Chào mừng bạn đến với Diễn đàn Mô Hình Việt Nam!
Cửa hàng Sao Đỏ     Học viện Mô hình Sài Gòn     Cửa hàng Xuân An     Cửa hàng DMT
HOCOTOY
Page 1 of 3 123 LastLast
Results 1 to 10 of 29
  1. #1
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    42
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Rep Power
    64

    Tổng quan về trang bị của quân đội nhân dân Việt Nam

    Nhào dzô mần thịt nào các bác, nhìu lắm, tham khảo nào

    Đầu tiên sẽ là một số trang bị của Không Quân Nhân Dân Việt Nam ( VPAF - Vietnam People's Air Force )

    Máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư Su-30MK2V, sản xuất tại Nga, chiếc 8532 này là ở sân bay Biên Hòa :



    Sukhoi Su-30, ký hiệu của NATO là Flanker-C (Flanker: kẻ đánh sườn, hay kẻ "móc lốp" ^^) được phát triển từ tập đoàn hàng không Nga Sukhoi vào năm 1986. Su-30 là một phiên bản hiện đại hóa của Su-27UB (Flanker). Là loại máy bay chiến đâu đa năng, có tốc độ bay siêu âm, đảm nhận vai trò chính là đánh biển nhưng cũng có khả năng là một máy bay tiêm kích tấn công yểm trợ trên không. Su-30 MK là dòng máy bay chiến đấu tầm xa, đa chức năng, là phiên bản xuất khẩu riêng của Su-30 (MK = "Modernizirovannyi Kommercheskiy" = "thương mại hóa). Dòng MK có một số phiên bản như MKK và MK2 được phát triển cho không không Trung Quốc và Việt Nam, phiên bản MKI được phát triển riêng cho không quân Ấn Độ (I=India). Tương tự với MKM và MKA được phát triểng cho không quân Malaysia và Algeria. Đây là máy bay đa chức năng được trang bị đầy đủ phù hợp với toàn bộ một chuỗi những kịch bản chiến thuật và hoạt động chiến đấu, nó được thay đổi từ nhiệm vụ không chiến (bao gồm ưu thế trên không, phòng không, tuần tra trên không và hộ tống), thành tấn công mặt đất, chống hệ thống phòng không của địch (SEAD), ngăn chặn trên không, hỗ trợ mặt đất và tấn công mục tiêu biển. Đồng thời, Su-30MK có thể thực hiện chống gây nhiễu điện tử ECCM và cảnh báo sớm trên không, cũng như ra lệnh và điều khiển một nhóm thực hiện nhiệm vụ chung.


    Phi đoàn: 2
    Chiều dài: 21.935m (72 ft 9 in)
    Sải cánh: 14.7m (48 ft)
    Chiều cao: 6.357m (21 ft 5 in)
    Diện tích cánh: 62,04 m²
    Trọng lượng rỗng: 17,700 kg
    Trọng lượng cất cánh: 24,000 kg
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 33,000 kg
    Động cơ: 2× Saturn AL-31FL công suất 16,754 lbf (74.5 kN) và 27,550 lbf (122.58 kN) khi đốt nhiên liệu lần 2 mỗi động cơ

    Vận tốc cực đại: 3360 km/h (Mach 2.35)
    Vận tốc khi bay thấp: 2150 km/h (Mach 1.35 tức gấp 1.35 lần vận tốc âm thanh)
    Vận tốc tuần tra: 1,300 km/h
    Tầm bay: 1,620 nm (3,000 km)
    Trần bay (độ cao tối đa có thể bay theo lý thuyết): 57,410 ft (17,500m)
    Vận tốc lên cao: 45,275 ft/min (230 m/s)


    Su-30MK có thể mang được 8000kg vũ khí trên 12 trụ gắn vũ khí dưới cánh và bụng, mỗi trụ mang được tối đa 1500kg và có gắn 1 pháo 30mm bên cánh phải với 150 đạn. Vũ khí :

    1× pháo Gryazev-Shipunov GSh-30-1 30 mm 150 viên đạn
    Tên lửa không đối không: 6× R-27ER1 (AA-10C), 2× R-27ET1 (AA-10D), 6× R-73E (AA-11), 6× RVV-AE (AA-12)
    Tên lửa không đối đất: 6× Kh-31P/Kh-31A tên lửa chống [radar]], 6× Kh-29T/L tên lửa dẫn đường bằng laser, 2× Kh-59ME
    Bom: 6× KAB 500KR, 3× KAB-1500KR, 8× FAB-500T, 28× OFAB-250-270


    SU-30 nhà mình dùng để đánh biển hiện nay đựoc trang bị tên lửa không đối hạm ( bắn tàu chiến ) Uran-E và Yakhont.

    Sơ sơ thế đã. Cho mọi người ngắm thêm 1 số ảnh đẹp Su-30 nè :

    Chiếc 8534 ở BH :




    Dòng Su đời cao thì mình có :
    4 Su-30MK2V ( hình trên )
    2 Su-30K
    6 Su-27SK
    3 Su-27UBK
    Và còn vài chục Su-27 đời cổ nữa.
    Ngoài ra có một thông tin chưa được xác minh là 2 con Su-30 không biết phiên bản nào mới về đầu năm nay.



    Sukhoi Su-27 (Cy-27 trong bảng chữ cái Nga) là loại máy bay tiêm kích độc đáo thế hệ thứ tư, được thiết kế bởi phòng thiết kế Sukhoi SDB thuộc tập đoàn hàng không Soviet Sukhoi.Là tiền thân của các dòng Su đỉnh cao của Nga như Su-30, Su-33, Su-35, Su-27 các đời là một gia đình khổng lồ, với hàng chục phiên bản máy bay khác nhau.





    Nhìn từ sau có thể thấy cánh gió đang mở. Cánh gió là "cái nắp" ở trên lưng con Su á, chức năng tương tự như cái phanh







    Su-22, 40 con mới được mua lại từ Ba Lan, đã được cải tiến để có thể mang được tên lửa đối hạm tầm ngắn :


    Em này ở sân bay Biên Hòa đây, các bạn chú ý ở góc trái trong hangar ( gara máy bay ) thò ra cái đuôi của con Su-30MK2V đó





    Đang nạp đạn:







    MiG-21, là loại máy bay tiêm kích thế hệ thứ 3 được Nga viện trợ từng những năm kháng chiến chống Mỹ.Với tốc độ cao, vũ khí mạnh, khả năng bay linh hoạt, MiG-21 từng làm bá chủ bầu trời trong những năm 60-70 của thế kỷ trước. Đến nay MiG-21 của Việt Nam đã đựơc nâng cấp, bảo dưỡng 2 lần. Hiện tại 121 chiếc MiG-21BIS vẫn còn đang trong biên chế của KQNDVN và còn sử dụng được khoảng chục năm nữa.



    MiG-21BIS upgrade năm 2000, nhìn mũi phiên bản này so với mũi của các phiên bản khác là nhận ra ngay, nó nhỏ hơn và có gắn thêm dụng cụ đo vận tốc









    Trực thăng:

    UH-1A đời đầu, Mỹ bỏ lại ở miền Nam sau năm 1975. Giờ đã được tu sửa, thay thế linh kiện nhập từ Hàn Quốc để sử dụng vào mục đích dân sự và quân sự.




    Ụ súng máy:



    Một số loại trực thăng mua của Nga:

    Mi-8

    Con này giờ chủ yếu để vận tải, cứu hộ thôi, nếu có biến thì gắn thêm tên lửa không đối đất cũng tạm. Tham gia diễn tập chống khủng bố :





    Mi-24 đời đầu :



    .



    Mig-31 thuộc thể loại tiêm kích đánh chặn, nổi tiếng với phạm vi tấn công rộng, hỏa lực và radar mạnh, tốc độ cao, khả năng bay lượn đỉnh. Trung Quốc cũng rất thèm muốn có được loại máy bay này như Nga không bán (ai biết lúc nào TQ sẽ dùng đồ Nga chơi lại Nga), Nga cũng đã từng sang chào hàng MiG-31 ở Việt Nam. Theo họ thì một phi đội hỗn hợp Su-27, Su-30 và MiG-31 sẽ là một sự lựa chọn hợp lý cho tình hình của Việt Nam.
    Không biết nhà mình có mua không, nhưng không khả quan lắm, vì chi phí hoạt động, bảo dưỡng của nó rất đắt, không biết ngân sách quốc phòng hàng năm có kham nổi không. Hơn nữa mình cũng chưa cần thiết phải có MiG-31 lắm, chưa cần không chiến mà, mấy con bay trên không để cho mấy dàn S300 PMU nó lo. Còn ưu tiên mua số 1 hiện nay là Su-30 vì nó chuyên đánh biển và có thể kiêm nhiệm đựoc nhiều chức năng khác nhau, hơn nữa giá rẻ (40 triệu $) và chi phí ít tốn kém. Biển đảo là ưu tiên số 1 mà



    Bên trong


    nguồn: http://a1club.vnbb.com/viewtopic.php?f=79&t=408
    "Mưu sự tại nhân, hành sự tại nhân". Thiên = trời = mây + không khí = bầu khí quyển. Không thể "mưu sự tại thiên" vì "thiên" vô tri vô giác

  2. #2
    Join Date
    Dec 2006
    Posts
    960
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Rep Power
    0
    Thông tin cũng tương đối,tuy nhiên còn sơ sài,thiếu nhìu ở lĩnh vực tank (nghe nói vn có mua lại T72,nhưng mấy bác giấu hết rồi),thiếu hình T55 cải tiến,Su thì vn có lâu rồi (nghe nói sẽ mua thêm mig 29),vụ mig 31 thì chưa từng nghe vn sẽ mua,tuy nhiên mua chiếc đó mà ko có hệ thống dẫn đường cũng như ko,chỉ xách đi làm kiểng,hù Lào với Campuchia,hay bay lên để Chệt nó làm bia tập bắn

  3. #3
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    42
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Rep Power
    64
    Các loại pháo cuả quân đội ND Việt Nam

    1) Lưụ pháo 122mm M1938 (M-30)





    Nước sản xuất: Liên Xô
    - Năm trang bị: 1938
    _Cỡ nòng: 121,92mm
    - Khối lượng chiến đấu (tấn): 2,45
    - Khối lượng đầu đạn (kg): 21,8
    - Góc bắn: -3 độ tới 63,5 độ
    - Tầm bắn (km): 11,8
    - Sơ tốc đạn (m/s): 515
    - Tốc độ bắn (phát/ph): 5-6
    - Khẩu đội (người): 7
    _Góc quay ngang: 49 độ


    Pháo M30 là loại lưụ pháo 122mm do Liên Xô sản xuất vào những năm 1930 nhằm phát triển 1 loại pháo mới thay thế cho các loại pháo đã lỗi thời từ Thế chiến thứ 1. Về cấu trúc, pháo M-30 cũng khá giống như các loại pháo trước kia, với nòng pháo, vỏ nòng và khoá nòng.Khoá nòng được cấu trúc như 1 nắp ngăn có xoắn vít , tạo lực hút vỏ đạn ra khỏi nòng sau khi bắn. Hệ thống hãm giật cuả súng được trang bị thêm bộ phận đệm giảm giật và bộ phận thu nhiệt năng. Hệ thống ngắm tổng quát được sử dụng cho cả bắn định hướng và bắn ko định hướng mục tiêu .
    Khung pháo là loại khung tháo rời với ban1h xe sắt bọc cao su, cung cấp khả năng cơ động cao , có thể kéo với tốc độ từ 35-50 km/h, việc lắp ráp pháo để chuẩn bị chiến đấu mất khoảng 1 phút.
    Pháo M-30 được phục vụ suốt thế chiến thứ 2 ,là loại pháo chủ lực cấp sư đoàn cuả Hồng quân Liên Xô và cuả các nước trong khối Warsaw sau này.
    Pháo M-30 chủ yếu được sử dụng để chống bộ binh, tiêu diệt sinh lực địch ,yểm trợ tấn công và cũng được dùng để chống lại các công sự phòng thủ cuả đối phương, dọn bãi mìn, phá vỡ các hàng rào kẽm gai...Pháo bắn đạn mảnh cũng có thể xuyên được giáp xe dày tới 20mm , đủ để phá huỷ các phương tiện cơ giới hạng nhẹ và làm hư hại buồng máy, kính ngắm cuả các phương tiện cơ giới nặng.
    Để bảo vệ trước xe tăng địch, sau này pháo M-30 còn được trang bị đạn HEAT và được các pháo thủ LX sử dụng chống lại xe tăng địch rất thành công, kể cả Tiger cũng bị hạ bởi Pháo tự hành tấn công SU-122 cuả LX sử dụng đạn HEAT.
    Pháo M-30 được trang bị cho 1 số quốc gia thuộc khối WArsaw và các nước đồng minh cuả LX như Bắc Triều tiên, Trung Quốc. Việt nam được viện trợ M-30 trong những năm kháng chiến chống Mỹ và hiện nay M-30 là Pháo xe kéo chủ lực cấp sư đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

    2) LỰU PHÁO 105mm M101





    Pháo 105mm cuả Bộ đội Việt Minh trong chiến dịch Điện Biên Phủ


    -Nước Sản xuất: Hoa Kỳ
    -Cỡ nòng : 105mm
    -Dài nòng: 2,3m
    -Góc bắn: -5 độ tới 66 độ
    -Sơ tốc đạn:472m/s
    -Tầm bắn: 11,2 km
    -Góc quay ngang súng:46 độ


    Lưụ pháo 105mm M101 là loại pháo mặt đất hạng nhẹ tiêu chuẩn cuả quân đội Mỹ trong suốt Thế chiến thứ 2, được sản xuất vào năm 1941 và đưa vào phục vụ chiến đấu chống lại quân đội Nhật, pháo 105mm M101 được quân đội Mỹ sử dụng rộng rãi khắp các chiến trường châu Âu và Thái bình Dương, với độ chính xác cao và hoả lực mạnh, bắn loại đạn HE( Hight Explosive) bán hỗn hợp, tầm bắn xa 11,2km, nó thích hợp được sử dụng để yểm trợ bộ binh. Pháo có thể bắn theo chế độ bắn định hướng hay ko định hướng. Với những tính chất chính xác, hoả lực mạnh, cơ động , loại pháo này được sử dụng rộng rãi bởi các quốc gia trên thế giới(chủ yếu là các nước đồng minh cuả Mỹ). Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, nó còn phục vụ trong chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam.Trong chiến tranh Đông Dương, Mỹ chi viện loại pháo này cho quân đội Pháp và quân đội Quốc gia Việt Nam, nó trở thành loại pháo mặt đất chủ yếu cuả quân đội Pháp ở Đông Dương, đặc biệt hơn nó cũng là loại pháo chủ lực cuả Việt Minh , ban đầu là do Việt minh chiếm được từ tay Pháp, sau đó Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã chi viện loại pháo này cho Việt Minh(lấy từ tay quân Tưởng) và nó được Việt Minh sử dụng rất hiệu quả , đặc biệt là trong trận Điện Biên Phủ , chính loại pháo này đã góp phần rât1 lớn cho chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc Pháp rút khỏi Đông Dương.
    Sau này khi quân đội Mỹ xâm lược Việt Nam, pháo 105mm được sử dụng làm pháo mặt đất chính cuả quân đội Mỹ và quân đội VNCH trong các cuộc hành quân, do tính gọn nhẹ, cơ động, loại pháo này có thể được tải đến chiến trường rất nhanh bằng trực thăng Chinook và nó là loại pháo rất quan trọng trong các chiến dịch Tìm diệt, trực thăng vận...
    Sau chiến tranh , pháo 105mm M101 được tịch thu cộng với số pháo sẵn có, trở thành 1 trong những loại pháo chủ lực chính yếu cuả Quân đội nhân dân Việt Nam , sau này nó còn phục vụ trong chiến tranh Biên giới tây nam và biên giới phiá Bắc. Hiện nay pháo 105mm M101 là loại pháo chủ lực cấp sư đoàn cùng với pháo 122mm M-30 cuả quân đội nhân dân việt Nam.

    3)LỰU PHÁO 155mm M114








    Loại: Lưụ pháo hạng trung
    Nước SX: Hoa Kỳ
    Nòng : 155mm
    Dài nòng: 3564mm
    Nặng: 5 600 kg
    Tổ đội: 11 người
    Góc bắn:-2 tới +63 độ
    Góc quay ngang: 25 độ
    Tốc độ bắn: 4 viên 1 phút
    Sơ tốc đạn:563 m/s
    Tầm bắn xa nhất: 14 600 m

    Lựu pháo M114 là loại lưụ pháo nòng 155mm do Hoa Kỳ sản xuất và được sử dụng rộng rãi như loại pháo hạng trung cuả quân đội Mỹ trong Chiến tranh thế giới lần 2,chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam.
    Đây là loại pháo xe kéo khá cơ động, có thể tác chiến trên các điạ hình khó khăn như rừng rậm, đất bùn lầy . Tầm bắn cuả pháo xa cỡ 14000 m. Pháo được quân đội Hoa Kỳ và đồng minh là quân đội VNCH sử dụng khá rộng rãi trong chiến tranh việt Nam, dùng để yểm trợ các cuộc hành quân càn quét , thường được bắn từ các cứ điểm hoả lực gần khu vực tác chiến. Pháo 155mm thường có mặt trong các chiến dịch lớn như Chiến dịch Cedar Fall, Juinction City , Lam Sơn 719, Quảng trị....
    Tuy có cỡ nòng lớn hơn và hoả lực mạnh hơn loại pháo M-46 130mm cuả quân đội ND Việt Nam nhưng nó lại có tốc độ bắn chậm hơn và tầm bắn kém hơn , chính vì vậy trong các cuộc đấu pháo, yểm trợ, pháo 155mm thường bị thua thiệt. Sau chiến tranh Quân đội ND Việt Nam tịch thu khá nhiều loại pháo này và còn sử dụng trong Chiến tranh biên giới tây Nam.

    4)Lựu pháo nòng dài 122mm D-30





    Nước sản xuất: Liên Xô
    Cỡ nòng: 122mm
    Dài nòng: 4,8m
    Khẩu đội: 8 người
    Góc bắn: -7 độ tới 70 độ
    Góc quay ngang : 360 độ
    Tầm bắn hiệu quả: 15 km
    Tầm bắn tối đa: 22km

    Lựu pháo 122mm D-30 là loại lựu pháo nòng dài được Liên Xô phát triển vào những năm 1960 để thay thế loại lưụ pháo cũ M-30 122mm. Nó được lắp đặt trên 1 khung pháo đặc biệt có 3 chân chống , cho phép súng có thể quay 360 độ, đó là 1 cải tiến đan1g kể cuả loại pháo này,khi kéo, nó được kéo bằng chính mũi súng , các chân chống đặt song song nằm dưới nòng súng.Khi vào vị trí bắn, các pháo thủ hạ các chân chống(giá đỡ) xuống, nâng bánh xe pháo lên cao khỏi chân giá đỡ và mở các chân chống ra 120 độ mỗi bên.
    Súng có 1 khiên hình hộp bảo vệ hệ thống thu hồi nhiệt năng phiá trên nòng súng và 1 khiên bảo vệ nhỏ giưã 2 bánh xe. Mũi súng có bộ phận hãm phanh giảm giật có các lỗ thoát khí thuốc liều phóng ở 2 bên. (các mẫu sau cải tiến chỉ còn 2 lỗ) . Pháo D-30 với nòng dài hơn M-30 nên tầm bắn cũng xa và chính xác hơn, có thể lên tới 15,3km . Pháo D-30 còn có khả năng chống lại xe tăng rất hiệu quả khi xài đạn HEAT ở chế độ bắn định hướng mục tiêu do có thể xoay 360 độ và có thể đặt góc bắn cao hay thấp tuỳ ý,đạn HEAT có thể xuyên thép dày tới 460 mm nên D-30 thường được trang bị để hỗ trợ cho các trung đoàn bộ binh cơ giới và các đơn vị thiết giáp! D-30 còn dùng để yểm trợ bộ binh khi dùng đạn HE phá mảnh ( FRAG-HE) .D-30 còn được trang bị đèn IR hoặc thiết bị nhìn đêm hồng ngoại khi bắn định hướng.
    Pháo D-30 được hơn 50 quốc gia sử dụng , trong đó có các nước trong khối Warsaw và các quốc gia khác như Ai Cập,Iraq, Trung Quốc...

    5)Lựu PHÁO NÒNG DÀI 152mm D-20





    Loại: Lưụ pháo nòng dài
    Nước SX: Liên Xô, Trung Quốc
    Nặng: 5,7 tấn
    Dài nòng: 5.195 m
    Cỡ nòng: 152mm
    Tổ pháo: 8 người
    Góc bắn: Từ-5° tới 63°
    Tốc độ bắn: tối đa từ 5 tới 6 phát/ 1 phút
    Sơ tốc đạn:650 m/s
    Tầm bắn hiệu quả: 17,4km
    Tầm băn tối đa: 24km

    Lựu pháo 152mm được Liên Xô chế tạo sau chiến tranh thế giới lần 2 và ra mắt trong cuộc diễu binh trên Quảng trường Đỏ năm 1955. Pháo 152mm D-20 được chế tạo để thay thế loại pháo 152mm ML-20 cũ nặng nề và kém uy lực hơn .Nó trở thành pháo 152mm chính yếu cuả Hồng quân Liên Xô và Khối Hiệp ước Warsaw , được phiên chế thành pháo cấp chiến dịch và tăng cường cho các đơn vị bộ binh cấp trung đoàn, các lữ đoàn bộ binh tăng thiết giáp hỗn hợp. Nó có phiên bản Pháo tự hành 2S2 được trang bị cho các đơn vị bộ binh cơ giới và tăng thiết giáp.
    Pháo 152mm D-20 khá nặng nề và khó kéo theo trên trận địa, nhưng bù lại cho khuyêt1 điểm đó là tầm bắn cuả nó có thể đạt tới 17,4 km. Pháo D-20 sử dụng chung 1 khung với loại pháo mặt đất nòng dài D-74, được tăng cường 2 bánh xe nhỏ sau chân giá đỡ để có thể di chuyển cơ động hơn và xoay ngang súng dễ dàng hơn. Súng cũng có 1 khiên bảo vệ cho tổ pháo. Nòng pháo ngắn hơn D-74, đường kính lớn hơn , cỡ nòng 152mm và có 1 đầu giảm giật(muzzle brake) 2 lỗ thoát khí thuốc liều phóng. Pháo D-20 cũng có hệ thống hãm giật 2 xi-lanh phiá trên nòng pháo như D-74 và cả 2 loại pháo này đều sử dụng khoá nòng xoắn bán tự động. Pháo được trang bị hệ thống ngắm khi bắn định hướng(bắn thẳng) cả ban ngày lẫn ban đêm cung cấp cho pháo khả năng chống xe tăng đáng kể.
    Pháo bắn đạn FRAG-HE, OF-540 với tốc độ bắn có thể đạt tới 5,6 phát 1 phút. Pháo có thể kéo bằng xe bọc thép hay xe tải hạng nặng.
    Pháo D-20 được TQ chế tạo lại với phiên bản Type 66 và viện trợ cho quân đội Nhân dân Việt nam trong kháng chiến chống Mỹ , loại pháo này trở thành pháo cấp chiến dịch cuả quân đội nhân dân Việt nam, góp phần làm nên nhiều chiến thắng trong các chiến dịch lớn.

    6) Pháo mặt đất nòng dài D-74 122mm




    - Nước sản xuất: Liên Xô, Trung Quốc
    - Năm trang bị: 1958
    - Khối lượng chiến đấu (tấn): 5,5
    - Khối lượng đầu đạn (kg): 27,3
    - Tầm bắn (km): 23,9
    - Sơ tốc đạn (m/s): 885
    - Tốc độ bắn (phát/ph): 5-6
    - Khẩu đội (người): 8


    7) PHÁO MẶT ĐẤT NÒNG DÀI M-46 130mm





    Pháo 130mm M-46 cuả quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Quảng Trị 72



    Loại: Pháo mặt đất nòng dài
    Nước SX: Liên Xô
    Dài: 11,73 m
    Nặng: 7,7 tấn
    Cỡ nòng: 130mm
    Góc bắn: -2,5 độ tới 45 độ
    Góc quay ngang súng: 50 độ
    Tốc độ bắn : trung bình cỡ 6 viên 1 phút
    Sơ tốc nòng: 937m/s
    Tầm bắn: 27,5km


    Pháo M-46 là loại pháo mặt đất nòng dài dùng yểm trợ cấp chiến dịch do Liên Xô chế tạo và đưa vào sử dụng năm 1954, cũng như các loại pháo xe keó khác, nó được gắn trên 1 khung có 2 bánh xe bọc cao su , có thể kéo đi bằng xe tải hay xe thiết giáp. Hệ thống hãm giật 2 xilanh được đặt trên và dưới nòng pháo, pháo có 1 khiên chữ V bảo vệ tổ pháo , tuy nhiên khả năng bảo vệ cuả khiên này khá hạn chế và tổ đội dễ bị tổn thương trước đạn đối phương. M-46 là loại pháo nòng dài ,nòng súng dài và mỏng , bắn góc thấp, cho phép tầm bắn xa (có thể tới 27,5 km) , sơ tốc đạn lớn nên khả năng bắn ko định hướng cuả súng rất tốt , chính vì khả năng này nên súng được trang bị trong các trung doàn pháo binh ở tuyến đầu hay làm pháo yểm trợ tầm xa cấp chiến dịch, ngoài khả năng yểm trợ bộ binh, súng còn được sử dụng để đấu pháo rất lợi hại. Súng cũng có khả năng chống tăng cực kỳ lợi hại với khả năng xuyên giáp đáng kinh ngạc. Súng được trang bị hệ thống hồng ngoại nhìn đêm để hỗ trợ khả năng bắn định hướng.
    Sau này pháo M-46 được thay thế bởi các loại pháo hiện đại hơn cuả LX nhưng nó vẫn được hơn 25 quốc gia sử dụng. Trung Quốc cũng chế tạo lại pháo M46 với phiên bản Type 59.

    8) PHÁO CHỐNG TĂNG 57mm ZIS-2





    Loại: Pháo chống tăng
    Nước sản xuất: Liên Xô
    Cỡ nòng:57mm
    Nặng: 1250 kg
    Dài nòng: 4160mm
    Góc bắn:Từ -5° tới 25°
    Góc quay ngang súng: 57 độ
    Tầm bắn:8,4km
    Tốc độ bắn: có thể tới 25 viên 1 phút


    Pháo chống tăng ZIS-2 là loại pháo chống tăng cỡ 57mm được Hồng Quân Liên Xô sử dụng suốt thế chiến thứ 2. Nó được ra đời từ nhu cầu cuả Bộ Tư lệnh pháo binh Liên Xô cần 1 loại pháo chống tăng mạnh để đáp trả loại xe tăng hạng nặng nhiều tháp pháo mà phe Đức tuyên truyền sẽ cho ra đời để chống lại các xe tănG KV-1 cuả LiêN Xô. Sau khi nghiên cứu ,thử nghiệm trên xe tăng hạng nặng KV-1 , ý tưởng được đưa ra là loại pháo có cỡ nòng 57mm , trên lý thuyết thì đạn chống tăng 57mm với trọng lượng và tốc độ cuả nó có thể xuyên thủng giáp xe tăng dày đến 90mm mà vẫn giữ cho trọng lượng pháo nhẹ, cơ động, dễ kéo.
    Cuối cùng pháo được đưa vào sản xuất vào năm 1941, nhưng đến tháng 12 thì ngưng lại do trên thử nghiệm thực tế thì đạn pháo ZIS-2 xuyên giáp xe tăng Đức và gây ra thiệt hại cho đối phương rất thấp, hầu như ko gây hư hại nặng bên trong xe tăng, thế là việc sản xuất chuyển sang ZIS-3, loại pháo 76mm cấp sư đoàn, bên cạnh đó Hồng quân sử dụng lại loại pháo chống tăng 45mm rẻ tiền hơn.Và pháo ZIS-3 tỏ ra ưu thế trước mọi loại xe tăng Đức cho đến cuối năm 1942, khi các chiến xa mới cuả Đức như Tiger, Panther ra đời thì cán cân sức mạnh nghiêng hẳn về quâN Đức, pháo 45mm chỉ có thể xuyên được giáp hông cuả Panther, ZIS -3 thì chỉ xuyên được giáp hông cuả Tiger ở khoảng cách gần chỉ 300m, còn pháo 45mm thì hoàn toàn bất lực trước giáp cuả Tiger.Do yêu cầu cuả chiến trường nên ZIS-2 được tái sản xuất và đưa vào chiến đấu.
    Pháo ZIS-2 có khoá nòng bán tự động, có thể đóng mở tự động để pháo thủ nạp đạn nên ưu điểm cuả nó là tốc độ bắn khá nhanh(có thể tới 25 phát 1 phút) ZiS-2 sử dụng khung giống loại khung cuả ZIS-3 và có thể kéo bằng xe tải với tốc độ cao(50km/h),do pháo khá nhẹ nên có thể kéo bằng 6 ngưạ. Càng về sau , khi giáp các xe tăng càng được cải tiến bảo vệ tốt hơn thì giá trị chống tăng cuả ZIS-2 ngày càng giảm và nó bị thay thế bởi loại pháo 100mm uy lực hơn.
    Pháo M-46 130mm được LX và TQ trang bị cho Quân đội NDVN trong những năm kháng chiến chống Mỹ và được biên chế làm Pháo yểm trợ tầm xa cấp chiến dịch, tham gia hầu hết các chiến dịch lớn trong chiến tranh Việt Nam như Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào, Quảng Trị, Chiến dịch Hồ Chí Minh.... Pháo 130mm M-46 đã tạo cho Quân đội NDVN một ưu thế vượt trội về pháo binh so với quân đội VNCH , với tầm bắn xa hơn, pháo M46 luôn chiếm ưu thế so với các loại pháo cuả Mỹ cung cấp cho quân lực VNCH trong các cuộc đấu pháo (pháo 155mm cuả Mỹ tầm bắn chỉ có 13km so với 27km cuả M-46, còn Vua chiến trường tầm bắn cũng cỡ 30km nhưng tốc độ nạp đạn lại chậm hơn và khả năng bắn ko định hướng cũng ko bằng M-46). Hiện nay pháo M-46 130mm vẫn là 1 trong những loại pháo chủ lực cấp chiến dịch cuả Quân đội NDVN.

    9) PHÁO MẶT ĐẤT CẤP SƯ ĐOÀN ZIS-3 76,2mm





    Loại: pháo mặt đất
    Nước sx: Liên Xô
    Nặng: 1200kg
    Tổ pháo: 7 người
    Cỡ nòng: 76,2mm
    Góc bắn: từ -5° to 37°
    Góc quay ngang súng: 54°
    Tốc độ bắn:25 phát/phút
    Tầm bắn: 13,39 km


    Pháo mặt đất ZIS-3 là loại pháo mặt đất cấp sư đoàn được LiêN Xô sản xuất phục vụ thế chiến thứ 2. Nó được các chuyên gia pháo binh đánh giá là 1 trong những loại pháo hiệu quả và đáng sợ nhất trong thế chiến thứ 2 cùng với pháo Flak 88 cuả Đức Quốc Xã.
    Pháo ZIS-3 phối hợp 2 ưu điểm : khung súng gọn nhẹ cuả pháo ZIS-2 , rất cơ động và dễ kéo , hoả lực mạnh cuả cỡ nòng 76,2mm. Súng được tăng cường thêm bộ phận giảm giật ở đầu nòng để cho phép súng làm việc tốt mà ko bị hư hại do độ nẩy giật khi bắn.
    Ban đầu các xe tăng Đức có vỏ thép khá mỏng và các loại súng 76mm cuả LX ( lúc đó pháo 76mm cuả LX chủ yếu là loại F-22 UVS ) có thể dễ dàng knock out bất cứ loại xe tăng nào. Nhưng trong chiến đấu , rất nhiều loại phaó 76mm bị rơi vào tay quân Đức và quân Đức sử dụng lại chúng gắn trên pháo tự hành để chống lại chính quân LiêN Xô. Do đó yêu cầu đặt ra cần có 1 loại pháo 76mm mới tốt hơn F-22UVS, và sau nhiều cuộc tranh cãi, thử nghiệm , loại pháo ZIS-3 đã chính thức được chấp nhận đưa vào SX và chiến đấu, chính Stalin đã công nhận:"ZIS-3 là 1 kiệt tác cuả lĩnh vực chế tạo Pháo binh"! Pháo ZIS 3 đã được chế tạo với số lượng lớn tới 103 000 khẩu cho đến cuối WWII!
    Pháo ZIS-3 được các binh sĩ pháo binh Hồng quân rất ưu chuộng do nó có thể hoạt động tốt trong điều kiện khắc nghiệt, độ chính xác cao và đan1g tin cậy. Khung pháo nhẹ cho phép nó có thể được kéo bởi xe tải loại thường hoặc xe jeef hạng nặng thậm chí có thể kéo bằng người.
    Pháo ZIS-3 ra đời và ko có đối thủ cho tới tận cuối năm 1942 , nó có thể dễ dàng xuyên giáp bất cứ loại xe tăng hạng nhẹ tới hạng trung nào cuả Đức Quốc Xã chỉ bằng đạn xuyên giáp thông thường(AP). Nhưng đến khi các loại xe tăng mới như Tiger, panther ra đời thì các pháo thủ LX gặp rất nhiều khó khăn, Panther thì có thể bị tiêu diệt nếu bắn trúng sườn, nhưng giáp cuả Tiger thì quá tốt trước các loại đạn pháo chống tăng 76mm , chỉ có nguỵ trang tốt và bắn ngang sườn ở khoảng cách rất gần mới có thể hạ được Tiger, các phaó thủ LX thường bắn vào dưới nòng pháo cuả xe tăng hay xích xe vì giáp các nơi này khá mỏng.
    Sau này pháo ZIS-3 bị thay thế bởi pháo D-44 85mm uy lực hơn nhưng nó vẫn được các nước Đồng minh LX sử dụng rộng rãi. VN được chi viện pháo ZIS-3 trong kháng chiến chống Mỹ và trở thành 1 trong những loại pháo chính yếu quan trọng nhất cuả quân đội trong các chiến dịch, chủ yếu để yểm trợ bộ binh khi chiến đấu chiếm đầu cầu với chức năng pháo mặt đất cấp sư đoàn.



    10) PHÁO MẶT ĐẤT 85mm D-44



    - Nước sản xuất: Liên Xô, Trung Quốc
    - Năm trang bị: 1942
    - Khối lượng chiến đấu (tấn): 1,73
    - Khối lượng đầu đạn (kg): 9,5
    - Tầm bắn (km): 15,62
    - Sơ tốc đạn (m/s): 793
    - Tốc độ bắn (phát/ph): 10
    - Khẩu đội (người): 6


    Pháo mặt đất 85mm là loại pháo mặt đất cuả Liên Xô sản xuất để thay thế loại pháo cũ ZIS-3 76,2mm . Khi các loại xe tăng Tiger, Panther cuả Đức quốc xã ra đời với giáp bảo vệ cực tốt, pháo 76,2mm cuả LX đã tỏ ra yếu thế so với các xe tăng Đức, các xe tăng T34 cuả Hồng Quân với pháo 76mm đã thua sút so với các xe tăng mới cuả Đức về tầm bắn và khả năng xuyên giáp , do đó Hồng quân LX đã cho ra đời 1 loại phaó mới uy lực hơn là D-44 85mm , loại pháo mới này có tầm bắn xa tới 15km và khả năng xuyên giáp dày tới 5 inch ở khoảng cách 1000m , sau đó các phiên bản pháo 85mm được trang bị cho xe tăng T-34 và từ đó T-34 trở nên ưu thế hơn so với các loại xe tăng Đức về hoả lực.
    Pháo D-44 được trang bị cho các đơn vị pháo bắn thẳng và pháo cấp sư đoàn cuả quân đội ND VN trong kháng chiến chống Mỹ song song với pháo ZIS-3 76mm nhưng số lượng ít hơn.



    11) PHÁO MẶT ĐẤT 100mm BS-3



    - Nước sản xuất: Liên Xô
    - Năm trang bị: 1944
    -Cỡ Nòng: 100mm
    -Dài nòng: 5345mm
    - Khối lượng chiến đấu (tấn): 3,65
    - Khối lượng đầu đạn (kg): 15,6
    - Tầm bắn (km): 20,65
    -Góc bắn: -5° to 45°
    - Sơ tốc đạn (m/s): 900
    - Tốc độ bắn (phát/ph): 8-10
    - Khẩu đội (người): 6


    Pháo mặt đất BS-3 100mm là loại pháo mặt đất+chống tăng cuả LX sản xuất vào cuối WWII và tiêu chuẫn hoá vào năm 1950 thay thế cho pháo chống tăng cũ T12. Pháo được thiết kế dưạ trên loại pháo hải quân B3 và được phiên chế vào các lữ đoàn pháo hạng nhẹ và các đơn vị xe tăng.
    Pháo BS-3 được sử dụng với chức năng chống tăng cực kỳ uy lực và hiệu quả trong WWII, nó có thể tiêu diệt bất kỳ loại xe tăng nào cùng thời gian đó ở khoảng cách rất xa.Khả năng xuyên giáp cuả nó đan1g nể: có thể xuyên 150mm thép ở 1000m .Nó cũng có thể dùng để yểm trợ bộ binh rất tốt, tuy hoả lực ko bằng pháo 122mm nhưng bù lại có ưu thế về độ cơ động và có tốc độ bắn cao hơn.

    nguồn: http://a1club.vnbb.com/viewtopic.php?f=79&t=408
    "Mưu sự tại nhân, hành sự tại nhân". Thiên = trời = mây + không khí = bầu khí quyển. Không thể "mưu sự tại thiên" vì "thiên" vô tri vô giác

  4. #4
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    42
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Rep Power
    64
    Quote Originally Posted by Makoto View Post
    Thông tin cũng tương đối,tuy nhiên còn sơ sài,thiếu nhìu ở lĩnh vực tank (nghe nói vn có mua lại T72,nhưng mấy bác giấu hết rồi),thiếu hình T55 cải tiến,Su thì vn có lâu rồi (nghe nói sẽ mua thêm mig 29),vụ mig 31 thì chưa từng nghe vn sẽ mua,tuy nhiên mua chiếc đó mà ko có hệ thống dẫn đường cũng như ko,chỉ xách đi làm kiểng,hù Lào với Campuchia,hay bay lên để Chệt nó làm bia tập bắn
    bác ơi để em fix xong cho, có tank nhưng hơi ít
    "Mưu sự tại nhân, hành sự tại nhân". Thiên = trời = mây + không khí = bầu khí quyển. Không thể "mưu sự tại thiên" vì "thiên" vô tri vô giác

  5. #5
    Join Date
    Jan 2006
    Location
    Hà Nội
    Posts
    1,320
    Thanks
    0
    Thanked 10 Times in 9 Posts
    Rep Power
    250
    Máy bay Mig-31 là máy bay đánh chặn có radar cỡ lớn nhất trong các máy bay chiến đấu, có data-link, còn được mệnh danh là Mini-AWACS.
    Mà hoạt động đánh chặn là là hoạt động ngăn chặn nhanh các đòn tấn công trên không, ở sân nhà, trong phạm vi phủ sóng của toàn bộ hệ thống radar quân mình.

    Tuy nhiên, giá đắt và chi phí bảo trì quá cao, ko đa nhiệm nên nó ko phù hợp với VN cho lắm.

  6. #6
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    42
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Rep Power
    64
    Tàu tên lửa lớp Osa-II


    Tàu Osa là lọai tàu tấn công cao tốc do Liên xô phát triển vào đầu thập niên 1960 theo các dự án 250 (Osa 1) và 250U (Osa 2). Đây là lọai tàu chiến được sản xuất với số lượng nhiều nhất, trên 400 chiếc được xuất xưởng. Osa có nghĩa là Ong bắp cày, nó mang tên này do đặc điểm chiến đấu của mình. Việt Nam hiện có khỏang 8 chiếc Osa 2 vẫn còn họat động tốt.



    Tàu Osa đựơc phát triển nhằm thay thế loại tàu tấn công “Komar” – Loại chiến hạm mini đầu tiên trên thế giới có trang bị hỏa tiễn đối hạm, có khả năng đánh chìm một chiến hạm to hơn nó gấp nhiều lần. Thân tàu Osa được làm bằng hợp kim nhẹ với cấu trúc đặc biệt cùng với 3 động cơ công suất 12000 mã lực và 3 chân vịt, điều này giúp Osa đạt được tốc độ 40 hải lý/giờ
    Vũ khí chính là 4 hỏa tiễn P-15 / SS-N2 được điều khiển bằng ra đa có khả năng đánh chìm 1 chiến hạm to lớn gấp 10 lần Osa ở khỏang cách hơn 80 km. Theo lý thuyết cần 6 Osa để đánh chìm một khu trục hạm 20.000 tấn. Vũ khí phụ của Osa là 4 đại bác 30mm AK-230, chủ yếu đề phòng không hơn là chiến đấu với tàu chiến khác.



    Chiến thuật chủ yếu của Osa là “đánh và chạy”, lợi dụng tốc độ cao của mình Osa bất ngờ tiếp cận đối thủ và phóng tên lửa sau đó chạy thật nhanh trước khi tàu địch kịp phản ứng, nếu có máy bay địch truy kích thì dùng 4 súng phòng không để chống trả. Chiến thuật này có phần giống các tàu phóng lôi, nhưng khác ở cự ly tiếp cận là vài chục km và vũ khí là hỏa tiễn có tốc độ nhanh hơn nhiều so với ngư lôi.



    Osa đã tham chiến nhiều trận, trong đó Osa chịu nhiều tổn thất trong cuộc chiến tranh Iraq-Iran 1980. Điểm yếu chính là hệ thống điều khiển tên lửa và khả năng tự vệ không cao. Tuy nhiên với khối lượng chỉ 200 tấn và tốc độ cao cùng với 4 hỏa tiễn chết người, Osa vẫn là một đối thủ đáng gờm, đặc biệt khi hành quân với số lượng lớn.

    Ngày nay, Osa vẫn là vũ khí chính của hải quân ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy vậy Tarantul vẫn là lựa chọn số một dành cho dòng tàu cao tốc mang tên lửa.



    Tàu tuần tra cao tốc mang tên lửa lớp Tarantul-I

    Tàu phóng tên lửa lớp Tarantul I đã có mặt tại Việt Nam vào năm 1999. Và Việt Nam mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Hiện Việt Nam có khoảng 4 chiếc Tarantul 1, và 2 chiếc Tarantul thế hệ mới thuộc project 1412.8. Trong tương lai sẽ đóng thêm 20 chiếc Tarantul nữa tại nhà máy đóng tàu Ba Son, TP HCM.
    Tàu chiến Tarantul dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Tàu Tarantul trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội



    Tàu tên lửa Tarantul được phát triển theo dự án số 12421 của Nga, bao gồm: Tàu chiến đấu, tàu bổ trợ và tàu tuần tra tại các vùng cửa biển, ven bờ. Tàu tên lửa Tarantul trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền tin, các hệ thống ra-đa trinh sát và kiểm soát xạ kích. Ra-đa có tầm bao quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15 mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ thống ra-đa kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc trưng của mục tiêu và xử lý các tín hiệu đó chuyển thành dữ liệu tác xạ trên máy tính.

    * Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm:

    - Trang bị hệ thống tên lửa đối hạm với giàn phóng tên lửa U-ran phóng tên lửa hành trình Kh-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình Kh-35 dẫn bằng ra-đa chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg

    - Hoặc tên lửa hành trình đối hạm Moskit - SS-N-22 với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg

    - Hoặc tên lửa hành trình đối hạm P-15 Termit “SS-N-2C” với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 80 km, tốc độ March 0.9.

    - 12 tên lửa phòng không Igla-1M;

    - 1 pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15 km. Tốc độ bắn trung bình 30 viên/phút, tối đa 130 viên/phút. Điều khiển bằng hệ thống MP-123-02 FCS có sử dụng radar

    - Hai pháo phòng không 30mm AK-630M. Là loại súng máy 6 nòng Gatting, tốc độ bắn 5000 viên/phút, tầm xa 4 km, điều khiển bằng radar




    Tên lửa P-15 (SS-N-2C)


    Súng phòng không AK-630


    Pháo hạm AK-176


    Hệ thống ra-đa trên tàu có: Ra-đa trinh sát băng HF, UHF, ra-đa nhận biết mục tiêu không-biển, ra-đa điều khiển, kiểm soát xạ kích cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống ra-đa và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 mét đến 1800 mét.

    Tàu tên lửa Tarantul có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ tua-bin khí 32.000 sức ngựa, 3 động cơ Diesel, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.

    Việt Nam đã mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Sẽ có khoảng 20 chiếc sẽ ra đời tại Việt Nam

    Theo một số nguồn tin nước ngoài, 2 tàu Tarantul thế hệ mới cũng đã có mặt tại Việt Nam . Đây chính là 2 tàu đầu tiên thuộc Project 1241.8 “Thần Sấm". Loại này có tầm hoạt động và hệ thống vũ khí tấn công hơn hẳn Tarantul 1. 2 chiếc này nằm trong hợp đồng mua 12 chiếc Taratul Project 1241.8 mà VN đã ký với Nga. Số còn lại sẽ do VN tự đóng theo công nghệ được chuyển giao .

    Theo một số chuyên gia nước ngoài phân tích, Với 2 chiếc Gepard (sẽ về Việt Nam cuối năm 2009) và trên 20 Tarantul hải quân Việt Nam sẽ tiến tới thành lập hạm đội biển Đông với trên dưới 30 chiến hạm hiện đại.



    Chiến hạm lớp Petya

    Petya là lớp tàu hộ tống săn ngầm hiện đại đầu tiên được trang bị cho Hải Quân Nhân dân Việt nam trong những năm 1980 (?),được Liên Xô (cũ) sản xuất với chức năng chính là phòng thủ bờ biển và chống ngầm. Hiện này Petya-II và Petya-III của Việt Nam đã xuống cấp nghiệm trọng và chỉ hoạt động cầm chừng. Gần đây Ấn Độ có hợp đồng bán 5000 linh kiện của Petya để nâng cấp các chiến hạm này. Chiến hạm Petya của Việt Nam gồm hai loại là Petya-II và Petya-III. Hiện với số lượng 70 tàu ngầm Diesel lớp Kilo của Trung Quốc thì chống ngầm là một trong những ưu tiên quan trọng của Hải quân Nhân dân Việt Nam.Việt Nam nhận 3 chiếc Petya-II đã qua sử dụng của Liên Xô và sau đó là 2 chiếc Petya-III.Petya được thiết kế theo kiểu cổ điển từ thời chiến tranh thế giới thứ 2, mặc dù thời điểm nó sinh ra là vào thập niên 60, có lẽ do Petya không phải là lực lượng chiến đấu xung kích trong hải quân Xô Viết. Nhiệm vụ chính của Petya là tuần tra bờ biển và chống tàu ngầm. Tuy nhiên khả phòng thủ, tấn công và săn ngầm của nó còn hạn chế, do tầm xạ kích trực tiếp tối đa hiệu quả trong bán kính 10km trong khi các tàu chiến hiện đại đã có tầm xạ kích hàng trăm km.


    Petya-II

    Thông tin kỹ chiến thuật:
    _Giãn nước: 950 tấn
    _Giãn nước tối đa:1150 tấn
    _Thủy thủ đoàn: 92
    _Vận tốc tối đa: 30 knots (hải lý/giờ)
    _Chiều dài: 81.9m
    _Rộng:9.2m
    _Cao: 2.8m
    Vũ khí:
    _2 pháo 2 nòng 76.2 mm AK-276
    _4 pháo phòng không 37mm
    _2 pháo phòng không 23mm ZSU 23 -2 A
    _ 3 ống phóng ngư lôi cỡ 533mm ASW TT
    _ 4 hệ thống hoả tiễn diệt ngầm (16 ống cho mỗi hệ thống) ASW RL, 2 ông thả mìn, hệ thống Sonar Titan MF.

    Hiện có 3 chiếc Petya-II phục vụ trong Hải quân Nhân dân Việt Nam

    HQ-11, chiếc này đã mất khả năng chống ngầm


    HQ-13



    Petya-III

    Thông tin kỹ chiến thuật:
    _Tàu khu trục
    _Giãn nước: 950 tấn
    _Giãn nước tối đa:1110 tấn
    _Chiều dài 82.3m
    _Rộng 9.2m
    _Cao 3.2m
    _Vận tốc tối đa 32 knots
    _Bán kính hoạt động: 4000 dặm
    Vũ khí:
    _2 tháp pháo 2 nòng 76.2mm AK-276
    _3 ống phóng ngư lôi 402mm ASW TT
    _ 2 hệ thống hoả liễn bắn loạt chống ngầm RBU 6000 ASW RL
    _2 ống thả mìn
    _Hệ thống Sonar Titan MF (dùng để dò tàu ngầm)

    Hiện Hải quân Nhân dân Việt Nam có 2 tàu Petya-III

    HQ-15



    HQ-17


    Phóng lôi




    Tàu phóng lôi Shershen

    Độ giãn nước: 161 tấn
    Kích thước: 34.60 x 6.74 x 1.72 mét
    Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 12,000 bhp, 42 hải lý/ giờ
    Thủy thủ đoàn: 22
    Vũ khí: 2 pháo phòng không 30mm, 4 dàn phóng ngư lôi và rải mìn
    Nguồn gốc: Liên Xô





    Hải quân Việt Nam hiện nay được cho là có khoảng 50 chiến hạm cỡ nhỏ với trang bị lạc hậu và khoảng vài trăm tàu xuồng chiến đấu trên sông. Các chiến hạm chủ yếu được chuyển giao từ Liên Xô cũ và một phần là chiến lợi phẩm từ hải quân Ngụy. Hiện nay Việt Nam đã tự đóng được vài chiến hạm nhỏ. Với mục tiêu từng bước hiện đại hóa hải quân, Việt Nam đã mua vài chiếc khu trục hạm lớp Gepard.

    Dưới đây là một số chiến hạm đang sử dụng trong lực lượng HQNDVN

    Tàu hộ tống lớp Petya-II


    Độ giãn nước: 1,077 tấn
    Kích thước: 81.8 x 9.2 x 2.85 mét
    Sức đẩy: 3 trục; 6,000 bhp; 2 động cơ đẩy gas turbines 30,000 shp; 29 hải lý/giờ
    Thủy thủ đoàn: 92
    Radar: Fut-N/Strut Curve 2-D
    Vũ khí: 2 tháp pháo với súng 2 nòng 76.2mm, 2 ống phóng ngư lôi 15.8 inch, 2 giàn phóng rócket RBU-6000 ASW RL
    Nguồn gốc: Khu trục hạm cỡ nhỏ của Liên Xô, chuyển giao cho Việt Nam.
    Nơi sản xuất: Yantar Zavod, Kaliningrad, Russia.





    Tàu tuần tiễu lớp Petya-III
    Độ giãn nước: 1,040 tấn
    Kích thước: 81.8 x 9.2 x 2.72 mét
    Sức đẩy: 3 trục; 1 cruise diesel, 6,000 bhp; 2 boost gas turbines, 30,000 shp; 29 hải lý/ giờ
    Thủy thủ đoàn: 92
    Radar: Fut-N/Strut Curve 2-D air search
    Sonar: Titan hull mounted MF
    EW: Bizan-4B suite with Watch Dog intercept
    Vũ khí: 2 tháp pháo với súng 2 nòng 76.2mm, 3 ống phóng ngư lôi 15.8 inch, 4 giàn phóng rócket RBU-6000 ASW RL
    Nguồn gốc: tàu tuần tiễu xuất khẩu của Nga, Việt Nam nhận năm 1978. Việt Nam
    hiện có 2 chiếc HQ-09, HQ-11.


    Tàu hỏa tiễn cỡ nhỏ lớp BPS 500


    Độ giãn nước: 517 tấn
    Kích thước: 62 x 11 x 2.5 mét/203.4 x 36 x 8.2 feet
    Sức đẩy: 2 động cơ diesel, 2 waterjets, 19,600 bhp, 32 hải lý/ giờ
    Thủy thủ đoàn: 28
    Radar: Positiv-E/Cross Dome air/surf search
    EW: 2 PK-16 decoy
    Vũ khí: 8 hỏa tiễn Kh-35 Uran SSM, 1 đại bác 76.2mm, 1 súng phòng không 30 mm, 2 súng 12.7 mm MG
    Nguồn gốc: Nga thiết kế, được đóng tại Việt Nam


    Tàu hỏa tiễn lớp Tarantul I


    Độ giãn nước: 455 tấn full load
    Kích thước: 56.1 x 10.2 x 2.14 mét
    Sức đẩy: 2 trục; 2 động cơ gas turbines, 8,000 shp; 2 động cơ đẩy gas turbines,
    24,000 shp; 32,000 shp, 43 hải lý/ giờ
    Thủy thủ đoàn: 39
    Fire Control: Garpun-E/Plank Shave missile control
    EW: 2 PK-16 decoy RL
    Vũ khí: 4 hỏa tiễn SS-N-2C Styx SSM, 1 súng 76.2mm/59cal DP, 1 SA-N-8 SAM, 2 súng 30AA
    Nguồn gốc: Nga
    Nơi sản xuất: Volodarskiy SY, Rybinsk, Russia.


    Tàu tên lửa lớp Osa-II


    Độ giãn nước: 226 tấn
    Kích thước: 38.6 x 7.6 x 2 mét
    Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 15,000 bhp, 35 hải lý/ giờ
    Thủy thủ đoàn: 28
    Vũ khí: 4 hỏa tiễn SS-N-2B Styx SSM, 2 dual 30 mm
    Nguồn gốc: Liên xô sản xuất, 8 chiếc được giao trong năm 1979-81.


    Tàu phóng lôi lớp Turya


    Độ giãn nước: 250 tấn
    Kích thước: 39.6 x 7.6 x 2 mét
    Kích thước: 39.6 x 9.6 x 4 mét
    Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 15,000 bhp, 37 hải lý/ giờ
    Thủy thủ đoàn: 26
    Sonar: Rat Tail dipping
    Vũ khí: 1 tháp pháo gắn súng 2 nòng 57mm/70cal AA, 1 súng 2 nòng 25 mm, 4 ống phóng ngư lôi 21 inch
    Nguồn gốc: Liên Xô sản xuất giao năm 1984.
    Nơi sản xuất: Vladivostokskiy Sudostroitel’niy Zavod, Vladivostok, Russia
    Độ giãn nước: 213 tấn
    Kích thước: 41.9 x 6.1 x 1.8 mét
    Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 6,000 bhp, 28 hải lý/ giờ
    Thủy thủ đoàn: 33
    Vũ khí: 2 súng 2 nòng 25 mm, 4 hỏa tiễn RBU-1200 ASW RL, 18 mìn


    Tàu phóng lôi lớp Shershen


    Độ giãn nước: 161 tấn

    Kích thước: 34.60 x 6.74 x 1.72 mét

    Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 12,000 bhp, 42 hải lý/ giờ

    Thủy thủ đoàn: 22

    Vũ khí: 2 dual 30 mm, 4 21 inch torpedo tubes, mines

    Nguồn gốc: Liên Xô sản xuất giao năm 1979-1983.

    Tàu quét mìn lớp Yurka
    Độ giãn nước: 560 tấn full
    load

    Kích thước: 52.1 x 9.6 x 2.65 mét/171 x 31.5 x 8.7 feet

    Sức đẩy: 2 động cơ diesel, 2 trục, 5,000 bhp, 16 hải lý/ giờ

    Thủy thủ đoàn: 46

    Sonar: MG-69 Lan’ mine avoidance

    Vũ khí: 2 dual 30 mm, 10 mines

    Nguồn gốc: Ex-Soviet steel-hulled minesweepers.

    Nơi sản xuất: Vladivostokskiy Sudostroitel’niy Zavod, Vladivostok, Russia.
    Khu trục hạm Phạm Ngũ Lão
    Độ giãn nước: approx. 2,800 tấn full load 2800 tấn

    Kích thước: 94.7 x 12.5 x 4.1 mét

    Sức đẩy: 4 động cơ diesel, 2 trục, 6000 bhp, 18 hải lý/ giờ nominal

    Thủy thủ đoàn: 200

    Vũ khí: 3 37 mm, 2 dual 25 mm, 2 SA-N-5 SAM, 2 cối 81 mm

    Nguồn gốc: Đây là khu trục hạm chiến lợi phẩm thu được của hải quân ngụy, ban
    đầu thuộc lực lượng tuần duyên Hoa kỳ sau đó chuyển giao do hải quân Nam Việt
    Nam. Vũ khí trên tàu đã được thay thế bằng vũ khí của Liên Xô

    Nơi sản xuất: Lake Washington SY, Houghton, WA.



    Tàu tuần tiễu cao tốc lớp Svetlyak

    Loại: Tàu tuần tiễu cao tốc ven bờ
    Độ giãn nước: 375 tấn
    Kích thước: 49.5 x 9.2 x 2.16 mét
    Sức đẩy: 3 trục; 3 cruise diesel x 4.700 bhp ;
    Vận tốc : tối đa 30 hải lý/ giờ
    Tầm họat động : 2200 hải lý với vận tốc trung bình 13 hải lý / giờ
    Thủy thủ đoàn: 28
    Vũ khí: 1 đại bác 76.2mm AK-176, 1 súng phòng không 30 mm AK-603 CIWS, 2 súng 12.7 mm MG, phiên bản khác (VN ko có) có 16 quả Igla (tên lửa phòng không tấm ngắn)
    Mồi bẫy : 1x4 P3RK





    Tàu quét mìn lớp Yurka

    Độ giãn nước: 560 tấn full load (tức là tối đa)
    Kích thước: 52.1 x 9.6 x 2.65 mét/171 x 31.5 x 8.7 feet
    Sức đẩy: 2 động cơ diesel, 2 trục, 5,000 bhp, 16 knots (hải lý/ giờ)
    Thủy thủ đoàn: 46 người
    Vũ khí: 2 pháo đôi 30 mm, 10 mines
    Nguồn gốc: Ex-Soviet steel-hulled minesweepers.
    Nơi sản xuất: Vladivostokskiy Sudostroitel'niy Zavod, Vladivostok, Russia.

    3 cái tàu bên phải chính là Yurka, 3 chiếc bên trái hình như là Turya


    Tàu khu trục tên lửa Molnya (Tarantul-V)


    Tàu Molnya là loại tàu khu trục tên lửa, trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội.

    Tàu tên lửa Molnya được phát triển theo dự án số 12421 của Nga, bao gồm: Tàu chiến đấu, tàu bổ trợ và tàu tuần tra tại các vùng cửa biển, ven bờ. Tàu tên lửa Molnya trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền tin, các hệ thống radar trinh sát và kiểm soát bắn. Radar có tầm bao quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15 mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ thống radar kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc trưng của mục tiêu và sử dụng hệ thống dữ liệu bắn trên máy tính.

    * Vũ khí chính trang bị trên tàu Molnya gồm:

    - Trang bị hệ thống tên lửa chống tàu với giàn phóng tên lửa Uran phóng tên lửa hành trình Kh-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình Kh-35 dẫn bằng radar chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg
    - Hoặc tên lửa hành trình chống tàu Moskit (SS-N-22) với 2 giàn phóng (2 tên lửa/giàn), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg
    - 12 tên lửa phòng không Igla-1M;
    - 1 pháo tàu 76mm AK-176M ( Cơ số 316 viên đạn pháo ), tầm xa 15 km
    - 2 pháo phòng không 30mm AK-630M.


    Hệ thống radar trên tàu có: Radar trinh sát băng HF, UHF, radar nhận biết mục tiêu không-biển, radar điều khiển, kiểm soát bắn cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống radar và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200m đến 1800m...

    Tàu tên lửa Molnya có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ turbine khí 32.000 sức ngựa, 3 động cơ diezen, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.



    nguồn: http://a1club.vnbb.com/viewtopic.php...&sd=a&start=15
    "Mưu sự tại nhân, hành sự tại nhân". Thiên = trời = mây + không khí = bầu khí quyển. Không thể "mưu sự tại thiên" vì "thiên" vô tri vô giác

  7. #7
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    42
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Rep Power
    64
    Xe tăng lội nước PT-76



    PT-76 (PT = Plavayushtshiy Tank - Amphibious Tank) là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được chế tạo và sử dụng bởi quân đội Liên Xô, mẫu PT-76 được phát triển vào khoảng những năm 1949-1951 dưới sự chỉ đạo của Z.Y. Kotin. PT-76 được đưa vào phục vụ từ năm 1954 với khả năng lội nước mà ko cần phải thực hiện các thao tác chuẩn bị như các loại tăng khác( T34,T54) . Mặc dù PT-76 có giáp mỏng và được vũ trang ko đủ tiêu chuẩn như 1 xe tăng hiện đại như khả năng lội nước của nó lại bù đắp giá trị của những hạn chế này. Nó được sử dụng rất rộng rãi trong quân đội các nước thuộc Liên Bang Soviet , các nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw và một số quốc gia đồng minh khác của LX.Đã có hơn 7000 xe tăng PT-76 được sản xuất và hơn 2000 chiếc xuất khẩu, có hơn 25 quốc gia sử dụng. PT-76 vũ trang súng chính 76mm với tầm bắn hiệu quả tối đa độ chừng 1500m. Tổ lái gồm 3 người , PT-76 cũng được dùng để vận chuyển bộ binh. PT-76 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ nên thiết kế mũi xe tăng dẹt,phẳng , có hình dáng như mũi tàu .Xích xe có 6 bánh chạy và ko có trục lăn đỡ xích. Tháp pháo hình chóp cụt ,nằm trên vị trí bánh thứ 2,3,4 có 2 cửa dành cho Xa trưởng và Lính nạp đạn, cửa dành cho Lái xe đặt ngay dưới súng chính .

    PT-76 được sử dụng như xe tăng trinh sát tiêu chuẩn của quân đội Nga và quân đội Khối hiệp ước Warsaw .Mặc dù sau này nó đã được thay thế ở các đơn vị chủ lực tuyến đầu bời các loại Xe chiến đấu khác như BMP-1, BMP M1976 nhưng nó vẫn được sử dụng ở 1 số đơn vị trinh sát, bộ binh hạng nhẹ,và các đơn vị đổ bộ đường biển. Bên cạnh vai trò trinh sát, nó còn được sử dụng đề vượt qua các chướng ngại vật do đối phương dựng nên trên mặt nước trong đợt tấn công đầu tiên của các cuộc đổ bộ đánh chiếm bãi biển.Động cơ V-6 240 mã lực làm mát bằng nước của PT-76 tạo cho nó tốc độ 44km/h khi tuần tra với quãng đường khoảng 260km, hệ thống đẩy thủy lực của nó giúp nó rẽ nước với tốc độ 10km/h trên mặt biển với quãng đường 100km.Súng chính 76mm, bắn đạn HVAP HEAT, đủ sức chống lại các phương tiện cơ giới bọc thép hạng nhẹ , APC( xe bọc thép).PT-76 là 1 phương tiện cơ giới trinh sát đáng tin cậy, cơ động cao và là 1 phương tiện cơ giới lội nước hiệu quả nhưng có nhiều hạn chế nếu xét trên phương diện 1 phương tiện cơ giới chiến đấu.

    Như hầu hết các loại xe tăng của Liên Xô Sản xuất, PT-76 bị hạn chế khả năng hạ thấp súng chính và vì thế nên gây trở ngại cho việc bắn tỉa từ khu đất cao.Kiểu thiết kế lội nước của PT-76 làm kích thước của nó lớn ko cần thiết đối với trọng lượng cùa dòng tăng hạng nhẹ dẫn đến làm giảm vỏ thép bảo vệ của nó mỏng hơn các loại tăng hạng nhẹ khác. Chính vì lớp giáp tương đối mỏng cùa PT-76 làm nó rất dễ bị tổn thương bởi mảnh đạn pháo và bởi đạn .50 cal(12,7x99mm).Thêm vào đó,chỉ huy vừa là xạ thủ đồng thời vừa là người điều khiển Radio , điều này làm hạn chế khả năng quan sát của anh ta. PT-76 cũng bị tụt hậu so với các thế hệ xe cơ giới chiến đấu của Liên Xô bởi ko có thiết bị quan sát ban đêm và hệ thống bảo vệ NBC( hệ thống bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hóa học) cho tổ lái.

    Trong chiến tranh Việt Nam, PT-76 được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng lần đầu tiên ở trận Làng Vây, Khe Sanh, dùng để bao vây tiêu diệt căn cứ của Lực lượng Đặc biệt Mỹ (SOG) được đồn trú bởi chủ yếu là người Thượng và 24 lính Mỹ. Trong trận Làng Vây, PT-76 đã làm tốt vai trò tấn công thọc sâu, yểm trợ bộ binh xung phong , làm giảm thiểu thương vong đáng kể cho bộ binh , gây thiệt hại nặng cho phe phòng thủ (trên 200 Lính đặc nhiệm người Thượng bị tiêu diệt, 7 lính Mỹ chết), tuy nhiên phe QđND VN cũng chịu thiệt hại nặng là 5 trong số 12 xe bị phá hủy bởi súng không giật DKZ và súng chống tăng M72 LAW nhưng cuộc tấn công đã giành thắng lợi, tiêu diệt được cứ điểm Làng Vây. Sau đó PT-76 được QĐ ND VN sử dụng rộng rãi suốt cuộc chiến tranh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng, PT-76 chỉ tham gia 1 trận đấu tăng duy nhất tại Bến Hét ngày 3/3 /1969 gần biên giới Lào, trong trận đánh 2 xe tăng PT-76 đã bị bắn cháy bởi 1 xe tăng hạng trung M48A3 của Quân đội Mỹ. Sau này PT-6 được phiên chế vào Qđ NDVN thời nay , trang bị cho các đơn vị thiết giáp , bộ binh cơ giới và Lực lượng Hải quân đánh bộ.



    Thông số kỹ thuật
    Loại: Xe tăng lội nước hạng nhẹ
    Nước Sản xuất:Liên Xô
    Nặng: 14 tấn với PT-76
    15,4 tấn với PT-76B
    Chiều dài(ko tính súng chính): 6,91m
    Cao: 2,26 m
    Rộng: 3,15m
    Tổ lái: 3 người
    Giáp trước : dày nhất 14mm
    Giáp tháp pháo:dày nhất 20mm, mỏng nhất 17mm
    Vũ khí: SÚng chính 76mm D-56T 40 viên
    1 súng máy đồng trục 7,62mm loại SGMT hoặc PKT
    Động cơ: V-6B Diesel 240 mã lực
    Tầm hoạt động:260 km trên cạn và 60 km dưới nước
    Tốc độ: 44 km/h trên cạn và 10,2 km/h dưới nước

    Xe tăng PT-76 của Việt Nam trong .. viện bảo tàng




    Xe tăng T-54 và T-55



    Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước, với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích, chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II. Nguyên mẫu T-54 đầu tiên được hoàn thành năm 1946 và được chế tạo lần đầu năm 1947. T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến, và sau khi đã được sửa khá nhiều, nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59), Tiệp Khắc và Ba Lan. Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng, mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62, T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô.

    Nó là lựu lượng xung phong tuyến đầu trong các trận đánh của Quân đội ND VN.Tham gia rất nhiều trận đánh lớn trong chiến tranh Việt Nam : Đường 9 Nam Lào, Đắc Tô-Tân Cảnh T54 bắn cháy nhiều xe tăng M41 và M48 của quân đội VNCH tiêu diệt lực lượng thiết giáp của QđVNCH trên đường giải vây Tan Cảnh, Chiến dịch Nguyễn Huệ, Chiến dịch Trị Thiên năm 1972 đều có sư góp mặt của T54, nhưng đặc biệt trong trận An Lộc năm 1972, T54 đã bị thiệt hại nặng do tấn công vào đô thị mà thiếu sự yểm trợ của bộ binh , rất nhều T54 bị bắn cháy bằng súng phóng lựu M72 và hỏa tiễn TOW trên trực thăng AH-1 Cobra , quân đội VNCH sử dụng những chiếc T54 chiến lợi phẩm sung vào lực lượng tăng của họ. Đến năm 1974, T54 lại lần nữa tham gia chiến dịch Phước Long, và lần này Quân đội NDVN đã rút kinh nghiệm ở An Lộc, tăng cường cho T54 các bao cát ở sườn xe và giáp trước để M72 ko đục thủng được, T54 đã làm nên chiến thắng Phước Long vang dội , chiếm được tỉnh Phước Long và QĐVNCH ko thê chiếm lại được. Đặc biệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, T54 đã làm nên sứ mạng lịch sử, đánh bại các lực lượng Thiết giáp của VNCH ở Tây Nguyên,Đông Nam Bộ có trang bị M48 của Mỹ tiến sát đến Sài Gòn, chiếc T54 mang số hiệu 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập , buộc Chính quyền SG đầu hàng vô điều kiện, chấm dứt cuộc chiến tranh 20 năm, thống nhất đất nước.


    Xe tăng T-54 của quân giải phóng húc đổ cổng dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975



    Thông số kỹ thuật
    Xuất xứ:Liên Xô.
    Nước sản xuất:Liên Xô,Trung Quốc,một số nước XHCN khác
    Thiết kế:Morozov Design Bureau
    Số lượng sản xuất: 86000-100000
    Nặng:36,7 tấn
    Dài: 6,5m
    Rộng:3,37m
    Cao:2,4m
    Tổ lái: 4 người(xa trưởng, xạ thủ, nạp đạn, lái xe)
    Giáp: 203mm trước tháp pháo
    150mm 2 bên hông tháp pháo
    64mm mặt sau tháp pháo
    39mm đỉnh tháp pháo
    100mm giáp trước
    79mm sườn xe
    46mm đuôi xe
    20mm gầm xe
    Vũ khí: Súng chính 100mm D-10T , 34 viên-45 viên
    1 đại liên 7,62mm đồng trục loại SGMT hoặc PKT
    1 đại liên 7,62mm gắn trước thân xe
    1 đại liên 12,7mm DKSh gắn trên đỉnh tháp pháo
    Động cơ: V-54 Diesel 12 xi-lanh dung tích 38,88 lít làm mát bằng nước
    523 mã lực(T54) 581 mã lực với T55
    Sức kéo: 13,2 mã lực/tấn(T54)
    14,6 mã lực/tấn(T55)
    Tầm hoạt động: 401 km và 600km nếu có thêm thùng nhiên liệu phụ
    Vận tốc: 48km/h với T54 và 55km/h với T55

    Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích, chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn, tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54, và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt, bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.



    T-55 kết hợp một súng tốc độ cao với một chassis rất cơ động, một thân ngắn và nòng rất dài. Các cải tiến so với loại T-54 gồm động cơ diesel V12 làm mát bằng nước lớn hơn với 580 sức ngựa so với 520 sức ngựa, tăng tầm hoạt động lên 500km (lên tới 715km với hai bình xăng phụ mỗi bình 200 lít). T-55 cũng có hai cái ổn định hai cánh (two-plane) chứ không chỉ có cái ổn định dọc, một lần nạp đạn cho súng chính được 43 viên thay vì chỉ 34 viên. T-55 có thể lội qua độ sâu 1.4m mà không cần chuẩn bị trước, có thiết bị thông hơi cho phép nó vượt qua độ sâu lên đến 5.5m với tốc độ 2 km/giờ. Thiết bị này cần phải được chuẩn bị trước từ 15 đến 30 phút nhưng có thể được vứt bỏ ngay sau khi ra khỏi nước. Tất cả các xe T55 đều có hệ thống dò tìm bức xạ PAZ, và T-55A cũng có thiết bị chống bức xạ. Một số chiếc T-55 được trang bị một hệ thống bảo vệ tổng thể NBC (lọc không khí và quá áp suất). Một màn khói dày có thể được tạo ra bằng cách phun nhiên liệu diesel bay hơi vào một hệ thống hút khí. Những chiếc T-55 có “áo giáp yếm”, áo giáp bán nguyệt lắp thêm, có lớp bảo vệ tháp pháo tăng cường lên đến 330mm (KE) và 400-450mm (CE). Một số cải tiến khác có thể được trang bị thêm gồm một đáy vỏ được tăng cường chống mìn, động cơ tốt hơn, xích bằng các miếng cao su, và ống bọc nhiệt cho súng. Ống nhòm 1K13 vừa dùng để quan sát ban đêm vừa quan sát bệ phóng ATGM; tuy nhiên nó không thể được dùng cho cả hai mục đích cùng một lúc. Các kiểu ống ngắm có thể lựa chọn và hệ thống kiểm soát lửa gồm cả El-Op Red Tiger của Israel và Matador FCS, ống nhòm NobelTech T-series của Thuỵ Điển, và Atlas MOLF của Đức. SUV-T55A FCS của Nam Tư, Marconi Digital FCS của Anh, SABCA Titan của Bỉ cho phép nâng cấp hoạt động. Một trong những cái tốt nhất là cái EFCS-3 của Slovenia được tích hợp với FCS. Rất nhiều kiểu ống ngắm nhiệt khác cũng có thể được trang bị. Gồm cả ống ngắm Nga/Pháp ALIS và Namut-type của Peleng. Có nhiều kiểu ống ngắm nhiệt có thể được trang bị cho phép phóng ATGM vào buổi tối. Hệ thống bảo vệ hoạt động tích cực (APS) đầu tiên, được gọi là Drozd, được phát triển ở Liên Xô giữa 1977 và 1982. Hệ thống này được lắp đặt trên khoảng 250 chiếc T-55A của cả thuỷ và bộ binh (sau đó được đổi tên thành T55AD) vào đầu những năm 1980, và được thiết kế để bảo vệ khỏi ATGM và lựu đạn chống tăng. Nó sử dụng các cảm biến vi sóng radar đầu tiên ở mỗi bên tháp pháo để dò tìm đạn đang bay đến. Một máy lọc bên trong bộ xử lý radar được dùng để đảm bảo rằng hệ thống chỉ phản ứng lại với các mục tiêu đang bay ở tốc độ đặc trưng của ATGM. Những mục tiêu đó sẽ bị một hay nhiều rocket có mang các đầu đạn nhiều mảnh (giống với đạn súng cối), được bắn ra từ bốn ống phóng xung quanh (mỗi phía của tháp pháo có một ống). Drozd chỉ cung cấp sự bảo vệ hướng ra phía trước 600 ở phần tháp pháo, hai bên cạnh và phía sau có thể bị tấn công. Kíp lái có thể thay đổi hướng của hệ thống bằng cách quay tháp pháo. Drozd bị tổn hại vì nhiều thiếu sót. Radar của nó không thể xác định đe doạ ở nhiều mức góc nâng một cách thoả đáng, và các rocket phòng vệ hầu như chắc chắn gây ra tổn hại ở mức độ không thể chấp nhận được ở hai bên - đặc biệt là đối với bộ binh đi theo.(nhưng không biết là Việt Nam có sở hữu các loại cải tiến này không)



    Tuy là 1 loại xe tăng được sử dụng khá phổ biến nhưng loại tăng này có những nhược điểm hơi bị khó chịu:T-55 hiệu quả nhất khi chống lại các phương tiện bọc thép nhẹ và trung bình. Đạn nạp căn bản cho súng chính là 43 viên. Các đơn vị nhiên liệu bên ngoài làm cho xe rất dễ bị tổn hại, vì nó được bảo vệ bằng vỏ thép mỏng. T-55 có khả năng hạn chế trong việc hạ súng chính, gây trở ngại cho xe trong việc bắn tỉa từ trên khu đất cao. Hơn nữa ống ngắm đầu tiên của pháo thủ lại bị gắn với súng chính, không cho phép pháo thủ kiếm được các mục tiêu được bố trí dấu kín thân xe. Mặc dù tháp pháo hình nửa quả trứng của T-55 có các tính chất tốt của hình cầu, nó cản trở điều kiện làm việc của kíp lái, dẫn tới mức độ bắn thấp; và sự bảo vệ nhờ vào thân ngắn của nó (ngắn hơn 1m so với M60) lại làm cho mất thăng bằng vì sự bảo vệ vỏ thép kém của nó so với các tiêu chuẩn phương tây. Theo cùng một tiêu chuẩn, thiết bị kiểm soát súng của nó cũng còn thô thiển. Nó cũng có bất lợi của đa phần xe tăng Xô viết là có khả năng kém về hạ thấp nòng chính, vì thế không thể có khả năng bắn hiệu quả theo kiểu bắn tỉa mà bắt buộc phải thò cả thân ra để chiến đấu. Vũ khí và nhiên liệu được bố trí ở vị trí kém. Việc thiếu cái rổ tháp pháo làm cho việc nạp đạn khó khăn, và vì thế đạn dược sẵn sàng kém. Người lái, chỉ huy, và pháo thủ tất cả đều trên một hàng. T-55 không kín không khí. Dù các thành viên kíp lái được bảo vệ khỏi bụi phóng xạ bởi một hệ thống lọc, họ bắt buộc phải đeo mặt nạ bảo vệ cá nhân và mặc đồ chống chất hoá học và sinh học. Xe tăng vì thế phải đi qua những vùng bị ô nhiễm nhanh chóng và sau đó lại phải được tẩy rửa trước khi hoạt động trở lại. Xe tăng có thể được chế tạo kín nước để vượt qua chướng ngại nước với độ sâu lên đến 1,4m (5,5m với ống thông hơi). Tuy nhiên, có thể mất đến nửa giờ để chuẩn bị một đơn vị tăng trung bình để hoạt động được, và điểm vào và ra cũng cần được chuẩn bị.
    Các biến thể của nó,khá nhiều:

    Tăng T-54/55 từng được chế tạo với số lượng lớn nhất so với bất kỳ loại tăng nào khác trên thế giới. Sáu kiểu chính đã được sử dụng rộng rãi tại các nước thuộc khối Hiệp ước Warsaw và nhiều nước khác. Các mẫu T-54/55 từng được chế tạo tại Tiệp Khắc và Ba Lan cũng như ở Trung Quốc nơi nó được gọi là Kiểu 59. Hơn mười hai nước đã chế tạo các biến thể cải tiến của T-55 với khả năng bảo vệ và khả năng tấn công gần tương tự. Nhiều nước đã nâng cấp cho nó với súng chính lớn hơn.


    T-54: Có nhiều khác biệt giữa xe T-54 thời kỳ đầu và thời kỳ sau, một số chiếc có giáp rộng hơn và tháp pháo bị cắt ngắn ở bên cạnh. Thỉnh thoảng chúng được coi là T-54 (1949), T-54 (1951) và T-54 (1953).T-54A: Kiểu này có máy hút khói cho súng 100mm, hệ thống ổn định và thiết bị lội sâu.T-54AK: Tăng chỉ huy (Kiểu của Ba Lan là T-54AD). Có thêm radio và tầm hoạt động của radio là 100 dặm.T-54M: T-54 được nâng cấp theo tiêu chuẩn của T55M.T-54B: Kiểu đầu tiên có thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm. Đây là kiểu được sử dụng ở những nước trên.T-55: T-54 với tháp pháo mới và nhiều cải tiến, các kiểu được chế tạo về sau này có một súng 12.7mm AA MG. Các cải tiến từ kiểu T-54 gồm một động cơ diesel làm mát bằng nước V12 lớn hơn và tầm hoạt động rộng hơn 500 thay vì 400km (600 với các xe tăng bổ trợ). Tầm hoạt động có thể tăng lên đến 715km với hai bình xăng phụ 200 lít ở hai bên xe. T-55 có tháp pháo hoàn toàn khác so với T-54, sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là T-55 không có quạt gió nóc và thay vào đó là hai thanh nóc hình chữ D. Các xe T-55 đầu tiên cũng không có máy nạp đạn cho súng 12.7mm DShK AA MG cửa sập của máy nạp đạn hơi thò lên hay không thò lên khỏi xung quanh lớp giáp.T-55A được thêm hệ thống bảo vệ NBC. T-55A sử dụng một lớp chống bức xạ mới và hệ thống lọc hoá chất PAZ/FVU được cải tiến trên cùng tháp pháo. Lớp chống bức xạ làm tháp pháo dày hơn và không bằng với bề mặt tháp pháo. Các chi tiết đáng chú ý là sự chải lớn hơn ở cửa của chỉ huy và pháo thủ, và một chỗ phồng lớn ở cửa người lái. T-55A Kiểu 1970 bắt đầu có súng 12.7mm, nhưng ở vị trí khác với T54.T-55M có thêm hệ thống kiểm soát lửa Volna (với máy phóng ATGM), hệ thống ngắm và ổn định súng được cải tiến, động cơ tốt hơn, radio mới, và bảo vệ tốt hơn. Nó gồm váy hai bên, súng phóng lựu đạn khói, miếng đính bảo vệ, và bảo vệ lửa.T-55AM có thêm vỏ yếm, một vỏ bọc quanh tháp pháo và bảo vệ 180°. Sự gọi tên T-55AM thỉnh thoảng cũng dùng cho T-55A với súng 12.7mm DShK MG.T-55AM2B: Kiểu T55AMV của người Séc với kiểm soát lửa Kladivo.T-55AM2: Biến thể không có khả năng ATGM hay Volna FCS.T-55AM2P: Kiểu T55AMV của người Ba Lan nhưng có thêm Merida FCS.T-55AMD: Biến thể với Drozd APS thay vì ERA.T-55AD Drozd: Biến thể với Drozd chứ không phải Volna FCS và ERA.T-55AMV Phiên bản AMV cải tiến thay thế ERA cho lớp yếm bảo vệ. Các phiên bản kết thúc với việc thay thế động cơ w/V-46 engine từ chiếc T-72 MBT. Ukraina và Syria sẽ cải tiến theo tiêu chuẩn của T-55AMV.T-72Z Safir-74 – Một phiên bản cải tiến của Iran từ mẫu T-54/T-54 có thể được áp dụng cho các xe tăng T-54 của Iraq bị bắt trong chiến tranh Iran-Iraq. Nó có một số cải tiến gồm cả một súng tăng 105 mm M68 có rãnh xoắn, hệ thống kiểm soát bắn computer và động cơ diesel mới với hệ thống làm lạnh và chuyển số tự động



    Xe tăng hạng trung T-62



    T-62 là bước kế tiếp của series T-54/55, được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1961 và được duy trì cho tới năm 1975. Nó trở thành loại MBT (main battle tank - xe tăng chiến đấu chủ lực) tiêu chuẩn của lực lượng Tăng thiết giáp và Bộ binh cơ giới LX, thay thế cho T-54/55. Phiên bản T-62 A lần đầu xuất hiện vào năm 1970. Vào khoảng thập niên 80 nó được thay thế bằng thế hệ tăng T-64/72/80 tiên tiến hơn.

    Mô tả sơ bộ:
    Tăng hạng trung T-62 là xe tăng bánh xích với 5 bánh dẫn động mỗi bên, 3 bánh đầu lắp sát nhau còn bánh thứ 3,thứ 4 và thứ 5 thì cách xa nhau khá rõ. Bách xích dẫn hướng nằm phía cuối còn bánh tĩnh thì nằm phía đầu xe. Xe T-62 không có bánh quay xích. Tháp pháo có hình tròn, được lắp ở khoảng trên bánh xích thứ 3, được đúc láng hơn và tròn hơn tiền bối T-54/55. Tháp chỉ huy nằm phía bên trái và được đúc liền vào thân chứ không táng ri-vê. Nắp của pháo thủ nằm bên phải

    Súng nòng trơn 115-mm(bắn được ATGM) có nòng dài hơn và nhỏ hơn nòng pháo 100mm cuả T-54/55 (115 mà bé hơn 100 àh?) và cái bore evacuator ( một thiết bị có chức năng ngăn hơi thuốc bay ngược lại khoang lái) nằm ở khoảng 2/3 thân súng tính từ tháp pháo. Thêm vào đó là một khẩu súng máy đồng trục 7,62mm cùng 1 đại liên 12,7mm phòng không thuộc quyền sử dụng của pháo thủ.

    Tính năng:
    Giống như T-55, T-62 được trang bị động cơ diesel V-12 làm mát bằng nước có công suất 580 sức ngựa.Tầm hoạt động trên địa hình xấu là 320 km ,trên đường bằng phẳng là 450km với thùng nhiên liệu bên trong.Nếu đeo thêm 2 thùng nhiên liệu dung tích 200l thì 450km đường xấu và 650km đường bằng phẳng.hệ thống xả khí, phát khói ngụy trang
    và máy quét phóng xạ loại PAZ dùng cùng loại với T-54/55.Một số T-62 còn có khả năng trang bọ thêm hệ thống chống chiến tranh sinh hóa NBC. Hầu hết các model T-62 đều có kính ngắm hồng ngoại cho xa trưởng, pháo thủ và lái xe.

    Sự cải tiến đáng giá nhất của T-62 so với T-54/55 là khầu pháo chính 115mm nòng trơn. Khẩu này có khả năng bắn loại đạn xuyên giáp sử dụng thanh xuyên có cánh định hướng gắn cố định, sơ tốc đầu nòng cao vào khoảng 1,6 km/s. Loại đạn này có đạn đạo rất ổn định nên tầm hiệu quả tối đa vào khao3ng 1,6 km.1 cơ số đạn tiêu chuẩn của T-62 gồm 40 quả đạn, trong đó có 12 đạn HVAPFSDS xuyên giáp, 6 đạn nổ HEAT và 22 đạn nổ HE.T-62 còn có bộ phận hất vỏ đạn ra theo 1 đường rãnh thoát nằm cuối tháp pháo.

    Các thành phần gia cố khác bao gồm giáp đáy xe chống mìn, bánh xích bọc cao su và mũi giảm chấn đầu nòng.Thêm vào đó là những thiết bị ngắm thermal cho phép phóng ATGM vào ban đêm. Thiết bị quan trắc K13 vừa là thiết bị nhìn đêm vừa là ống ngắm ban đêm cho ATGM nhưng 2 chức năng này ko dùng song song được.

    Hạn chế
    T-62 cũng có những hạn chế giống T-55 : không gian chật hẹp của tổ lái, giáp mỏng, thiết bị điều khiển pháo thô lậu, góc hạ nòng súng thấp và khu vực chứa nhiên liệu đạn dược đễ bị tổn thương. Hệ thống tự động hất vỏ đạn cũng gây nên sự rò rỉ ngược khí CO2 và gây thương tổn vật lý khi vỏ đạn văng ra khỏi nòng cho thành viên tổ lái, thêm vào đó, lỗ hất vỏ đạn là một khe hở chết người của hệ thống NBC.

    Mỗi khi bắn, khẩu pháo phải nằm đúng vị trí khe hất vỏ đạn, đồng thời tháp pháo cũng ko thể quay được khi đang thao tác nạp đạn. Việc quay tháp pháo bằng tay gây khó khăn rất nhiều cho việc tác xạ khi di chuyển và tốc độ bắn liên tiếp.Khi nắp ca-pô của tài xế mở ra, tháp pháo cũng ko thể quay được. Mặc dù xa trưởng có khả năng chiếm quyền của pháo thủ và quay tháp pháo nhưng anh ta ko thể bắn được pháo từ vị trí chỉ huy vì không có tầm quan sát.

    Cuối cùng,để sử dụng khẩu 12,7mm pháo thủ phải leo ra ngoài tháp pháo

    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Tên:T-62M
    Năm sản xuất:1983
    Tổ lái: 4 người
    Nặng 41,5 tấn
    Dài 6.63m
    Cao 2.4m
    Rộng 3.52m
    Động cơ: Diesel 620 sức ngựa
    Tầm hoạt động :450/650km với thùng dầu phụ
    Tốc độ: 50km/h trên đường nhưạ và 40km/h đường gồ ghề
    Giáp:230 mm trước tháp pháo
    153 mm sườn tháp pháo
    97 mm sau tháp pháo
    40 mm đỉnh tháp pháo
    102 mm trước thân
    79 mm sườn xe

    46 mm đuôi xe
    20 mm gầm xe
    31 mm nóc xe
    Pháo chính :115mm nòng trơn modle 2A20
    Tốc độ bắn :3-5 viên/ phút
    Nạp đạn: thủ công
    Nòng dao động từ -5 tới 18 độ
    1 đại liên 7,62mm đồng trục


    Các phiên bản:
    T-62A:bên cạnh khẩu đồng trục 7,62mm PKT có tầm bắn khoảng 100m, model này có thêm 1 khẩu 12,7mm DShK với tầm bắn khoảng 1500m.Model này cũng có hệ thống tự ổn định nòng súng giúp tăng độ chính xác khi tác xạ trong hành tiến.
    T-62K:tank chỉ huy với hệ thống định vị và quan sát cao cấp.
    T-62M có thêm giáp, FSC và khả năng băn ATGM
    T-62D có hệ thống chống ATGM Drozd APS và giáp ERA




    Xe tăng chiến đấu chủ lực T-72



    Xe tăng chiến đấu chủ lực T72 được đưa vào sản xuất năm 1971 và ra mắt vào năm 1977. T72 ko phải là mẫu cải tiến cuả xe tăng T64 mà nó là 1 mẫu tăng hoàn toàn mới thưà hưởng những tính năng tốt cuả T64 và bổ sung thêm những tính năng mới vượt trội.

    T72 vẫn kế tục kiểu dáng thấp bé cuả các dòng tăng T55,T62 với cách bố trí bố cục quy ước.Nếu T64 chỉ được sử dụng trong quân đội Liên Xô thì T72 còn được sử dụng phổ biến trong quân đội các nước ngoài Khối Hiệp ước Warsaw, ngoài ra T-72 còn được các nước khác chế tạo những phiên bản cho riêng mình như CỘng Hoà Séc, Ba Lan,Ấn Độ... T-72 trở thành xe tăng chủ lực trong quân đội Liên XÔ những năm 1970 và là niềm tự hào cuả Bộ đội tăng thiết giáp Xô Viết . T-72 tham gia rất nhiều cuộc chiến tranh ở châu Âu và trên thế giới như: CHiến tranh Chechen 1 và 2, CHiến tranh Kosovo, chiến tranh Vùng Vịnh. Trong chiến tranh vùng Vịnh , T72 đã tỏ ra bất lực trước xe tăng M1A2 cuả Quân đội Mỹ, rất nhiều xe tăng T72 cuả quân đội Iraq bị bắn cháy bởi xe tăng M1A2 và trực thăng Apache, điều này nói lên rằng T-72 đã lạc hậu so với thế hệ xe tăng mới như M1A2 Abram, Challenger,Leopard , T80U..Tuy nhiên T-72 vẫn còn được nhiều nước sử dụng rộng rãi trong các đơn vị tăng chủ lực. Năm 2005, Việt Nam nhập khoảng 150 xe tăng T-72M cuả Ba Lan để sung vào lực lượng tăng thiết giáp chủ lực.

    MÔ TẢ

    Nhìn chung về bề ngoài, T-72 giống với T-64.T-72 có 6 bánh xích chạy bọc viền cao su và 3 bánh lăn hồi chuyển.Hệ thống nhìn đêm cuả xạ thủ gắn bên phải súng chính.Trên tháp pháo được trang bị 1 khẩu 12,7mm NSV có bệ xoay nhưng ko có hệ thống bắn tự động trong xe, ngoài ra còn 1 khẩu đại liên đồng trục 7,62mm .Ống thông hơi gắn bên trái tháp pháo. T-72 có khoang động cơ rộng hơn T-64 và bộ tản nhiệt nằm gần đuôi xe.


    TÍNH NĂNG KỸ THUẬT

    T-72 có tính cơ động cao hơn so với T-62, với động cơ V-12 Diesel có công suất lên đến 780 mã lực. Động cơ cuả T-72 được thiết kế rất tốt trong việc thải khói và chạy rất êm, giảm rất nhiều độ dằn xóc gây mệt mỏi cho tổ lái như ở mẫu T-62.Mặc dù có khoang động cơ lớn hơnT-64, nhưng do trọng lượng nặng hơn(41 tấn) nên T-72 được cho rằng có tốc độ gần như bằng T-64 .Mẫu T-72B1 còn được tăng cường động cơ V-12 pistone làm mát bằng không khí công suất tới 840 mã lực có thể chạy bằng 3 loại nhiên liệuiesel,Benzen,Kerosene.2 bình nhiên liệu phụ 200 lít có thể gắn sau đuôi xe.T-72 có thể gắn ống thở dùng cho việc lội nước qua nơi sâu, việc chuẩn bị lội nước mất khoảng 20 phút.


    T-72 có hệ thống giáp bảo vệ tốt hơn T-62 nhờ sử dụng giáp nhiều lớp và thưà hưởng những đặc tính tốt từ T-64.Giáp tấm Composite trên mẫu T-72M và T-72M1 có thể chống đỡ được đạn 105mm trên M1 Abram từ khoảng cách trên 2000m.Phiên bản T-72M và T-72M1 còn được trang bị thêm thiết bị xác định tầm bắn bằng laser làm giảm thiệt hại khi trúng đạn ở khoảng cách 2000m và trở xuống .Tháp pháo được bọc giáp quy ước có độ dày 280mm, còn giáp trước có đọ dày lên đến 200mm. Bên cạnh hệ thống phát hiện phóng xạ PAZ, T-72 còn được trang bị hệ thống chống phóng xạ(trừ các phiên bản xuất khẩu), hệ thống bảo vệ NBC( bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hoá học)

    T-72 có thiết bị sinh khói giống như các mẫu T55,T62 , các ống phóng lưụ đạn khói được lắp ở 2 bên hông tháp pháo.

    T-72 được trang bị vũ khí, đạn và hệ thống điều khiển hoả lực tương tự như T-64.T-72 được trang bị súng chính nòng trơn 125mm với hệ thống nạp đạn tự động gắn ở sau tháp pháo làm giảm số lượng tổ lái còn 3 người.Súng chính 125mm cuả nó có khả năng bắn thủng giáp cuả M1 Abram từ khoảng cách 1000 m.Đạn phá giáp BK-27 HEAT gần đây có thêm mũi 3 cạnh tăng khả năng xuyên giáp quy ước và giáp ERA.Đạn BK-29 với đầu đạn cứng dùng để đôí phó với giáp cảm ứng, đạn MP thì có thể vỡ mảnh dùng để sát thương bộ binh.Nếu đạn BK-29 HEAT-MP được sử dụng thì nó có thể thay thế hoặc bổ sung cho loại đạn Frag-HE (hiện đang được NATO dùng).
    Thiết bị nhìn đêm cuả T-72 gắn bên phải súng chính thay vì bên trái như T-64. Thiết bị ngắm 1K13-49 có thể dùng cho 2 chức năng : nhìn đêm và làm thiết bị dẫn bắn tên lưả chống tăng qua nòng.T-72 còn có thể lắp đặt hệ thống định vị mục tiêu bằng nhiệt, bao gồm Agava-2 cuả Nga , SAGEM-produced ALIS cuả Pháp , thiết bị naỳ có thể dùng để dẫn bắn tên lưả chống tăng vào ban đêm.


    T-72 với giáp ERA


    T-72 được đánh giá là mẫu xe tăng ưu việt nhất vào thời đó,vượt trội hơn hẳn so với các loại xe tăng cuả phương Tây cùng thời như M60A3 Patton cua Mỹ, Leopard 1 cuả Tây Đức hay Chieftain cuả Anh.

    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Loại: Xe tăng chiến đấu chủ lực
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 41 tấn với T72
    41,5 tấn với T-72M
    49,1 tấn với T-72B
    Dài:6,9m
    Rộng:3,6m
    Cao: 2,2m
    Tổ lái: 3 người
    Giáp Composite
    Vũ khí: Súng chính 125mm loại 2A46M nòng trơn
    T-72B có thể bắn tên lưả chống tăng AT-11 Svir qua nòng pháo
    1 đại liên 12,7mm trên tháp pháo loại NSV hay DKSh
    1 đại liên đồng trục7,62mm
    Động cơ :V-46-6 12-cylinder diesel với T-72 "Ural"
    V-84 12-cyl. diesel làm mát bằng ko khí với T-72B and T-72S
    Công suất 780 mã lực với T-72 và 840mã lực với T-72B
    Sức kéo: 19,1 mã lực/tấn với T-72 và 20,5 mã lực/tấn với T-72B
    Tầm hoạt động: 450km tới 460km, 600km tới 900km với bình dầu phụ tuỳ theo phiên bản
    Tốc độ: 60km/h trên đường nhưạ và 45km/h trên đường gồ ghề



    Xe tăng lội nước BMP-1



    Bronevaya Maschina Piekhota (BMP-1) được sản xuất lần đầu vaò đầu những năm 1960 và ra mắt vào năm 1967 tại cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ. BMP-1 đánh dấu 1 sự thay đổi quan trọng từ khái niệm xe bọc thép (Armored Personnel Carrier) thành Xe chiến đấu bộ binh(chiến xa bộ binh) , phối hợp giưã tính cơ động cao, vũ khí chống tăng hiệu quả và giáp bảo vệ nhằm mục đích vận chuyển bộ binh.BMP-1 có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với các loại xe bọc thép(APC) cuả phương Tây nhưng trang bị hoả lực lại mạnh hơn. BMP-1 được cách tân cho phép lính bộ binh có thể bắn bằng vũ khí cá nhân cuả họ từ bên trong xe tăng qua các lỗ châu mai , điều này sẽ giúp họ có thể chiến đấu từ bên trong xe với giáp bảo vệ an toàn.Để làm được điều này, các lỗ châu mai và kính tiềm vọng đều được thiết kế cho từng binh sĩ trong xe. BMP-1 trở thành Chiến xa bộ binh đầu tiên trên thế giới, nó có thể chở theo bộ binh từ 3 đến 8 người.BMP-1 thay thế các xe thiết giáp BTR-50P và bổ sung cho các xe thiết giáp BTR-60PB trong những đơn vị bộ binh cơ giới chủ lực.
    Sự phối hợp giữa hoả lực chống tăng hiệu quả, độ cơ động cao, giáp bảo vệ tương xứng, BMP-1 đã trở thành 1 thứ vũ khí lợi hại cho bộ binh Liên Xô.Được thiết kế để đáp ứng nhu cầu tấn công nhanh trong thời đại chiến tranh hạt nhân, súng chính 73mm loại 2A20 với 40 viên, bắn đạn HEAT có liều phóng hỗ trợ(loại đản mà RPG-7 sử dụng) có tầm bắn tối đa 7000 ft, tầm bắn hiệu quả cuả nó khoảng 800m( có thể tiêu diệt xe tăng ở khoan3g cách tới 1300m) và đượ ctrang bị hệ thống nạp đạn tự động.Hệ thống vũ khí chính cuả BMP-1 cũng khác thường, có thể bắn chung loại đạn cuả súng chống tăng RPG-7 , bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger gắn trên súng chính để tăng thêm khả năng diệt tăng (tới 3000m)
    BMP-1 có đầy đủ tính năng cuả 1 Xe chiến đấu bộ binh lội nước, với thân xe thấp, mũi xe nghiêng như mũi thuyền.Tháp pháp hình chóp cụt đặt ở giưã thân xe được gắn 1 súng chính 73mm nòng trơn và 1 đại liên7,62mm đồng trục và 1 bệ phóng tên lưả chống tăng AT-3 Sagger ngay phiá trên súng chính. Động cơ 6 xi-lanh Diesel làm mát bằng nước có công suất 290 mã lực đặt ở bên phải trước thân xe.Cưả dành cho lái xe nằm ở bên trái thân trước, đèn nhìn đêm IR gắn ở trên nóc tháp pháo,phiá trước cưả dành cho xa trưởng. Phiá sau thân xe có 4 cưả nhỏ ở trên sàn khoang chở lính và có 2 cưả ra vào lớn ở sau đuôi xe.Có 4 lỗ châu mai ở mỗi bên sườn cuả khoang chở lính và 1 lỗ ở cưả ra vaò bên trái.BMP-1 chạy bằng xích, có 6 bánh dẫn động giống như PT-76 nhưng có thêm 3 bánh hồi chuyển.BMP-1 có khả năng lội nước bằng xích cuả nó thay vì lội bằng hệ thống đẩy phản lực nước như ở PT-76 , có tốc độ và tầm hoạt động cần thiết để bắt kịp các loại xe tăng tốc độ nhanh mà nó đi theo trong đội hình tấn công.



    Tổ lái cuả BMP-1 gồm 3 người , bao gồm cả xa trưởng, người mà sẽ trở thành chỉ huy nhóm bộ binh tác chiến khi họ rời khỏi xe.Với các lỗ châu mai và kính tiềm vọng ở 2 bên sườn xe, lính bộ bin h ngôì trong xe có thể bắn bằng các loại vũ khí cá nhân như AK, trung liên PKM ngay cả trong khi di chuyễn, thậm chí cả súng chống tăng RPG-7,RPG-16 và cả tên lưả vác vai SA-7, điều naỳ khiến cho BMP-1 gần như là 1 lô cốt di động. Xe có hệ thống bảo vệ NBC cho tổ lái và lính bộ binh, giúp họ tác chiến mà ko bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài.
    BMP-1 được trang bị đèn hồng ngọai, tiềm vọng kính và thiết bị ngắm hồng ngoại để tác chiến ban đêm.BMP-1 có tính năng tạo khói mù bằng cách phun nhiên liệu diesel vào buồng thải khói.
    Tuy nhiên, tính chất dễ bị tổn thương cuả BMP-1 thể hiện qua cuộc chiến tranh ở Trung Đông năm 1973 đã gây ra nhiều tranh cãi trong quân đội Liên Xô về vấn đề :" BMP-1 nên được sử dụng như thế nào trong trận chiến?". BMP-1 có giáp bảo vệ tương đối mỏng( dày nhất 19mm ở thân xe và 23mm ở tháp pháo) có thể đủ sức bảo vệ xe trước đạn xuyên giáp chống cơ giới cỡ 12,7mm ( chỉ với chỗ giáp có độ nghiêng trên 60 độ) nhưng BMP-1 lại dễ bị tổn thương trước tên lưả chống tăng và hoả lực xe tăng cuả đối phương. Sự bố trí cuả các vị trí nguy hiểm như buồng đạn, buồng nhiên liệu , khoang động cơ hay khoang chở lính đều ko an toàn trước sự xuyên phá cuả vũ khí chống tăng.
    Vì thiết kế giới hạn trong việc hạ thấp súng chính nên BMP-1 khó khăn khi bắn tiả từ vị trí cao mà phải lộ toàn thân ra để chiến đấu, điều này làm BMP-1 dễ dàng trở thành mục tiêu nhắm bắn cuả đối phương.
    BMP-1 có thể đạn đến vận tốc tối đa cuả nó là 70km/h nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn do độ dằn xóc quá cao và hệ thống truyền động ko thể đáp ứng được.Do hệ thống nạp đạn tự động quá phức tạp và thiếu ổn định nên BMP-1 ko thể bắn khi đang chạy trên điạ hình gồ ghề. BMP-1 phải đứng yên khi bắn tên lưả AT-3 Sagger, AT-3 Sagger rất khó nạp đạn và hoàn toan2 ko thể nạp đạn trong tình trạng bảo vệ NBC.
    Nhìn chung BMP-1 là xe chiến đấu bộ binh đầu tiên nên nó vẫn còn 1 số khuyết điểm và vẫn thưà hưởng những hạn chế cuả dòng tăng Liên Xô, tuy nhiên nó vẫn là 1 thứ vũ khí đáng tin cậy cua bộ binh trên chiến trường và được rất nhiều quốc gia sử dụng.Tham gia nhiều cuộc chiến tranh:
    1973 CHiến tranh Yom Kippur( Israel+ các nước Ả Rập)
    1975-2000 Nội chiến Angola
    1979-1988 Chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan
    1980-1988 Chiến tranh Iran-Iraq
    1990-1991 Chiến tranh vùng Vịnh
    1991-2001 chiến tranh Nam Tư
    1994-1996 Chiến tranh Chechen lần 1
    1999- Chiến tranh Chechen lần 2
    2001- Chiến tranh cuả Mỹ tại Afghanistan
    2003- Chiến tranh Iraq
    Hiện nay Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 300 chiếc BMP-1



    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Loại: Xe chiến đấu bộ binh
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng 13.5 tấn
    14.7 tấn với BMP-1P
    Dài: 6.74m
    Rộng: 2.94 m
    Cao: 2.15 m
    Tổ lái: 3 (Xa trưởng, lái xe, xạ thủ) (+8 lính bộ binh)
    Giáp: Dày nhất 19mm ở thân xe và 23-40mm ở tháp pháo
    Vũ khí:Súng chính73 mm 2A28 Grom nòng trơn (40 viên)
    Đại liên đồng trục 7,62mm
    Tên lưả chống tăng 9M14 Malyutka (AT-3 Sagger) BMP-1
    9M111 Fagot (AT-4 Spigot) , 9M111-2 Fagot (AT-4B Spigot B) ,9M113 Konkurs (AT-5 Spandrel) tuỳ theo phiên bản
    Động cơ:UTD-20 6-xilanh diesel làm mát bằng nước
    290-300 mã lực
    Tầm hoạt động:600km
    TỐc độ: 65-70km/h trên đường nhưạ
    45km/h trên đường gồ ghề
    7km/h dưới nước


    Bệ phóng tên lửa chống tăng AT-3 trên nòng pháo của BMP-1

    Xe tăng chiến đấu bộ binh BMP-2



    Xe chiến đấu bộ binh BMP-2 được đưa vào sử dụng vào những năm 1980, là mẫu cải tiến cuả BMP-1 với những thay đổi về vũ khí chính. Tháp pháo mới 2 người được thay thế cho tháp pháo 1 người cuả BMP-1, súng chính 30mm nòng dài, nhỏ , tốc độ cao có thể dùng để chống lại máy bay, trực thăng và bộ binh, bệ phóng tên lưả chống tăng gắn trên tháp pháo có thể lắp các loại tên lưả chống tăng như AT-4 SPIGOT hoặc AT-5 SPANDREL. Với tháp pháo được thiết kế rộng hơn, số lượng cưả quan sát cho lính bộ binh giảm xuống còn 2 cưả thay vì 4 cưả ở BMP-1, và số lính bộ binh chở theo giảm đi 1 người( còn 7 người).Mỗi bên sườn xe ở vị trí khoang chở lính có 3 lỗ châu mai và tiềm vọng kính.
    BMP-2 có khả năng lội nước như BMP-1, xích cuả nó được cải tiến so với BMP-1 để tăng khả năng nổi trên mặt nước. BMP-2 có thể trang bị giáp nổ cảm ứng ERA nhưng ERA lại gây nguy hiểm cho bộ binh tùng thiết nên giáp bảo vệ thụ động thích hợp hơn còn ERA thì ko được tin cậy, hơn nưã khi lội nước mà gắn thêm giáp làm trọng lượng xe nặng thêm thì ko phù hợp.BMP-2 có thêm 1 số cải tiến về bộ phận điều hoà ko khí và động cơ mạnh hơn BMP-1.Tháp pháo được thiết kế rộng hơn và có 2 cưả quan sát cho 2 người, như vậy sẽ có 1 người điều khiển súng chính 30mm loại 2A72 và 1 người sử dụng tên lưả chống tăng, tránh được việc 1 người làm 2 việc cùng lúc.Bệ phóng tên lưả chống tăng Kornet được trang bị thiết bị ngắm hồng ngoại, gồm 1 tên lưả trên bệ phóng và 4 tên lưả dự trữ, cơ chế nạp đạn bằng tay.Loaị tên lưả sử dụng có thể là AT-4,AT-4B hoặc AT-5,AT-5B, ngoài ra BMP-2 có thể sử dụng các loại tên lưả Milan,Milan-2,Milan-3. Thiết bị định hình mục tiêu cho tên lưả bằng hồng ngoại loại Trakt/1PN65 cuả Nga được trang bị cho BMP-2 có tầm định vị khoảng 2500m.Loại Mulat/1PN86 cuả Nga có thể đạt tới 3600m.



    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Loại: Xe chiến đấu bộ binh
    Nước sản xuất: Liên Xô
    Nặng: 14.3 tonnes
    Dài: 6.72 m
    Rộng: 3.15 m
    Cao: 2.45 m
    Tổ lái: 3 người + 7 lính bộ binh
    Giáp: Dày nhất 33mm
    Vũ khí: Súng chính 30mm loại 2A42
    Tên lưả chống tăng AT-4 hoặc AT-5
    1 đại liên đồng trục 7,62mm
    Động cơ: UTD-20/3 Diesel 300 mã lực
    Tầm hoạt động: 600km
    Vận tốc: 65km/h trên đường nhưạ
    45km/h trên đường gồ ghề



    Xe bọc thép BTR-50



    Xe thiết giáp BTR-50 là loại xe thiết giáp lội nước cuả quân đội Liên Xô được thiết kế dưạ trên mẫu chassic cuả PT-76, BTR-50 chạy bằng xích thay vì chạy bằng bánh cao su như các mẫu BTR khác.BTR-50 được phát triển vào năm 1952 và đưa vào phục vụ quân đội Liên Xô năm 1954.
    Giống như PT-76, BTR-50 có thân xe được thiết kế có mũi nghiêng giống như mũi thuyền, có thể lội nước bằng 2 ống đẩy thuỷ lực đặt ở 2 bên sườn xe , 2 cưả ra vào đặt ở sau đuôi xe có các van bịt có thể đóng kín hoàn toàn hoặc ko hoàn toàn , dẫn nước bị tràn vaò xe thoát qua các cưả thoát ở 2 bên sườn xe, để phòng khi xe chạy lùi khi đang nổi trên mặt nước.
    Xe thiết giáp BTR-50 được trang bị cho các trung đoàn bộ binh cơ giới thuộc các sư đoàn tăng thiết giáp cuả quân đội Liên Xô và Đông Đức. Mẫu xe chỉ huy được các nước khối Hiệp ước Warsaw sử dụng. Phần Lan cũng sử dụng BTR-50 như 1 loại xe cơ giới liên lạc, được lắp đặt các hệ thống liên lạc kỹ thuật số hiện đại nhất.BTR-50 còn được trang bị cho các nước Ai Cập,Syria trong chiến tranh 6 ngày, rất nhiều xe BTR-50 bị Isreal lấy lam2 chiến lợi phẩm và được phiên chế vào quân đội. Sau này 1 số xe BTR-50 cuả Isreal còn được chuyển qua cho quân đội Libăng.



    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Loại: Xe thiết giáp lội nước
    Nước sản xuất:Liên Xô
    Nặng: 14.5 tấn
    Dài: 7.07 m
    Rộng: 3.14 m
    Cao: 2.03 m
    Tổ lái: 2 người+20 lính bộ binh
    Giáp: 6-13 mm
    Vũ khí chính: 1 đại liên 7,62mm hay 12,7mm
    Động cơ: V-6 diesel
    240 mã lực (177 kW)
    Tầm hoạt động: 240 km
    Tốc độ: 44 km/h

    nguồn: http://a1club.vnbb.com/viewtopic.php...&sd=a&start=15
    "Mưu sự tại nhân, hành sự tại nhân". Thiên = trời = mây + không khí = bầu khí quyển. Không thể "mưu sự tại thiên" vì "thiên" vô tri vô giác

  8. #8
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    42
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Rep Power
    64
    Xe bọc thép BTR-40



    Xe bọc thép BTR-40 là loại xe thiết giáp chở lính và trinh sát cuả quân đội Liên Xô,phát triển bởi V. A. Dedkov, được thiết kế dưạ trên mẫu BTR-141 trong thế chiến thứ 2 và được sản xuất tại hãng Gorkovsky Avtomobilny Zavod từ 1950 tới 1958. Xe có 2 cưả hông dành cho xa trưởng và lái xe và 1 cưả sau ở đuôi khoang chở lính có thể chở 8 binh sĩ. BTR-40 được sử dụng làm xe bọ thép chở lính, trinh sát, tuần tra và công tác chỉ huy.Nó ko có hệ thống bảo vệ NBC và thiết bị nhìn đêm.Hiện nay loại VN đang sử dụng là BTR-40A, có vũ trang 1 súng phòng không KPV 14,5mm nòng đôi và được sử dụng như xe phòng không

    Loại: Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 5.3 tấn
    Dài: 5 m
    Rộng: 1.9 m
    Cao: 1.83 m
    Tổ lái: 2 người + 8 lính
    Giáp: 6-8 mm
    Vũ khí: 3 súng máy 7.62 mm

    Động cơ: GAZ-40
    78 mã lực (58 kW)
    Tầm hoạt động: 285 km
    TỐc độ: 80 km/h



    Xe bọc thép BTR-152



    Xe bọc thép BTR-152 là loại xe thiết giáp chở quân chạy bằng bánh cuả Liên Xô được sản xuất vaò những năm 1950.Cấu trúc thân xe là cấu trúc hàn, động cơ và bộ phận điểu khiển vận hành đặt ở trước xe.Tổ lái gồm Laí xe, phụ lái và có khoang chở 17 lính ở sau xe.Xe chạy bằng 6 bánh cao su,lốp xe có bộ phận giảm xóc để giúp tổ lái ko bị mệt moỉ khi chạy trên điạ hình xấu, vũ khí chính là 1 súng máy 7,62mm nhưng tuỳ theo phiên bản, nó còn được trang bị súng phòng không 14,5mm và 23mm.Mẫu BTR-152 V3 được trang bị cả đèn hồng ngoại nhìn đêm . Xe có các cưả quan sát giúp cho binh lính có thể chiên đấu từ trong xe.BTR-152 chấm dứt sản xuất vào năm 1960 và sau đó được thay thế bằng BTR-60 nhưng nó vẫn được nhiều nước trên thế giới sử dụng.


    BTR-152 với súng phòng không 20mm


    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Loại:Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 9.91 tấn
    Dài: 6.83 m
    Rộng: 2.32 m
    Cao: 2.36 m
    Tổ lái 2 người (+17 lính)
    Giáp: 4–15 mm
    Vũ khí: 2 Súng máy 7.62mm hoặc 1 súng máy 12.7mm +1 súng 7,62mm
    Động cơ: ZIS-123 6 cylinder Xăng làm mát bằng nước 110 mã lực

    Tầm hoạt động: 650 km
    Tốc độ: 65 km/h


    Xe bọc thép BTR-60



    Xe bọc thép BTR-60 là mẫu thiết giáp chạy bằng 8 bánh đầu tiên cuả Liên Xô, được phát triển vào cuối những năm 1950 để thay thế xe bọc thép BTR-152 và được ra mắt vaò năm 1961.Nó liên tục được cải tiến và mẫu cải tiến cuối cùng là BTR-60PB, sau cùng được thay thế bởi mẫu BTR-70. Về số lượng thì BTR-60 là xe bọ thép có vai trò quan trọng nhất trong quân đội Liên Xô.BTR-60 được xuất khẩu với số lượng lớn sang các nước Đông Đức, Bulgaria và Romania. BTR-60 là loại xe thiết giáp chủ lực cuả lực lượng Hải quân đánh bộ Liên Xô.
    BTR-60PB thể hiện tính năng di chuyển tốt trên đường gồ ghề.Hình dạng thân xe giống như mũi thuyền với 2 bên sườn xe nghiêng giúp xe có khả nặng lội nước tốt và làm chệch hướng bắn cuả đầu đạn đối phương.BTR-60PB còn có thiết bị nhìn đêm hồng ngoại cung cấp khả năng tác chiến ban đêm.
    Xe chạy bằng 8 bánh cao su,thân xe được kết cấu bằng thép hàn với hình dạng hình thân thuyền, giáp bọc 2 bên sườn xe , mũi xe đều có độ nghiêng.Vị trí cuả Tổ lái được bố trí ở phần đầu xe, khoang chở lính bố trí ở giữa thân xe còn Khoang động cơ bố trí ở sau đuôi xe. Khoang chở lính được bao bọc kín bởi giáp trên nóc xe và có 1 tháp pháo nhỏ 1 người, cùng loại với tháp pháo gắn trên xe BRDM-2, trên tháo pháo có gắn 1 súng phòng không 14,5mm KPV và 1 đại liên đồng trục 7,62mm bên phải và kính tiềm vọng gắn bên trái tháp pháo.Tổ lái sử dụng 2 cưả trên thân xe nằm trước tháp pháo, còn 2 cưả sau tháp pháo dành cho lính bộ binh.Mỗi bên sườn xe có đặt 3 lỗ châu mai để bộ binh chiến đấu từ trong xe.



    Lốp xe có bộ phận giảm xóc và được viền cao su.4 bánh đầu là bánhh truyền động và định hướng.Thiết bị truyền động là 1 cặp động cơ 6 xilanh chạy bằng khí đốt đặt ở sau thân xe. Trục xe thứ 1 và thứ 3 được truyền động bởi động cơ bên phải, trục thứ 2 và thứ 4 được truyền động bởi động cơ bên trái. BTR-60 có khả năng lội nước bằng 2 ống đẫy thuỷ lực đặt sau đuôi xe.
    Mặc dù BTR-60 có giáp dày hơn các loại xe thiết giáp thông thường khác nhưng lại rất dễ bị tổn thương bởi đạn HE(High Explosive) cũng như vũ khí cá nhân, lốp xe cũng rất dễ bị thủng bởi đạn súng bộ binh.Các thiết bị bọc giáp mỏng cuả xe(bình nhiên liệu, đèn...) rât1 dễ bị phá huỷ trước sức công phá cuả pháo mặt đất.Hơn njưã sự bố trí các cưả ra vào và cưả quan sát làm bộ binh rất dễ bị tổn thương trước đạn cuả quân địch.
    BTR-60 được sử dụng trong các cuộc chiến tranh Yom Kippur War năm 1971 giưã Israel và các nước Ả Rập, chiến tranh Ấn Độ-Pakistan ,chiến tranh cuả Liên Xô tại Afghanistan, chiến tranh Checchen..
    Hiện nay quân đội VN có khoảng 400 xe BTR-60 và nó là xe bọc thép chủ lực cuả lực lượng Hải quân đánh bộ VN.


    Hải quân đánh bộ VN tập trận đổ bộ

    THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Loại: Xe thiết giáp chạy bằng bánh hơi
    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 10.1 tấn (BTR-60P)
    11.1 tấn (BTR-60PA)
    11.4 tấn (BTR-60PB)
    Dài: 7.56 m
    Rộng: 2.825 m
    Cao: 2.06 m
    2.31 m (BTR-60PAI, BTR-60PB, BTR-60PBK và BTR-60PZ)
    Tổ lái: 2 + 16 lính (BTR-60P)
    2 + 14 lính (BTR-60PA)
    3 + 14 lính (BTR-60PAI , BTR-60PB và BTR-60PZ)
    Giáp: Dày nhất 9mm ở thân xe
    7mm ở tháp pháo
    Vũ khí: 1 đại liên 12,7mm hoặc 14,5mm trên tháp pháo+ 2 súng 7,62mm
    Động cơ: 2 động cơ6-cyl. khí đốt GAZ-49 từ 94 mã lực đến 115 mã lực tuỳ phiên bản
    Tầm hoạt động: 500km
    Tốc độ:80km/h trên cạn
    10km/h dưới nước


    Tên lửa đạn đạo lớp Scud

    Tên lửa đạn đạo tầm ngắn ( SRBM : Short-Range Ballistic Missile ) :
    _ Hiện Việt Nam đã chế tạo được 100% loại Scud-B tầm bắn tối đa 300km
    _ Scud-C 550km hiện gần như tự làm được, chỉ phải nhập khẩu từ Nga 1 số linh kiện quan trọng
    _Scud-D tầm bắn 820-950km, phiên bản cải tiến từ Scud-D theo công thức của Nga, nửa làm nửa nhập.
    _ Việt Nam là 1 trong 17 nước trên thế giới có và tự sản xuất được SRBM lớp Scud của Nga.



    Đây là chiếc nước mình tự làm 100%, Scud-B 300km đây



    Thêm cái nữa nha, con C 550km



    Cái này là Scud-D 820-950km nhà mình bắn thử từ Hải Dương vào Huế



    Hiện tại Scud của Việt Nam vẫn còn đang là bí mật quân sự nên chưa có thông số chính xác, mong các bạn thông cảm nhé

    Tên lửa phòng không tầm ngắn SAM II



    Tên lửa phòng không tầm ngắn SAM II, Mỹ gọi là SA-2, được hoàn thiện vào năm 1959, năm 1960 SA-2 đã lập công khi bắn rơi máy bay do thám U-2 của Mỹ. Năm 1962, cùng với SS-4 nó được triển khai tại Cuba và góp phần vào vụ khủng hoảng bằng cách bắn rơi tiếp một U-2 nữa. Gần đây một bí mật đã được tiết lộ, quả SA-2 bắn rơi chiếc U-2 là do những quân nhân Liên Xô điều khiển (trước đó LX đổ cho Cuba và Cuba không phủ nhận). Năm 1964, SA-2 đến VN và thêm vào bảng thành tích của nó những chiến công lừng lẫy đã khiến cho nó trở thành loại tên lửa phòng không đạt hiệu quả chiến đấu cao nhất từ trước tới nay.

    Trong quá trình phục vụ của nó, SA-2 đã được triển khai tại hầu hết các thành phố, điểm dân cư có trên 200.000 dân của Liên Xô. Nó còn được coi là chiếc ô che chở bầu trời cho tất cả các nước thuộc khối Warsaw, đặc biệt là tại Đông Đức.



    SA-2 có các biến thể A/B/C/D/E/F, trong đó SA-2E là loại có đầu đạn hạt nhân với đương lượng nổ tương đương 15KT (kiloton). Nó được lắp đầu đạn hạt nhân không phải để phóng vào đất đối phương như các loại tên lửa đất- đối- đất mà nhằm mục đích tạo ra một vụ nổ hạt nhân trên không tiêu diệt một phi đội lớn máy bay ném bom chiến lược (được giả định là của Mỹ). Người Nga quên không tính đến tác hại của trận mưa phóng xạ nếu SA-2E nổ trên đất của họ.

    Đến giờ SA-2 vẫn còn trong biên chế của Quân đội nhiều nước dù Nga đã loại nó từ lâu. SA-2 có nhược điểm là dùng thuốc phóng lỏng gồm hai chất riêng biệt mà trong nghành thường gọi là chất "O" và chất "Gh" những chất này cực kỳ độc hại và thường xuyên phải thay thế, tăng hạn mới có thể trực chiến lâu dài được. Một điểm yếu nữa là radar FAN SONG và SPOON của nó rất dễ bị vô hiệu hóa khi gặp nhiễu. Hồi 1972, radar của SA-2 VN cũng từng bị vô hiệu bởi nhiễu tích cực, tiêu cực của Mỹ và người VN vốn thông minh đã đem radar dành cho pháo cao xạ của TQ loại K.860 phối hợp với tên lửa SA-2 Nga làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không".


    SAM II và pháo phòng không trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không

    Thông số kỹ thuật
    Dài : 10,6m.
    Đường kính : 0,7m.
    Nặng : 2300kg.
    Đầu đạn : 200kg HE.
    Tầm bắn : 7 - 50km.
    Bán kính tiêu diệt mục tiêu : 65m

    Tên lửa phòng không tầm ngắn SAM III


    SAM III bảo vệ vùng trời Hạ Long

    SAM III là loại tên lửa được phát triển từ SAM II, Mỹ gọi là SA-3. Nó đã khắc phục được nhược điểm của SAM II là sử dụng nhiên liệu lỏng bằng cách chuyển sang dùng nhiên liệu rắn. Nó lại gọn nhẹ hơn nên dễ cơ động và có từ 2 hoặc 4 rãnh dẫn hướng nên nâng cao được khả năng tác chiến của một khẩu đội tên lửa (theo tính toán thì 1 mục tiêu cần dùng tới 3 quả đạn tên lửa mới đạt hiệu suất tiêu diệt cao). SA-3B là loại tên lửa đa dụng, ngoài khả năng phòng không còn có thể tiêu diệt các mục tiêu mặt đất và tàu chiến. Người Nga đã đưa SA-3 vào sản xuất hàng loạt từ 1961, nhưng SA-3 đến VN rất muộn (sau 1972). Sau này (1980), Nga lại viện trợ cho VN một số tiểu đoàn S-125 M Neva, loại này đã được cải tiến có 4 rãnh dẫn hướng và giảm bớt các thiết bị phụ trợ, giảm thời gian thao tác.



    Thông số kỹ thuật:
    Dài 6,7m.
    Đường kính : 0,6m.
    Nặng : 400kg.
    Tầm bắn : 6 - 25km.
    Bán kính tiêu diệt mục tiêu : 12,5m.


    SAM III cơ giới hóa (VN chưa có)

    nguồn: http://a1club.vnbb.com/viewtopic.php...&sd=a&start=30
    "Mưu sự tại nhân, hành sự tại nhân". Thiên = trời = mây + không khí = bầu khí quyển. Không thể "mưu sự tại thiên" vì "thiên" vô tri vô giác

  9. #9
    Join Date
    Jun 2009
    Posts
    42
    Thanks
    0
    Thanked 1 Time in 1 Post
    Rep Power
    64
    típ thêm 1 bài về máy bay đây

    Máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm


    Máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm với những đặc trưng công nghệ mới sẽ trở thành trụ cột của không quân các cường quốc quân sự trong những thập niên tới của thế kỷ XXI.

    Cuộc đua phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm được bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ XX với mẫu máy bay chiến đấu đầu tiên F-22 Raptor của Mỹ được đưa ra thử nghiệm. Chỉ sau đó ít lâu, Nga cũng cho cất cánh chiếc máy bay hiện đại của hãng Sukhoi Su-47 Berkut. Từ đó, các chương trình chế tạo mới hay cải tiến, nâng cấp máy bay theo tiêu chuẩn công nghệ của máy bay thế hệ thứ năm liên tục được triển khai, gây được sự chú ý sâu sắc của không quân các nước.

    Trên thực tế, máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm là sự chuyển tiếp từ thế hệ bốn và chưa có tiêu chuẩn phân biệt rõ rệt. Có nhiều loại máy bay phát triển mới hay cải tiến, nâng cấp như Su-30MKI, Su-35, Mig-31 (Nga), F-16, F-18, F-22 (Mỹ), Mirage-2000 (Pháp), JAS-39 Gripen (Thụy Điển)... được xem là những máy bay có nhiều đặc trưng công nghệ của thế hệ thứ năm, nhưng tính năng kỹ thuật, chiến thuật là của máy bay thế hệ thứ tư. Các nhà thiết kế, chế tạo vũ khí, khí tài hàng không gọi những kiểu loại máy bay tiên tiến, hiện đại kể trên là thế hệ máy bay chuyển tiếp thế hệ thứ 4+ và 4++ , thậm chí 4+++. Gần đây, các nước Nga, Mỹ và một số nước ở châu Âu đã công bố những chương trình nghiên cứu phát triển máy bay hiện đại, mang đầy đủ tính năng của máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm. Điển hình là chương trình phát triển hệ thống máy bay chiến đấu tiên tiến (JSF) với các mẫu máy bay F-35, F-35A của Mỹ. Nga đưa ra chương trình máy bay chiến đấu tiên tiến MFI với máy bay Mig-35 hay chương trình PAK-FA với các mẫu máy bay Su-37, Su-39, Su-41 và phiên bản mới Su-47 Berkut; các nước châu Âu có các mẫu máy bay Rafale, Rafale-M, Mirage-2000-5 (Pháp); Eurofighter (Liên doanh châu Âu)... Mỗi loại máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm đều có những ưu thế riêng về tính năng kỹ thuật, chiến thuật và hiệu suất chiến đấu, song chúng đều có chung những đặc trưng công nghệ nổi bật.

    Máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm rất đa năng, tính ổn định cao trong khi bay, kiểm soát tốt các góc độ tiến công và tiến công chính xác mục tiêu. Máy bay được thiết kế hoàn hảo, ứng dụng kỹ thuật điện tử hàng không tiên tiến vào kiểm soát quá trình bay, dẫn đường, điều khiển vũ khí và có khả năng đối phó điện tử tự động. Các hệ thống xử lý và trao đổi dữ liệu trên máy bay tiên tiến, bảo đảm cập nhật thông tin đồng thời từ trên không và mặt đất để phục vụ cho tác chiến. Các máy bay chiến đấu thế hệ 5 ứng dụng ra-đa mạng pha công suất lớn, đa chế độ, có khả năng phát hiện, bám đồng thời 24 mục tiêu và giao chiến với 8 mục tiêu cùng lúc. Nga sử dụng các ra-đa mạng pha quét điện tử Zhuk-PH cho máy bay Mig-35; ra-đa N011M cho máy bay Su-37. Mỹ lắp ra-đa mạng pha chủ động AN/APG-79 cho các máy bay của chương trình JSF, trong đó có F-35. Các ra-đa mạng pha có ưu điểm bảo mật tốt và độ chính xác hoạt động cao.


    Mang được nhiều loại vũ khí và khả năng cơ động với vận tốc cao là đặc trưng điển hình của máy bay thế hệ thứ năm. Ngoài pháo, bom có điều khiển, còn có rất nhiều loại tên lửa trang bị cho máy bay như tên lửa không đối không, không đối đất ở nhiều tầm hoạt động khác nhau; nhiều loại máy bay còn trang bị tên lửa hành trình. Máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm có tính năng siêu cơ động do được lắp các động cơ tiên tiến, ứng dụng kỹ thuật lực đẩy véc-tơ dòng thẳng. Mỹ và các nước châu Âu đã chi hơn 20 tỷ USD cho chương trình máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm F-35, trong đó ngân sách cho nghiên cứu phát triển động cơ mới lên tới hơn 1 tỷ USD. Nga đã phát triển động cơ Saturn AL-37FU kiểu buồng đốt kiệt, luồng phụt chuyển hướng giúp máy bay có thể bay với tốc độ hành trình siêu âm. Các máy bay F-22 Raptor, F-35 và Su-37 lắp hệ thống điều khiển chuyển lực đẩy nên cho phép máy bay thực hiện các kiểu cơ động phức tạp với tốc độ siêu âm, cận âm.

    Kỹ thuật tàng hình được chú ý ứng dụng cho máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm. Để bảo đảm khả năng cơ động, tính linh hoạt tác chiến, phần lớn máy bay hiện đại của Nga ứng dụng công nghệ plasma để cải tiến thiết bị điện tử, phủ lên các lớp vật liệu kim loại và polyme để ngăn cản sóng vô tuyến và nhiệt. Nhờ ứng dụng công nghệ mới, các hệ thống điện tử của máy bay làm việc ổn định trong mọi môi trường tác chiến, có khả năng lẩn tránh và bám địa hình. Viện ITAE (Nga) còn phát triển loại vật liệu RAM phủ lên bề mặt các đường ống dẫn khí, bề mặt phía trước của máy bay, nhờ đó giảm được diện tích phản xạ radar. Không quân Mỹ cũng chú ý đến việc ứng dụng công nghệ tàng hình bằng vật liệu che phủ, bởi nếu tàng hình theo kết cấu sẽ rất khó khăn, không đáp ứng được yêu cầu chiến đấu của máy bay hiện đại.

    (Copy từ nguồn báo Quân đội Nhân dân)


    Máy bay F-117 Night Hawk (ó đêm)


    Máy bay ném bom tầm xa chiến lược B-2

    Máy bay F-22 Raptor (chim săn mồi)


    Máy bay F-35 Lightning II (Ánh sáng)


    Sukhoi Su-47 Berkut



    TU - 160


    TU-160 được giới quân sự phương Tây mệnh danh là "chiếc dùi cui". Đây là mẫu chiến đấu cơ đa năng, được thiết kế để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.




    TU-160 được giới quân sự phương Tây mệnh danh là "chiếc dùi cui". Đây là mẫu chiến đấu cơ đa năng, được thiết kế để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau. Loại máy bay chiến lược này của Nga đã gây chú ý dư luận sau vụ tai nạn hôm 18/9/2003.

    Sức mạnh của TU-160 được thể hiện trong 2 khoang chứa vũ khí khổng lồ có thể mang các loại tên lửa hành trình chiến lược, tên lửa có hướng dẫn tầm ngắn, bom hạt nhân, bom thông thường, địa lôi và thuỷ lôi, với tổng trọng lượng tối đa 40 tấn. Máy bay ném bom hạng nặng này có khả năng thực hiện các chiến dịch tầm xa vì nó thể tiếp nhận dầu trên không bằng loại máy bay chuyên dụng do Nga chế tạo IL-78 hay ZMS-2.

    Thông số kỹ thuật của TU-160
    - Đội bay: 4 người.
    - Chiều dài: 54,1 m.
    - Chiều cao: 13,1 m.
    - Sải cánh: 55,7 m.
    - Diện tích bề mặt cánh: 400 m².
    - Trọng lượng tối đa: 275.000 kg.
    - Nhiên liệu tối đa: 171.000 kg.
    - Trần bay tác chiến: 15.000 m.
    - Tầm bay tác chiến: 14.000 km.
    - Tốc độ cất cánh: 270 km/h.
    - Tốc độ hạ cánh: 270 km/h
    - Tốc độ bay tối đa: 2.220 km/h.
    - Tốc độ tăng độ cao: 70 m/s.
    - Trọng lượng vũ khí tối đa: 40 tấn.


    Buồng lái Tu-160

    TU-160 được coi là đối trọng của máy bay ném bom Rockwell B-1A của Mỹ. Hãng Tupolev đã bắt đầu thiết kế mẫu máy bay này từ năm 1975 dưới sự lãnh đạo của V.I. Bliznuk. Ngày 19/12/1981 TU-160 tiến hành chuyến bay thử nghiệm đầu tiên.

    Năm 1985, Liên Xô quyết định cho sản xuất hàng loạt khoảng 100 chiếc TU-160, nhưng rút cục chỉ có 30 chiếc ra đời trước khi dây chuyền sản xuất nhận lệnh đóng cửa vào năm 1992.Theo nhiều chuyên gia về vũ khí, so với chiếc máy bay ném bom khét tiếng B-1A của Mỹ, TU-160 của Nga có kích thức lớn hơn nhiều và có một số tính năng vượt trội.

    Thủy Phi Cơ_Con Ma Biển Khơi

    Thủy Phi Cơ là một loại máy bay không dùng sân bay mà chỉ dùng mặt nước,nó rất được ưu chuộng cho Biển cả,nơi mà các phi cơ thường không hề "thích".Nó có thể bay và đậu trên mặt nước cũng như có thể di chuyển như tàu biển



    B52 - Đôi điều về máy bay danh tiếng xưa

    Chiếc Boeing B-52 Stratofortress (Pháo đài chiến lược) là máy bay ném bom chiến lược phản lực được Không quân Hoa Kỳ (USAF) sử dụng từ năm 1955, thay thế cho các kiểu Convair B-36 và Boeing B-47. Được chế tạo để mang vũ khí hạt nhân trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nó chỉ được dùng để thả các vũ khí quy ước trong các cuộc chiến tranh thực tế. Máy bay này là chiếc máy bay ném bom có tầm bay xa không cần tiếp nhiên liệu dài nhất, và mang được đến 27 tấn (60.000 lb) vũ khí.

    Không lực Mỹ bắt đầu đưa B-52 vào hoạt động năm 1955 trong các đơn vị thuộc Bộ chỉ huy Không quân Chiến lược, sau được sáp nhập vào Bộ chỉ huy Không quân năm 1991. Những tính năng bay xuất sắc ở tốc độ cận âm và chi phí vận hành tương đối rẻ đã duy trì chiếc B-52 trong phục vụ cho dù đã có những đề nghị để thay thế nó bằng kiểu máy bay siêu âm Mach 3 XB-70 Valkyrie, kiểu siêu âm B-1B Lancer, và kiểu tàng hình B-2 Spirit. Đến tháng 1 năm 2005, nó trở thành kiểu máy bay thứ hai, sau chiếc English Electric Canberra, đánh dấu 50 năm phục vụ liên tục trong một lực lượng quân sự từ đầu.

    Kiểu: Máy bay ném bom chiến lược
    Hãng sản xuất Boeing
    Chuyến bay đầu tiên 15 tháng 4 năm 1952
    Được giới thiệu tháng 2 năm 1955
    Tình trạng Đang hoạt động: 85[1]
    Dự bị: 9[1]
    Hãng sử dụng chính Không quân Hoa Kỳ
    Được chế tạo 1952 - 1962
    Số lượng được sản xuất 744
    Chi phí máy bay 14,43 triệu Đô la (B-52B)[2]
    9,28 triệu Đô la vào năm 1962 (B-52H)
    53,4 triệu Đô la vào năm 1998 (B-52H)


    Thiết kế và phát triển


    Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Không quân Hoa Kỳ công bố bản tiêu chuẩn tính năng kỹ thuật cho một chiếc máy bay ném bom chiến lược mới. Nó sẽ có một đội bay năm người cộng thêm các xạ thủ tháp súng và một nhân viên phi hành bổ sung. Nó phải đạt vận tốc bay đường trường 480 km/h (240 knot, 300 mph) ở độ cao 10.365 m (34.000 ft) và một bán kính chiến đấu 8.050 km (4.340 hải lý, 5.000 dặm). Vũ khí trang bị phải là một số (không xác định số lượng chính xác) pháo 20 mm và 4.535 kg (10.000 lb) bom.[2] Đến ngày 13 tháng 2 năm 1946, Không quân công bố việc mời thầu cho những tính năng này, và các hãng Boeing, Consolidated Aircraft, và Glenn L. Martin Company đã đưa ra các đề án.

    Ngày 5 tháng 6 năm 1946, chiếc Kiểu 462 xem bên phải của Boeing, một máy bay cánh thẳng lắp sáu động cơ turbo cánh quạt Wright T-35, trọng lượng 163.295 kg (360.000 lb) và bán kính chiến đấu 5.010 km (2.700 hải lý, 3.110 dặm), được công bố là máy bay thắng thầu.[2] Ngày 28 tháng 6 năm 1946, Boeing được ký hợp đồng trị giá 1,7 triệu Đô la (giá trị năm 1946, tương đương 17,5 triệu Đô la 2006) để chế tạo một mô hình mẫu kích thước thật của chiếc máy bay mới XB-52 để thực hiện các giải pháp kỹ thuật và thử nghiệm ban đầu. Tuy nhiên, đến tháng 10 năm 1946, Không lực bắt đầu nêu lên sự lo ngại về kích thước tuyệt đối của chiếc máy bay mới và khả năng không đáp ứng được các tiêu chuẩn đã đề ra. Để đáp ứng, Boeing đưa ra Kiểu 464, một phiên bản 4-động cơ nhỏ hơn, trọng lượng 104.325 kg (230.000 lb), được tin tưởng trong một lúc ngắn là sẽ được chấp nhận.

    Rồi đến tháng tháng 11 năm 1946, Curtis LeMay (lúc đó đang là Tham mưu phó Nghiên cứu và Phát triển Không lực) nhấn mạnh đến yêu cầu phải có tốc độ bay đường trường 645 km/h (345 knot, 400 mph), nên Boeing đã đáp ứng bằng một kiểu máy bay nặng 136.080 kg (300.000 lb) aircraft. Tháng 12 năm 1946, Boeing được yêu cầu thay đổi thiết kế trở thành một máy bay ném bom 4-động cơ có tốc độ tối đa 400 mph, tầm bay xa 19.320 km (10.430 hải lý, 12.000 dặm), và có khả năng mang vũ khí hạt nhân. Chiếc máy bay có thể nặng đến 217.725 kg (480.000 lb).Boeing đáp ứng bằng hai kiểu máy bay cùng gắn động cơ turbo cánh quạt T-35. Kiểu 464-16 là máy bay ném bom hạt nhân tải trọng bom 10.000 lb, trong khi Kiểu 464-17 là máy bay ném bom thông thường tải trọng bom được 40.825 kg (90.000 lb).

    Do vấn đề chi phí để trang bị hai kiểu máy bay chuyên biệt, Không lực chọn Kiểu 464-17 với thỏa thuận rằng nó có thể cải biến thành vai trò tấn công hạt nhân.[2] Khi các tính năng yêu cầu được cập nhật vào tháng 6 năm 1947, Kiểu 464-17 đáp ứng tất cả các đòi hỏi ngoại trừ tầm bay xa. Hơn nữa, toàn bộ chương trình bị phụ thuộc vào khả năng cung cấp động cơ T-35 của hãng Curtiss-Wright.

    Đến lúc đó thì đã rõ là, cho dù với những tính năng đã được cập nhật, chiếc XB-52 cũng sẽ trở nên lạc hậu vào lúc được đưa ra sản xuất, mà tính năng cũng chỉ nhỉnh hơn chiếc Convair B-36 mà thôi. Kết quả là, toàn bộ chương trình bị tạm dừng trong sáu tháng. Trong thời gian này, Boeing tiếp tục hoàn thiện thiết kế được tích lũy qua chiếc Kiểu 464-29 có tốc độ tối đa 730 km/h (395 knots, 455 mph) và tầm bay 5.000 dặm. Đến tháng 9 năm 1947, Ủy ban Ném bom Hạng nặng đã thu xếp để xác định các yêu cầu của một máy bay ném bom hạt nhân. Chính thức công bố ngày 8 tháng 12 năm 1947, nó yêu cầu một tốc độ tối đa 805 km/h (435 knot, 500 mph) và tầm bay 12.880 km (6.955 hải lý, 8.000 dặm), vượt xa những khả năng của 464-29. Đội bay được yêu cầu rút gọn còn 5 người và chỉ trang bị vũ khí tự vệ duy nhất là tháp súng đuôi.

    Việc hủy bỏ toàn bộ hợp đồng với Boeing vào tháng 12 năm 1947 được tạm ngưng sau lời kêu nài của Chủ tịch Boeing William McPherson Allen, và đến tháng 1 năm 1948 Boeing được lệnh khảo sát kỹ càng mọi tiến bộ kỹ thuật gần nhất, bao gồm tiếp nhiên liệu trên không và cánh bay. Nhận thức được những vấn đề về độ ổn định và điều khiển mà Northrop gặp phải với những kiểu cánh bay ném bom thử nghiệm YB-35 và YB-49, Boeing vẫn khăng khăng dựa trên cấu trúc một máy bay thông thường, và đến tháng 4 năm 1948 họ đề nghị một kiểu thiết kế mới, trị giá hợp đồng 30 triệu Đô la (năm 1948, tương đương với 250 triệu Đô la năm 2006) cho việc thiết kế, chế tạo và thử nghiệm hai chiếc nguyên mẫu Kiểu Model 464-35. Các hiệu chỉnh khác tính năng yêu cầu trong năm 1948 đưa đến kết quả là một chiếc máy bay có tốc độ tối đa 825 km/h (445 knot, 513 mph) ở 10.670 m (35.000 ft), tầm bay 11.125 km (6.005 hải lý, 6.909 dặm), và trọng lượng 127.000 kg (280.000 lb) bao gồm 10.000 lb bom và 75.225 L (19.875 US gal) nhiên liệu.[2



    Bước vào kỹ nguyên phản lực



    Việc áp dụng động cơ phản lực có hiệu quả nhiên liệu tốt hơn cho phép Boeing phát triển thêm một phiên bản nữa vào tháng 7 năm 1948, Kiểu 464-40 thay động cơ turbo cánh quạt bằng động cơ turbo phản lực Westinghouse J40. Tuy nhiên, vào ngày 21 tháng 10 năm 1948, Boeing được yêu cầu chế tạo một kiểu máy bay hoàn toàn mới trang bị động cơ phản lực Pratt & Whitney J57. Đáng chú ý là vào ngày 25 tháng 10, các kỹ sư Boeing đưa ra đề nghị và một mô hình bằng tay thu nhỏ của kiểu 464-49. Thiết kế mới được xây dựng dựa trên kiểu sắp đặt của chiếc B-47 Stratojet với cánh chéo 35°, tám động cơ xếp thành bốn cặp gắn dưới cánh, bốn bộ bánh đáp 2-bánh kèm thêm bánh đỡ ngoài đầu mút cánh. Chiếc máy bay được dự định vượt qua mọi tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra. Mặc dù việc khảo sát mô hình kích thước thật vào tháng 4 năm 1949 tỏ ra thuận lợi, vẫn còn sự quan ngại về tầm bay xa vì cả hai kiểu động cơ J40 và J57 đời đầu đều tiêu thụ nhiều nhiên liệu. Cho dù có những bàn luận về những sửa đổi trong tiêu chuẩn kỹ thuật, hay mở một gói thầu cho một thiết kế hoàn toàn mới, tướng LeMay, lúc này phụ trách Bộ Chỉ huy Không quân Chiến lược, nhấn mạnh rằng tính năng bay không thể thỏa hiệp vì sự chậm trễ trong việc phát triển động cơ. Trong những cố gắng cuối cùng để gia tăng tầm bay xa, Boeing tạo ra kiểu 464-67 to hơn, tuyên bố rằng khi được sản xuất, tầm bay có thể gia tăng hơn nữa nhờ những cải tiến sau đó. Sau nhiều cuộc can thiệp trực tiếp bởi LeMay, ngày 14 tháng 2 năm 1951, Boeing giành được hợp đồng chế tạo 13 chiếc B-52A và 17 cụm trinh sát hình ảnh tháo rời được. Không lâu sau lại có thêm hợp đồng mua bốn chiếc B-52 và 43 chiếc phiên bản trinh sát RB-52. Thay đổi chủ yếu cuối cùng trong thiết kế, cũng do những yêu cầu của tướng LeMay, là thay đổi từ kiểu buồng lái ngồi theo hàng (trước-sau) kiểu B-47 thành kiểu ngang hàng cạnh nhau thông dụng hơn, sẽ làm cho công việc của phi công phụ hiệu quả hơn và giảm sự mệt mỏi của đội bay.

    Chiếc YB-52 (thực chất là chiếc XB-52 thứ hai với nhiều trang thiết bị hoạt động) cất cánh lần đầu ngày 15 tháng 4 năm 1952. Chuyến bay diễn ra bình yên. Chiếc XB-52 tiếp theo vào ngày 2 tháng 10 năm 1952. Công việc thử nghiệm và phát triển, bao gồm 670 ngày thử nghiệm trong hầm gió và 130 ngày thử nghiệm tính khí động học và độ chịu đựng diễn ra suôn sẽ. Bị thuyết phục, Không quân gia tăng số lượng đặt hàng lên 282 chiếc B-52.

    Chiếc được sản xuất đầu tiên B-52A khác những chiếc nguyên mẫu có mũi máy bay kéo dài thêm 53 cm (21 in) để chứa thêm các thiết bị điện tử, một tháp súng đuôi với bốn súng máy 12.7 mm (0.50 in), và một hệ thống phun nước vào buồng đốt để tăng công suất động cơ với thùng chứa 1.363 L (360 US gal) nước trong thân sau. Nó cũng được gắn ở mỗi bên chót cánh một thùng nhiên liệu bổ sung 3.785 L (1.000 US gal). Những thùng này có tác dụng làm đầm cánh chống rung động và cũng để giữ chót cánh thấp cho dễ bảo trì. Trong buổi lễ ra mắt chiếc sản xuất đầu tiên ngày 18 tháng 3 năm 1954, tướng Twining đã nói "...súng trường là vũ khí vĩ đại vào thời của nó ... Hôm nay chiếc B-52 này là súng trường của thời đại hàng không."

    Tên chính thức Stratofortress (Pháo đài chiến lược) ít khi được dùng, trong khi đội bay và nhân viên có liên quan hay gọi nó là BUFF (Big Ugly Fat ****er: tên xấu xí mập mạp ngu ngốc).


    Lịch sử hoạt động


    Mặc dù B-52A là phiên bản được sản xuất đầu tiên, nó chỉ được dùng trong thử nghiệm. Phiên bản hoạt động đầu tiên là kiểu B-52B vốn được phát triển song song với kiểu nguyên mẫu từ năm 1951, bay lần đầu tiên vào tháng 12-1954. Chiếc B-52B ký hiệu 52-8711 được đưa vào sử dụng tại Phi Đội Ném bom Hạng nặng 93 tại Căn cứ không quân Castle, California ngày 29 tháng 6-1955. Phi đội sẵn sàng hoạt động vào ngày 12 tháng 3 năm 1956. Việc huấn luyện đội bay B-52 bao gồm năm tuần lớp học trên mặt đất và bốn tuần bay, tích lũy 35-50 giờ bay. Chiếc B-52B mới thay thế cho những chiếc B-36 đang hoạt động theo kiểu một-đổi-một.

    Những hoạt động đầu tiên gặp khó khăn do thiếu phụ tùng cũng như phương tiện phục vụ trên mặt đất, trong khi đường băng và đường chạy bị hư hỏng vì trọng lượng của máy bay. Hệ thống dẫn nhiên liệu thường hay rò rỉ hay đóng băng, máy tính điều khiển ném bom và vũ khí kém tin cậy. Buồng lái gồm hai tầng nảy sinh một vấn đề độc đáo: tầng trên buồng lái dành cho phi công bị đốt nóng bởi ánh nắng mặt trời, trong khi hoa tiêu và sĩ quan radar ngồi ở tầng dưới lạnh lẽo. Do đó, điều chỉnh nhiệt độ cho vừa một ai đó sẽ làm người kia quá nóng nực hay bị lạnh cóng. Động cơ J57 còn mới và chưa được bền. Sự cố hỏng máy phát điện đã gây ra vụ rớt máy bay chết người B-52 đầu tiên vào tháng 2 năm 1956, khiến loại máy bay này phải ngừng bay một thời gian ngắn. Sau đó B-52 còn bị ngưng bay vào tháng 7 vì những sự cố về hệ thống nhiên liệu và thủy lực. Để tránh những vấn đề về bảo trì, Không quân đã thành lập những nhóm Sky Speed hợp đồng thầu bảo trì tại mỗi căn cứ B-52. Ngoài việc bảo trì, những nhóm này thực hiện việc kiểm tra định kỳ tốn mất một tuần lễ cho mỗi máy bay.
    Ngày 21 tháng 5 năm 1956, một chiếc B-52B (số hiệu 52-0013) đã ném thử nghiệm trái bom khinh khí (một trái Mk trên đảo san hô Bikini.[8] Trong các ngày 24 và 25 tháng 11 năm 1956, bốn chiếc B-52B thuộc Không đoàn Ném bom 93 và bốn chiếc B-52C thuộc Không đoàn Ném bom 42 đã bay không nghỉ vòng quanh chu vi lục địa Bắc Mỹ trong Chiến dịch Quick Kick, trãi qua 15.530 dặm (13.500 hải lý, 25.000 km) trong 31 giờ 30 phút. Không quân Chiến lược lưu ý rằng thời gian bay còn có thể rút ngắn thêm 5-6 giờ nếu như bốn lần tiếp nhiên liệu trong khi bay được thực hiện bằng những máy bay tiếp dầu phản lực thay cho những chiếc KC-97 Stratotanker động cơ cánh quạt. Để biểu diễn khả năng vươn tới toàn cầu của chiếc B-52, từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 1 năm 1957, ba chiếc B-52B thực hiện chuyến bay không nghỉ vòng quanh thế giới trong Chiến dịch Power Flite, trãi qua 24.325 dặm (21.145 hải lý, 39.165 km) trong 45 giờ 19 phút với nhiều lần tiếp nhiên liệu trên không bởi máy bay KC-97. Không đoàn Ném bom 93 nhận được Giải thưởng Mackay do thành tích này.

    Chiếc B-52 lập thêm nhiều kỷ lục trong vài năm sau đó. Vào ngày 26 tháng 9 năm 1958, một chiếc B-52D lập kỷ lục thế giới về tốc độ 560,705 mph (487 knot, 902 km/h) trên một quãng đường bay vòng tròn khép kín dài 10.000 km (5.400 hải lý, 6.210 dặm) không mang tải trọng. Cùng ngày hôm đó, một chiếc B-52D khác lập kỷ lục thế giới về tốc độ 597,675 mph (519 knot, 962 km/h) trên một quãng đường bay vòng tròn khép kín dài 5.000 km (2.700 hải lý, 3.105 dặm) không mang tải trọng.[9] Vào ngày 14 tháng 12 năm 1960, một chiếc B-52G lập kỷ lục thế giới bay không tiếp thêm nhiên liệu một quãng đường 10.078,84 dặm (8.762 hải lý, 16.227 km). Chuyến bay kéo dài 19 giờ 44 phút. Vào ngày 10 đến ngày 11 tháng 1 năm 1962, một chiếc B-52H lập kỷ lục thế giới khi bay không tiếp thêm nhiên liệu từ Căn cứ Không quân Kadena, Okinawa, Nhật Bản, đến Căn cứ Không quân Torrejon, Tây Ban Nha, trãi qua 12.532,28 dặm (10.895 hải lý, 20.177 km).

    Vào thời gian này, Bộ chỉ huy Không quân Chiến lược có lực lượng cao điểm nhất vào năm 1963, 650 chiếc B-52 hoạt động trong 42 phi đội và tại 38 căn cứ.


    Chiến tranh Việt Nam _ B-52 trong Chiến tranh Việt Nam


    Khi tình hình xung đột tại Đông Nam Á leo thang, tháng 6 năm 1964, 28 chiếc B-52F được gắn thêm đế bên ngoài có khả năng mang 24 bom 340 kg (750 lb) trong kế hoạch South Bay. Sau đó thêm 46 máy bay nữa được cải tiến tương tự trong kế hoạch Sun Bath. Tháng 5 năm 1965, Hoa Kỳ đưa ra Chiến dịch Rolling Thunder (sấm rền), và phi vụ chiến đấu đầu tiên của Chiến dịch Arc Light (đuốc sáng) do B-52F thực hiện ngày 18 tháng 6 năm 1965, khi 30 chiếc máy bay ném bom thuộc các phi đội ném bom 9 và 441 tấn công các vị trí đối phương tại Bến Cát, Bình Dương. Đợt máy bay ném bom đầu tiên đến điểm hẹn quá sớm, và trong khi cơ động để giữ nguyên đội hình, hai chiếc B-52 bị va chạm, làm tổn thất hai máy bay và tám nhân viên phi hành. Những chiếc còn lại, ngoại trừ một chiếc phải quay lại căn cứ xuất phát vì trục trặc kỹ thuật, tiếp tục bay đến mục tiêu và thực hiện ném bom.

    Đến tháng 12 năm 1965, trong kế hoạch Big Belly, một số máy bay B-52D được cải tiến để tăng tải trọng bom cho nhiệm vụ ném bom rải thảm. Trong khi lượng bom mang bên ngoài không thay đổi là 24 trái 227 kg (500 lb) hoặc 340 kg (750 lb), lượng bom mang được ở khoang trong thân tăng lên đến 84 bom 500 lb hoặc 42 bom 750 lb. Các cải tiến của kế hoạch Belly đã tạo ra tải trọng bom lên đến 27.215 kg (60.000 lb) với 108 quả. Sau khi cải tiến, B-52D có thể chở nhiều hơn 9.980 kg (22.000 lb) so với B-52E. Thay thế cho B-52F, những chiếc B-52D cải tiến bắt đầu hoạt động từ tháng 4 năm 1966 cất cánh từ đảo Guam. Đến mùa Xuân năm 1967, nó bắt đầu hoạt động từ căn cứ không quân Utapao tại Thái Lan nhờ có ưu thế không phải tiếp thêm nhiên liệu trong khi bay. Ngày 15 tháng 4 năm 1968, một Đơn vị Huấn luyện Thay thế được thành lập tại căn cứ không quân Castle, nhằm chuyển loại các đội bay từ B-52E đến B-52H sang B-52D, cho phép họ tham gia chiến sự tại Đông Nam Á. Cao điểm của các cuộc tấn công của B-52 tại Việt Nam là trong Chiến dịch Linebacker II bao gồm nhiều đợt B-52 (đa số là kiểu D, nhưng cũng có một số kiểu G có tải trọng bom nhỏ hơn và không có thiết bị gây nhiễu) ném bom vào Hà Nội.

    Số liệu thiệt hại do hai phía đưa ra có chênh lệch đáng kể. Theo phía Mỹ: Ba mươi mốt chiếc B-52 bị mất tại Việt Nam. Trong đó, 18 bị bắn rơi hoặc hư hại đến mức không sửa chữa được, kể cả do tên lửa đất đối không. Hai chiếc B-52F mất do va chạm trên không trong chiến dịch Arc Light đầu tiên. Bảy chiếc B-52G bị mất trong chiến dịch Linebacker II, sáu chiếc do tên lửa SAM và một chiếc do lỗi kỹ thuật. Các xạ thủ súng đuôi trên những chiếc B-52D bắn hạ được hai máy bay MiG-21 "Fishbeds"; một chiếc vào ngày 18 tháng 12 năm 1972 bởi trung sĩ Samuel O. Turner, và một chiếc vào ngày 24 tháng 12 năm 1972, bởi binh nhất Albert E. Moore. Turner được trao tặng huy chương Ngôi sao Bạc cho chiến công này. Còn theo nguồn tin của phía Việt nam, riêng trong chiến dịch Linebacker II, số máy bay B52 mất là 34. Những kẽ hở rất mờ nhạt trong hệ thống phòng thủ của B52 đã bị lực lượng phòng không của Việt Nam khai thác rất triệt để, ngược lại, việc triển khai ồ ạt B52 trong khoảng thời gian ngắn không cho phép khắc phục những điểm yếu, dẫn đến hiệu quả tiêu diệt mục tiêu rất cao của tên lửa đất đối không.

    Đây là thất bại nặng nề và duy nhất của loại máy bay này trên chiến trường, dẫn đến việc thay đổi hoàn toàn chiến lược sử dụng B52 trong các giai đoạn sau.



    Chiến tranh Lạnh


    Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, B-52 thực hiện các nhiệm vụ tuần tra cảnh giác trên không dưới các tên mã như Head Start, Chrome Dome, Hard Head, Round Robin, và Giant Lance. Những chiếc máy bay ném bom bay quanh quẩn tại các điểm bên ngoài lãnh thổ Liên Xô để sẵn sàng nhanh chóng tung ra đòn tấn công trước hoặc duy trì khả năng trả đủa trong một cuộc chiến tranh hạt nhân.

    Ngày 17 tháng 1 năm 1966, xảy ra sự cố bom hạt nhân Palomares khi một chiếc B-52G **ng phải một chiếc KC-135 Stratotanker bên trên vùng trời Palomares, Tây Ban Nha. Bốn trái bom hạt nhân cỡ megaton bị rơi xuống biển (cả bốn sau này đều được tìm thấy). Hai trong số bốn trái bom bị vỡ một phần do một vụ nổ nhỏ, gây phát tán nghiêm trọng các chất liệu phóng xạ plutonium và uranium. May mắn là các chốt an toàn đã giữ không gây ra vụ nổ dây chuyền hạt nhân, nếu không đã là một thảm họa hạt nhân thật sự. Sau sự cố, 1.400 tấn đất bị nhiễm phóng xạ được gửi sang Hoa Kỳ. Vụ tai nạn và việc nhiễm phóng xạ tỏ ra vô cùng tốn kém đến nỗi phải chấm dứt chương trình tuần tra cảnh giác trên không. Năm 2006 một thỏa thuận đã đạt được giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha trong việc điều tra và xử lý ô nhiễm sau tai nạn.

    Ngày 22 tháng 1 năm 1968, một chiếc máy bay B-52G khác đang chở bốn trái bom hạt nhân bị rơi trên tuyết tại vịnh North Star trong khi đang cố gắng hạ cánh khẩn cấp xuống Căn cứ không quân Thule, Greenland. Đám cháy sau đó cũng gây nhiễm xạ lan rộng mà việc xử lý kéo dài cho đến tận tháng 9 năm đó.

    Trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur vào tháng 10 năm 1973, phía Liên Xô đã đe dọa sẽ can thiệp nhân danh Ai Cập và Syria. Để ngăn chặn, Tổng thống Richard M. Nixon đã ra lệnh nâng tình trạng báo động quân sự lên mức DEFCON 3. Bộ trưởng quốc phòng Melvin Laird đã ra lệnh cho máy bay B-52 sẵn sàng tham chiến. Những chiếc máy bay B-52 mang đủ vũ khí và được đổ đầy nhiên liệu đã bay quanh Greenland. Liên Xô đã không can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh này.

    Những chiếc B-52B kết thúc tuổi thọ cấu trúc thân máy bay vào giữa những năm 1960 và tất cả được cho nghỉ hưu vào tháng 6 năm 1966, sau đó đến lượt những chiếc B-52C vào ngày 29 tháng 9 năm 1971; ngoại trừ chiếc thử nghiệm của NASA B-52B "008" mà sau này nghỉ hưu năm 2004. Một chiếc phiên bản B còn lại, chiếc "005", được trưng bày tại Bảo tàng Hàng không và Không gian Wings Over the Rockies tại Denver, Colorado.

    Một vài chiếc phiên bản E hết hạn sử dụng được cho nghỉ hưu trong những năm 1967 và 1968, nhưng đa số (82) được nghỉ hưu từ tháng 5-1969 đến tháng 3-1970. Đa số phiên bản F cũng được cho nghỉ hưu giữa năm 1967 và năm 1973, nhưng có 23 chiếc tiếp tục hoạt động như máy bay huấn luyện cho đến năm 1978. Đội bay phiên bản D phục vụ được lâu hơn. 80 chiếc phiên bản D được nâng cấp trong chương trình Pacer Plank (ECP 1581) tại xưởng Wichita của Boeing. Vỏ bọc phần dưới cánh và thân được thay mới, cũng như nhiều thành phần cấu trúc khác. Công việc hoàn tất năm 1977 với phí tổn 219 triệu Đô la. Đội bay D tồn tại đến năm 1978, khi 37 chiếc được nghỉ hưu, và số còn lại cũng được nghỉ hưu giữa các năm 1982 và 1983.

    Những chiếc phiên bản G và H còn lại được sử dụng cho nhiệm vụ sẵn sàng ("cảnh giác") hạt nhân như là một trong ba thế chân vạc hạt nhân của Hoa Kỳ. Chiến lược này bao gồm tên lửa liên lục địa phóng từ mặt đất, tên lửa phóng từ tàu ngầm và máy bay ném bom. Chiếc B-1B Lancer vốn được dự định để thay thế B-52, chỉ thay thế những phiên bản cũ và thay cho kiểu máy bay ném bom siêu âm FB-111. Sau khi Liên Xô tan rã, những chiếc B-52G được phá hủy theo những điều khoản của Hiệp ước Cắt giảm vũ khí chiến lược (START). Theo đó có 365 chiếc máy bay B-52 sẽ bị phá hủy, và tiến trình này được phía Nga giám sát trực tiếp hay thông qua hình ảnh vệ tinh. Ngày nay chỉ còn phiên bản H hoạt động. B-52 đã chấm dứt việc tuần tra liên tục 24-giờ vào năm 1991.



    Chiến tranh Vùng Vịnh và sau đó



    Năm 1991 những chiếc B-52G xuất phát từ những căn cứ tại Anh Quốc và tại đảo Diego Garcia đã bay những phi vụ ném bom tầm thấp cho đến khi các lực lượng Liên quân chiếm được ưu thế trên không hoàn toàn và có khả năng khống chế mọi hệ thống phòng không có thể bắn tới các máy bay ném bom tầm cao. B-52 có vai trò quan trọng trong quá trình chiến dịch Bảo táp Sa mạc (Desert Storm) vì chúng có thể được sử dụng mà tránh khỏi bị trừng phạt. Mặc dù tính phá hủy không cao so với các vũ khí hiệnn đại hơn như bom chùm hay đầu đạn dẫn đường chính xác, các kiểu tấn công thông thường được dùng vì chúng kinh tế; và vì được hy vọng sẽ làm mất tinh thần các lực lượng Iraq phòng thủ, thuyết phục họ đầu hàng hơn là bị tiêu diệt. Trong chiến tranh Vùng Vịnh B-52 chỉ bị thiệt hại một chiếc bị rơi, và nhiều chiếc khác bị hư hại nhẹ do các hoạt động đối phương.

    Vào năm 1991 một chuyến bay B-52G xuất phát và kết thúc từ Căn cứ Không quân Barksdale, Louisiana, để tấn công mục tiêu tại Iraq. Đây là phi vụ chiến đấu dài nhất từng được thực hiện trong lịch sử vào lúc đó: Chuyến bay kéo dài 35 giờ và trãi qua 14.000 dặm. Đến ngày 2 và 3 tháng 9 năm 1996, hai chiếc B-52H đã tấn công các mục tiêu tại Iraq với 13 tên lửa hành trình mang đầu đạn thông thường trong một phần của Chiến dịch Tấn công Sa mạc, một phi vụ kéo dài 34 giờ, trãi qua 16.000 dặm từ Căn cứ Không quân Andersen, tại Guam. Chuyến bay này là một phi vụ chiến đấu dài nhất từng được thực hiện trong lịch sử. Chỉ hai ngày trước đó, đội bay đã hoàn tất chuyến bay kéo dài 17 giờ từ Louisiana đến Guam.

    B-52 cũng góp phần vào chiến thắng của lực lượng Mỹ trong Chiến dịch Thực thi Tự do (Enduring Freedom) tại Afghanistan năm 2001, nhờ khả năng bay lâu bên trên chiến trường và hỗ trợ tấn công mặt đất qua việc sử dụng các vũ khí dẫn đường chính xác, một nhiệm vụ trước đây chỉ được giao cho máy bay tiêm kích và máy bay cường kích. B-52 cũng giữ vai trò chủ chốt trong Chiến dịch Iraq Tự do (Iraqi Freedom) năm 2003, khi nó hỗ trợ mặt đất và ném bom.


    Các cải tiến trong phục vụ


    Một chiếc B-52H Stratofortress cất cánh từ Căn cứ Không quân Andersen, Guam.Tháng 11 năm 1959, Bộ chỉ huy Không quân Chiến lược khởi sự chương trình cải tiến Big Four (còn được biết đến dưới tên Modification 1000) cho mọi chiếc B-52 đang hoạt động trừ những phiên bản B đời đầu. Bốn cải tiến đưa ra là:

    1 - Có khả năng hoạt động can thiệp trong mọi thời tiết ở độ cao thấp (dưới 500 ft/150 m) như là đáp ứng lại những sự tiến bộ về tên lửa phòng thủ của Liên Xô. Những phi vụ bay tầm thấp được ước tính gia tốc sự hư hại khung máy bay ít nhất theo hệ số tám lần, đòi hỏi những chi phí sửa chữa tốn kém để kéo dài thời gian hoạt động.
    2 - Có khả năng phóng tên lửa AGM-28 Hound Dog đầu đạn hạt nhân
    3 - Có khả năng phóng pháo sáng ADM-20 Quail
    4 - Một bộ phản công điện tử (ECM) tiên tiến

    Chương trình được hoàn tất vào năm 1963 với chi phí tổng cộng 265 triệu Đô la Mỹ.

    Khả năng có thể mang cho đến 20 tên lửa AGM-69 SRAM đầu đạn hạt nhân được bổ sung cho các phiên bản G và H vào năm 1971 với chi phí tổng cộng 400 triệu Đô la Mỹ.

    Sự rò rỉ nhiên liệu do hỏng hóc đai siết Marman (Marman clamp) tiếp tục ảnh hưởng đến tất cả các phiên bản của B-52. Nhằm mục đích này, chiếc máy bay trãi qua các chương trình Blue Band (1957), Hard Shell (1958), và cuối cùng QuickClip (1958). Chương trình cuối gắn những đai an toàn nhằm ngăn ngừa sự mất nhiên liệu tai hại trong trường hợp hỏng đai.

    Những vấn đề tiếp tục với hệ thống điện tử tiên tiến được xử lý trong chương trình Jolly Well, hoàn tất năm 1964, đã cải tiến những thành phần của máy tính dẫn đường ném bom AN/ASQ-38 và máy tính theo dõi địa hình. Nâng cấp MADREC (phát hiện và ghi nhận hỏng hóc) được trang bị cho hầu hết máy bay vào năm 1965 có thể phát hiện các hỏng hóc trong hệ thống máy tính hành trình và vũ khí, và cần thiết để theo dõi tên lửa Hound Dog. Khả năng phản công điện tử của B-52 được tăng cường bởi các chương trình Rivet Rambler (1971) và Rivet Ace (1973).

    Hiện tượng giảm sức chịu đựng kim loại, bị làm trầm trọng hơn do thay đổi nhiệm vụ hoạt động ở tầm thấp, được xử lý lần đầu tiên vào những năm 1960 bởi chương trình High Stress gồm ba giai đoạn thu nạp những máy bay có 2.000 giờ bay. Nó được tiếp nối bởi một chương trình kéo dài tuổi thọ phục vụ 2.000 giờ cho một số khung máy bay chọn lọc trong giai đoạn 1966 - 1968, và chương trình Pacer Plank bọc lại vỏ máy bay rộng rãi hoàn tất vào năm 1977.Kiểu cánh ướt dùng trên phiên bản G và H càng dễ bị ảnh hưởng hơn nữa đối với hiện tượng giảm sức chịu đựng kim loại do phải chịu 60% nhiều áp lực hơn khi bay hơn kiểu cánh cũ. Cánh được cải tiến vào năm 1964 trong chương trình ECP 1050 với chi phí 219 triệu Đô la Mỹ. Nó được tiếp nối bởi việc thay thế lớp vỏ phủ thân và thay khung (ECP 1185) chi phí 50 triệu Đô la Mỹ vào năm 1966, và chương trình Gia tăng ổn định và Kiểm soát bay B-52 (ECP 1195) chi phí 69 triệu Đô la Mỹ vào năm 1967.


    Nền tảng thử nghiệm nhiên liệu thay thế


    Vào tháng 9 năm 2006, B-52 trở thành một trong những máy bay quân sự Hoa Kỳ đầu tiên sử dụng một loại nhiên liệu ‘thay thế’. Syntroleum, một hãng dẫn đầu về kỹ thuật Fischer-Tropsch (FT), công bố rằng loại nhiên liệu phản lực Ultra-Clean của họ đã được thử nghiệm thành công trên một chiếc B-52. Nó cất cánh từ Căn cứ Không quân Edwards với một hổn hợp gồm phân nữa FT và phân nữa nhiên liệu phản lực thông thường JP-8 được đốt trên hai trong số tám động cơ của chiếc máy bay. Việc này đã đánh dấu lần đầu tiên loại nhiên liệu phản lực FT được thử nghiệm trên một chuyến bay quân sự biểu diễn, và là chuyến bay đầu tiên trong một loạt các chuyến bay thử nghiệm được vạch kế hoạch.

    Vào ngày 15 tháng 12 năm 2006, máy bay Wise Guy số hiệu 61-0034 cất cánh từ Căn cứ Edwards với hổn hợp nhiên liệu tổng hợp được dùng cho tất cả tám động cơ, lần đầu tiên mà một máy bay của Không quân hoàn toàn bay bằng hổn hợp này. Chuyến bay thử nghiệm được điều khiển bởi Đại tướng Curtis Bedke, chỉ huy trưởng Trung tâm Bay thử nghiệm Edwards, lần đầu tiên trong vòng 36 năm mà chỉ huy của cơ sở thực hiện chuyến bay đầu tiên của một chương trình bay thử nghiệm. Chuyến bay kéo dài bảy giờ và đạt đến độ cao 48.000 ft, và được xem là một thành công.

    Vào ngày 8 tháng 8 năm Hàng không năm 2007, người đứng đầu Bộ Không quân Hoa Kỳ là Michael Wynne chứng nhận rằng kiểu máy bay B-52H hoàn toàn được chấp nhận để sử dụng hổn hợp FT, đánh dấu việc kết luận chính thức của chương trình thử nghiệm.

    Chương trình này là một phần của Sáng kiến Đảm bảo Nhiên liệu Bộ Quốc phòng Mỹ, một nỗ lực nhằm đạt được các nguồn trong nước cho các nhu cầu về năng lượng cho quân sự. Lầu Năm Góc hy vọng giảm thiểu được việc sử dụng dầu thô từ các nhà sản xuất nước ngoài và sẽ đạt được khoảng phân nữa nhiên liệu máy bay từ các nguồn thay thế vào năm 2016. Với chiếc B-52 giờ đây được chấp nhận để sử dụng hổn hợp FT, Không quân Mỹ sẽ dùng các quy trình thử nghiệm được phát triển trong chương trình để chứng nhận chiếc C-17 Globemaster III rồi sau đó là chiếc B-1B để sử dụng loại nhiên liệu này. Không quân dự định thử nghiện và chứng nhận mỗi loại máy bay đang có của họ để sử dụng loại nhiên liệu này vào năm 2011.


    Tương lai của B-52


    Không quân Hoa Kỳ dự định giữ lại những chiếc B-52 trong phục vụ cho đến ít nhất là năm 2040, một khoảng thời gian hoạt động dài chưa từng có trong lịch sử đối với một máy bay quân sự. Đây là một điều đặc biệt đáng kể khi biết rằng chiếc B-52 cuối cùng được chế tạo là vào năm 1962. Những chiếc B-52 được định kỳ tân trang tại các kho bảo trì của Không quân Hoa Kỳ như tại Căn cứ Không quân Tinker, Oklahoma. Do đó, cho dù có tuổi thời gian cao, tuổi phục vụ hiệu quả của chúng khá “trẻ”.

    Không quân Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng chiếc B-52 vì nó vẫn là kiểu máy bay ném bom hạng nặng có hiệu quả kinh tế, đặc biệt là cho kiểu những xung đột xảy ra sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh chống lại những nước có khả năng phòng không hạn chế. Khả năng của chiếc B-52 có thể bay lâu trên chiến trường để ném các loại bom thông minh và đầu đạn bắn trực tiếp có giá trị rất lớn trong những cuộc xung đột, như trong Chiến dịch Thực thi Tự Do tại Afghanistan. Tốc độ và khả năng tàng hình của những chiếc B-1 Lancer và B-2 Spirit chỉ thực sự hữu ích cho đến khi hệ thống phòng không đối phương bị tiêu diệt, một nhiệm vụ thường đạt được một cánh nhanh chóng trong các cuộc xung đột gần đây. Chiếc B-52 cũng đạt được tỉ lệ thời gian sẵn sàng chiến đấu cao nhất trong số ba kiểu máy bay ném bom hạng nặng đang được Không quân Hoa Kỳ sử dụng. Trong khi chiếc B-1 đạt được tỉ lệ thời gian trung bình là 53% và chiếc B-2 đạt được 26%, chiếc B-52 đạt trung bình đến 80%.

    Boeing đã đề nghị tái trang bị đội máy bay B-52H với kiểu động cơ mới Rolls-Royce RB211 534E-4, theo đó tám động cơ Pratt & Whitney TF33 (lực đẩy tổng cộng 8 × 17.000 lbf hoặc 75,6 kN) sẽ được thay thế bằng bốn động cơ RB211 (lực đẩy tổng cộng 4 × 37.400 lbf hoặc 166,4 kN). Các động cơ Rolls-Royce sẽ giúp nâng tầm bay và tải trọng của đội máy bay đồng thời giảm lượng nhiên liệu tiêu thụ. Tuy nhiên, chi phí của dự án sẽ rất đáng kể. Sẽ phải chi phí khoảng 2,56 tỉ Đô la Mỹ (36 triệu × 71 máy bay). Một nghiên cứu của Văn phòng Tổng kiểm toán Quốc gia về đề xuất này kết luận rằng các khoảng tiết kiệm do Boeing ước tính trị giá 4,7 tỉ Đô la Mỹ là không thực tế. Ho khám phá ra rằng Không quân sẽ phải chi phí 1,3 tỉ Đô la Mỹ để duy trì các động cơ hiện tại. Điều này đã đưa đến những tranh luận sau đó trong một báo cáo của Ủy ban Khoa học Quốc phòng năm 2003 và được sửa đổi năm 2004 tìm thấy nhiều sai lầm trong sự đánh giá trước đây đối với đề nghị của Boeing, và thúc đẩy Không quân nên thay đổi động cơ không nên trì hoãn. Hơn nữa, báo cáo của Ủy ban nhấn mạnh rằng chương trình sẽ giúp tiết kiệm ngân quỹ đáng kể, giảm thải khí gây hiệu ứng nhà kính, gia tăng tầm bay của và sức chịu đựng của chiếc máy bay, lặp lại những kết luận của một chương trình nghiên cứu chính thức từ ngân quỹ của Quốc hội Mỹ trị giá 3 triệu Đô la Mỹ thực hiện vào năm 2003.



    Các phiên bản


    B-52A
    Phiên bản sản xuất đầu tiên, có ba chiếc được chế tạo, tất cả đều được cho Boeing mượn để bay thử nghiệm.



    NB-52A
    Chiếc B-52A cuối cùng (số hiệu 52-0003) được cải tiến vào năm 1959 để mang được một chiếc North American X-15 với chi phí là 2 triệu Đô la Mỹ. Một đế được gắn thêm bên dưới cánh phải giữa thân máy bay và cặp động cơ phía trong, và một phần của cánh nắp kích thước 1,8 x 2,4 m (6 x 8 ft ) được tháo bỏ khỏi cánh phải dành chỗ cho đuôi của chiếc X-15. Các thùng chứa oxygen lỏng được gắn trong khoang bom để nạp nhiên liệu cho chiếc X-15 trước khi cất cánh. Chuyến bay đầu tiên của chiếc X-15 được thực hiện vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, và chiếc NB-52A đã mang chiếc X-15 tổng cộng 59 lần trong tổng số 199 chuyến bay của chương trình thử nghiệm này.



    B-52B
    Phiên bản có động cơ và thiết bị điện tử được nâng cấp. Trong số 50 chiếc được chế tạo, 27 chiếc có khả năng mang một cụm trinh sát hình ảnh thành phiên bản RB-52B (đội bay được tăng lên tám thành viên trên những máy bay này). Bảy chiếc B-52B được nâng cấp lên tiêu chuẩn B-52C trong Kế hoạch Sunflower.



    RB-52B
    Máy bay ném bom B-52B có khả năng mang một cụm trinh sát hình ảnh. Cụm cân nặng 300 lb (136 kg) này chứa các bộ thu sóng radio, phối hợp các máy ảnh K-36, K-38 vàT-11, và do hai thành viện đội bay điều khiển ngồi trên những ghế phóng hướng xuống dưới. Chỉ mất bốn giờ để gắn cụm này.



    NB-52B
    Chiếc B-52B số hiệu 52-0008 được cải biến thành nền tảng để phóng chiếc X-15 với chi phí là 2 triệu Đô la Mỹ. Sau đó nó bay như là chiếc "Balls 8" nổi tiếng hỗ trợ các nghiên cứu của NASA cho đến ngày 17 tháng 12 năm 2004, trở thành chiếc B-52B được bay cũ nhất. Nó được thay thế bởi một chiếc B-52H cải biến.



    B-52C
    Phiên bản có tải trọng chung gia tăng thêm 13.605 kg (30.000 lb), gia tăng trữ lượng nhiên liệu, thùng nhiên liệu dưới cánh lớn hơn, sơn màu trắng chống lóe. Được đưa vào hoạt động từ tháng 6 năm 1956, có 35 chiếc được chế tạo.



    RB-52C
    Mọi chiếc thuộc phiên bản B-52C đều có thể cải biến cho nhiệm vụ trinh sát theo cách tương tự như kiểu RB-52B.



    B-52D
    Máy bay ném bom tầm xa chuyên dụng không có khả năng trinh sát, được cải biến để mang được tải trọng bom thông thường nặng hơn dùng để ném bom rải thảm tại Việt Nam. Mặt dưới máy bay được sơn đen để chống lại đèn pha tìm kiếm. Được đưa vào hoạt động từ tháng 12 năm 1956, có 170 chiếc được chế tạo.



    B-52E
    Phiên bản được nâng cấp thiết bị điện tử và hệ thống dẫn đường ném bom, được đưa vào hoạt động từ tháng 12 năm 1957, có 100 chiếc được chế tạo.



    NB-52E
    Một chiếc (số hiệu 56-0632) được cải biến thành máy bay thử nghiệm cho nhiều hệ thống khác nhau của B-52 với chi phí 6,02 triệu đô la Mỹ. Chiếc máy bay được trang bị cánh mũi và một hệ thống LAMS (Load Alleviation and Mode Stabilization) giúp làm giảm nhẹ hiện tượng giảm sức chịu đựng kim loại của khung máy bay do gió xoáy khi bay tầm thấp. Trong một thử nghiệm, chiếc máy bay đạt được tốc độ 18,5 km/h (10 hải lý mỗi giờ; 11,5 dặm mỗi giờ) nhanh hơn mà không có bất cứ tổn hại nào vì cánh mũi đã loại trừ được 30% rung động đứng và 50% rung động ngang gây ra do gió xoáy.



    B-52F
    Trang bị động cơ J57-P-43W với hệ thống phun nước động cơ dung lượng lớn hơn và máy phát điện mới, đưa vào hoạt động từ tháng 6 năm 1958, có 89 chiếc được chế tạo.



    B-52G
    Phiên bản B-52G được đề nghị để kéo dài vòng đời phục vụ của chiếc B-52 do sự chậm trễ trong chương trình phát triển chiếc B-58 Hustler. Ban đầu, một sự thiết kế lại tận gốc được đưa ra với kiểu cánh hoàn toàn mới và kiểu động cơ Pratt & Whitney J75. Điều này bị bác bỏ để tránh làm chậm trễ việc sản xuất, cho dù một số thay đổi được áp dụng. Thay đổi đáng kể nhất trog số đó là kiểu "cánh ướt" hoàn toàn mới có các thùng nhiên liệu tích hợp bên trong làm gia tăng đáng kể trữ lượng nhiên liệu. Trọng lượng toàn thể chiếc máy bay được tăng thêm 17.235 kg (38.000 lb) so với các phiên bản trước. Thêm vào đó, một cặp thùng nhiên liệu bên ngoài 2.650 L (700 US gal) được lắp dưới cánh. Kiểu cánh tà thông thường trên cánh cũng được thay thế bằng tấm lái ngang để điều khiển việc lộn vòng. Cánh đuôi được cắt ngắn 2,4 m (8 ft), hệ thống phun nước động cơ dung lượng tăng lên 4.540 L (1.200 US gal), và vòm radar mũi được mở rộng. Xạ thủ súng đuôi được trang bị ghế phóng và được bố trí về buồng lái chính. Mô phỏng khái niệm "Trạm chiến đấu" (Battle Station), đội bay tấn công (gồm phi công, phi công phụ, và hai sĩ quan vận hành hệ thống dẫn đường ném bom ở tầng dưới) ngồi hướng ra phía trước, trong khi đội bay phòng thủ (xạ thủ súng và sĩ quan vận hành phản công điện tử) ở tầng trên ngồi hướng ra phía sau. Kiểu B-52G được đưa vào sử dụng từ ngày 13 tháng 2 năm 1959, có 193 chiếc được chế tạo. Hầu hết những chiếc B-52G đã bị phá hủy cho phù hợp với Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược START I năm 1992. Một vài khung máy bay còn được giữ lại và trưng bày tại các bảo tàng hay các căn cứ không quân.


    B-52H
    Có cùng sự thay đổi về đội bay và cấu trúc như phiên bản B-52G. Nâng cấp đáng kể nhất là chuyển sang kiểu động cơ turbo quạt ép TF33-P-3, cho dù có những vấn đề ban đầu về độ tin cậy (được sửa chữa bằng chương trình Hot Fan năm 1964), đã cung cấp tính năng bay tốt hơn đáng kể và hiệu quả hơn về nhiên liệu so với kiểu động cơ turbo phản lực J57. Hệ thống điện tử và hệ thống phản công điện tử (ECM) được cập nhật, một hệ thống kiểm soát hỏa lực mới được trang bị, và vũ khí phòng thủ phía sau được thay đổi từ súng máy sang một khẩu pháo M61 Vulcan 20 mm. Nó có khả năng mang bốn tên lửa đạn đạo AGM-48 Skybolt. Chuyến bay đầu tiên diễn ra vào ngày 10 tháng 7 năm 1960, được đưa vào hoạt động ngày 9 tháng 5 năm 1961, có 102 chiếc được chế tạo. Phiên bản 'H' là kiểu duy nhất còn đang được sử dụng.
    Có tổng cộng 744 chiếc B-52 được chế tạo. Chiếc cuối cùng, một chiếc B-52H số hiệu 61-0040, rời nhà máy vào ngày 26 tháng 10 năm 1962.

    Đặc điểm kỹ thuật (B-52H)
    Tham khảo: Quest for Performance.

    Trích dẫn:
    Đặc tính chung
    Đội bay: 05 người (phi công, phi công phụ, sĩ quan radar/ném bom, hoa tiêu, và sĩ quan chiến tranh điện tử; xạ thủ không còn trong biên chế đội bay.)
    Chiều dài: 48,5 m (159 ft 4 in)
    Sải cánh: 0 m (185 ft 0 in)
    Chiều cao: 12,4 m (40 ft 8 in)
    Diện tích bề mặt cánh: 370 m² (4.000 ft²)
    Kiểu cánh: NACA 63A219.3 mod root, NACA 65A209.5 tip
    Lực nâng của cánh : 150 kg/m² (30 lb/ft²)
    Trọng lượng không tải: 83.250 kg (185.000 lb)
    Trọng lượng có tải: 120.000 kg (265.000 lb)
    Trọng lượng cất cánh tối đa: 220.000 kg (488.000 lb)
    Nhiên liệu dự trữ: 181.725 L (47.975 US gal)
    Động cơ: 8 x động cơ Pratt & Whitney TF33-P-3/103 turbo quạt ép công suất 17.000 lbf (76 kN) mỗi động cơ




    Trích dẫn:
    Đặc tính bay
    Tốc độ lớn nhất: 1.000 km/h (560 knot, 650 mph)
    Bán kính chiến đấu: 7.210 km (3.890 nm, 4.480 mi)
    Tầm bay tối đa: 15.000 km (9.560 nm, 11.000 mi)
    Trần bay: 17.000 m (55.773 ft)
    Tốc độ lên cao: 31,85 m/s (6.270 ft/min)[28]
    Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng : 0.51




    Vũ khí
    1 x pháo M61 Vulcan 20 mm trong tháp pháo đuôi điều khiển từ xa, đã được gỡ bỏ trên tất cả các chiếc đang hoạt động
    Cho đến 27.200 kg (60.000 lb) bom, tên lửa, mìn các loại

    Đó là những thông số kỹ thuật của pháo đài bay mà mỹ đã từng sưe dùng trong chiến tranh Việt Nam, mặc dù B52 hiện đại nhưng quân dân ta đã làm được những điều kỳ diệu.

    nguồn:http://a1club.vnbb.com/viewtopic.php?f=79&t=462
    "Mưu sự tại nhân, hành sự tại nhân". Thiên = trời = mây + không khí = bầu khí quyển. Không thể "mưu sự tại thiên" vì "thiên" vô tri vô giác

  10. #10
    Join Date
    May 2006
    Location
    Hanoi
    Posts
    183
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Rep Power
    111
    Quote Originally Posted by khoi90 View Post

    MiG-21, là loại máy bay tiêm kích thế hệ thứ 3 được Nga viện trợ từng những năm kháng chiến chống Mỹ.Với tốc độ cao, vũ khí mạnh, khả năng bay linh hoạt, MiG-21 từng làm bá chủ bầu trời trong những năm 60-70 của thế kỷ trước. Đến nay MiG-21 của Việt Nam đã đựơc nâng cấp, bảo dưỡng 2 lần. Hiện tại 121 chiếc MiG-21BIS vẫn còn đang trong biên chế của KQNDVN và còn sử dụng được khoảng chục năm nữa.



    MiG-21BIS upgrade năm 2000, nhìn mũi phiên bản này so với mũi của các phiên bản khác là nhận ra ngay, nó nhỏ hơn và có gắn thêm dụng cụ đo vận tốc
    Cẩn thận tí đi, cả nội dung lẫn hình ảnh. Đưa ảnh Su-22 rồi bảo là MiG-21 thì bó tay luôn
    Everything is better with three

Page 1 of 3 123 LastLast

Similar Threads

  1. Sự thật về hải chiến Hoàng Sa 1974
    By csx2002 in forum Thư viện Lịch Sử
    Replies: 36
    Last Post: 02-15-2012, 10:29 AM
  2. Replies: 30
    Last Post: 01-14-2010, 07:53 AM
  3. Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
    By Hanakith in forum Thư viện Lịch Sử
    Replies: 18
    Last Post: 07-04-2009, 08:25 AM
  4. Bách Việt Trong Lòng đại Việt
    By Panzer in forum Bình luận và Cảm nhận
    Replies: 73
    Last Post: 04-20-2009, 07:32 PM
  5. Quân đội TQ tự sướng
    By csx2002 in forum Thư viện Lịch Sử
    Replies: 8
    Last Post: 10-19-2008, 03:13 AM

Tags for this Thread

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •