng chữ khích lệ. Chúng tôi vẩy nón quanh đầu đáp trả đám đông đứng trên cầu tàu. Nhiều người khác đứng dọc theo bải biển, hoan hô vang dậy, không khác nào tiếng sấm.
Xuồng máy cập vô tiềm thủy đỉnh, chúng tôi bước lên boong. Đề đốc Nagai chờ sẵn chúng tôi ở đây. Ông bắt tay từng người một và nói:
“Vĩnh biệt, và chúc các anh may mắn!”
Những giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má ông. Tôi cố giữ vẽ bình thản, không để lộ một cảm giác hối tiếc hoặc xúc động nào, nhưng khó thể được, khi tay của vị Đề đốc siết chặt tay tôi.
Đề đốc Nagai nói một đôi lời vắn tắt, trong lúc thủy thủ đoàn I.47 đứng nghiêm dọc theo sàn tàu chánh và các hoa tiêu Kaiten đứng trước vũ khí của họ. Sau đó, ông bước xuống tàu riêng chạy vô bờ, và một hồi kèn trổi lên, ra lịnh cho thủy thủ đoàn trở về vị trí trong lúc tiềm thủy đỉnh chuẩn bị lên đường.
“Kiếm chào!Bắt!”
Trung úy Kakizaki hét lớn khi tàu bắt đầu hướng ra khơi. Những chiếc xuồng máy và ngư lôi đĩnh chạy dọc theo hai bên tiềm thủy đỉnh, hộ tống chúng tôi rời khỏi hải cảnh. Tôi nhận ra ngư lôi đĩnh 220, chiếc tàu đảm trách buổi thực tập Kaiten đầu tiên của tôi. những người đứng trên sàn tàu vẩy gọi inh ỏi. Tôi có thể nhìn thấy Trung sĩ Yuasa. Hắn từng phục vụ trên thiết giáp hạm khổng lồ Yamato một thời gian, và giúp đỡ tôi rất nhiều trong các buổi huấn luyện Kaiten. Hắn la lớn:
“Ràng làm cho ngon lành nghe, Yokota”
Tôi cũng la lớn, vẫy kiếm quanh đầu.
“Tôi sẽ ráng. Anh sẽ sớm nhận được tin mừng lớn của tôi! Một tuần nữa thôi!”
Các ngư lôi đĩnh bắt đầu tụt lại phía sau. Chúng không thể xài phí quá nhiều nhiên liệu, ngay cả trong dịp quan trọng nầy. Những chiếc tàu khác giây lát sau cũng chạy chậm lại, các thủy thủ trên boong vừa vẩy tay vừa la hét cho đến khi chúng tôi chạy xa hẳn, không còn nhìn thấy họ nữa. Khuôn mặt của Anzai, Nagato, Ishibashi, Ozawa, Tsuda và những khác với lời vĩnh biệt cuối cùng của họ vẫn còn khắc sâu trong trí tôi.
I.47 xoay hướng và tiến về eo biển Bungo. Một khi qua khỏi hải trình nhỏ hẹp nầy, chúng tôi sẽ gặp kẻ thù không biết lúc nào.

Pham Minh Tuan
03-06-2010, 02:42 PM
8. TOÁN TATARA LÊN ĐƯỜNG



:doh::pill::pill::pill:

Hình như bác Sakai post bài lộn tiệm!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!1

tonyteo
03-06-2010, 03:08 PM
Đúng vậy, bác Sakaifan post nhầm rồi, chắc bây giờ him đang mê download cuộn phim chiếc Yamato...hihihihi.